Chun Ming Wu
Defender
N/A
Câu lạc bộ hiện tại
Hong Kong
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
Bài viết này hiện đang gây tranh cãi về tính trung lập. (tháng 2/2022) |
Bài viết hoặc đoạn này cần được wiki hóa để đáp ứng tiêu chuẩn quy cách định dạng và văn phong của Wikipedia. (cuối tháng 9/2022) |
| Chuyên đề |
| Lịch sử Việt Nam |
|---|
|
|
| Một phần của loạt bài về |
| Văn hóa Việt Nam |
|---|
| Văn học |
| Một phần của loạt bài về |
| Các nền văn hóa khảo cổ Việt Nam |
|---|
| Hậu kỳ Thời đại đồ đá cũ |
|
Văn hóa Tràng An (23.000 TCN - 1.000 TCN) Văn hóa Sơn Vi (20.000 - 12.000 TCN) Văn hóa Soi Nhụ (18.000 - 7.000 TCN) |
| Thời đại đồ đá mới |
|
Văn hóa Hòa Bình (12.000 - 10.000 TCN) Văn hóa Bắc Sơn (10.000 - 8.000 TCN) Văn hóa Quỳnh Văn (8.000 - 6.000 TCN) Văn hóa Cái Bèo (7.000 - 5.000 TCN) Văn hóa Đa Bút (6.000 - 5.000 TCN) |
| Thời đại đồ đồng đá |
|
Văn hóa Hạ Long (5.000 - 3.000 TCN) Văn hóa Phùng Nguyên (2.000 - 1.500 TCN) Văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (2.000 - 1.000 TCN) |
| Trung kỳ thời đại đồ đồng |
| Văn hóa Đồng Đậu (1.500 - 1.000 TCN) |
| Hậu kỳ thời đại đồ đồng |
| Văn hóa Gò Mun (1.000 - 600 TCN) |
| Thời kỳ đồ sắt |
|
Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 TCN - 200 CN) Văn hóa Đông Sơn (800 TCN - 200 TCN) Văn hóa Đồng Nai (500 TCN - 0) Văn hóa Óc Eo (1 - 630) |
Việt Nam, với đường bờ biển dài, vùng nội địa nhiều dãy núi hiểm trở cùng hai vùng đồng bằng châu thổ lớn, đã trở thành cái nôi của nhiều nền văn hóa xuyên suốt chiều dài lịch sử. Vị trí địa chiến lược tại khu vực Đông Nam Á cũng biến nơi đây thành ngã tư giao thương và tâm điểm của các cuộc xung đột, góp phần tạo nên một quá khứ đầy biến động và phức tạp. Trong thời kỳ Đồ đá cũ, những nhóm thợ săn–hái lượm Cổ Đông Á đầu tiên đã đặt chân đến đây ít nhất 40.000 năm trước. Kể từ thời kỳ Đồ đá mới, các cộng đồng ngữ hệ Nam Á, cũng như Nam Đảo, H'Mông–Miền, Kra–Dai và Hán–Tạng sinh sống trên khắp Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc đã đóng góp vào sự phát triển nông nghiệp cũng như diện mạo dân tộc–ngôn ngữ của Việt Nam. Vào thiên niên kỷ thứ 1 TCN, nền Văn hóa Đông Sơn ra đời dựa trên nền tảng thâm canh lúa nước, tập trung quanh các bộ tộc bản địa thời kỳ Văn Lang và Âu Lạc.
Sau cuộc chiến tranh xâm lược Nam Việt của nhà Hán vào năm 111 TCN, phần lớn lãnh thổ Việt Nam đã rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm. Dù vậy, thời kỳ này vẫn chứng kiến hàng loạt cuộc khởi nghĩa quật khởi và các vương quốc bản địa thỉnh thoảng vẫn giành được độc lập trên thực tế (de facto). Phật giáo và Ấn Độ giáo du nhập vào thế kỷ thứ 2 SCN, đưa Việt Nam trở thành nơi đầu tiên tiếp nhận giao thoa ảnh hưởng của cả hai nền văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ.
Nền độc lập dân tộc được khôi phục khi Nhà Ngô được thành lập vào năm 939, mở ra một thiên niên kỷ tiếp nối của các triều đại phong kiến bản xứ: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn, và sau cùng là Nguyễn. Trong kỷ nguyên này, Việt Nam từng có những giai đoạn bị chia cắt bởi nội chiến, điển hình nhất là cuộc Trịnh – Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17 và 18, đồng thời liên tục phải đối đầu với các cuộc xâm lược từ bên ngoài của nhà Tống, Nguyên, Chăm Pa, Minh, Xiêm, Thanh và cuối cùng là thực dân Pháp. Ở chiều ngược lại, công cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của người Việt đã từng bước tiến vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long cùng các khu vực thuộc Campuchia ngày nay từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18.
Lợi dụng việc viện trợ quân sự cho dòng dõi nhà Nguyễn đang trỗi dậy, lấy cớ bảo vệ quyền tự do tôn giáo và quyền thương mại, nước Pháp đã tiến hành xâm chiếm Việt Nam, chia cắt lãnh thổ thành ba kỳ riêng biệt và sáp nhập vào Liên bang Đông Dương năm 1887. Chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn đến 5 năm chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản. Năm 1945, nền cộng hòa được tuyên bố thành lập, nhưng ngay sau đó một cuộc xung đột ba bên đã bùng nổ giữa phe cộng sản, các lực lượng chống cộng và thực dân Pháp. Năm 1949, Việt Nam trên danh nghĩa được thống nhất như một quốc gia bán tự trị thành viên của Khối Liên hiệp Pháp. Trên thực tế, phong trào kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thiết lập một chính thể đối lập kiểm soát phần lớn lãnh thổ đất nước. Sau thất bại của quân Pháp, đất nước bị chia cắt thành hai miền vào tháng 7 năm 1954. Là một phần của Chiến tranh Lạnh, một cuộc chiến quy mô lớn nhanh chóng bùng nổ giữa miền Bắc do Liên Xô cùng Trung Quốc hậu thuẫn và miền Nam được Hoa Kỳ yểm trợ. Cuộc chiến khép lại với sự sụp đổ của chính quyền miền Nam năm 1975 và việc thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của chính quyền xã hội chủ nghĩa vào năm 1976. Việt Nam sau đó phải trải qua cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc với Trung Quốc năm 1979 và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam tại Campuchia từ năm 1978 đến năm 1989, đi cùng một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, là tiền đề dẫn tới công cuộc Đổi Mới vào cuối năm 1986. Việt Nam sau đó đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào năm 1991 và với Hoa Kỳ vào năm 1995.
Thời tiền sử
Bối cảnh nhân khẩu - dân tộc hiện đại


Bức tranh nhân khẩu học hiện đại của Việt Nam bao gồm 54 dân tộc anh em thuộc 5 ngữ hệ chính: Nam Đảo, Nam Á, H'Mông–Miền, Kra–Dai và Hán–Tạng. Trong số 54 nhóm dân tộc, chiếm đa số là người Kinh (sử dụng ngôn ngữ nhánh Việt), chiếm tới 85,32% tổng dân số theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019. Bộ phận còn lại bao gồm 53 dân tộc thiểu số khác. Bức tranh đa sắc tộc của Việt Nam là kết quả của quá trình định cư liên tục, nơi nhiều dòng dân cư khác nhau đã di cư và định hình trên dải đất này qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau, trải qua hàng vạn năm lịch sử. Toàn bộ lịch sử Việt Nam, vì lẽ đó, là một sự đan dệt phong phú của tính chất đa dân tộc.
Giai đoạn Tiền Đồ đá mới
Các dấu tích định cư sớm nhất của người hiện đại về mặt giải phẫu tại vùng Đông Nam Á lục địa có niên đại từ 65.000 đến 10.500 năm trước, trong kỷ Pleistocen muộn. Những cộng đồng săn bắt–hái lượm tiên phong có thể kể đến là cư dân văn hóa Hòa Bình, một nhóm cư dân lớn đã dần định cư rải rác trên khắp vùng Đông Nam Á. Là một phần của làn sóng di cư thời Đồ đá cũ thượng sơ kỳ, cư dân Hòa Bình cùng với Người Điền Viên là những đại diện ban đầu của dòng dõi Cổ Đông và Đông Nam Á (ESEA), có quan hệ di truyền sâu xa với các quần thể dân cư Đông Á và Đông Nam Á ngày nay. Tuyến di cư theo nhánh phía nam này gắn liền với các nhánh phụ của các nhóm đơn bội nhiễm sắc thể Y tiêu biểu như C2, D1, N và O.
Cả quần thể cổ đại lẫn hiện đại liên hệ với khu vực Đông Á đều có thể được mô hình hóa với nguồn gốc chủ yếu kế thừa từ dòng dõi liên quan đến người Hòa Bình hoặc người Önge (khoảng 76–79%), và một phần nhỏ hơn từ dòng dõi liên quan đến người Điền Viên (khoảng 21–24%). Bản thân cá thể người Điền Viên lại được mô hình hóa bắt nguồn chủ yếu từ dòng dõi liên quan đến người Önge (khoảng 61%) kết hợp với một nhánh Đông Á rẽ nhánh sâu hơn (khoảng 39%) có họ hàng xa với các di cốt tìm thấy tại Hang Bacho Kiro.
Một phân tích trên các mẫu di cốt tại di chỉ Cồn Cổ Ngựa ở Thanh Hóa (Việt Nam) có niên đại khoảng 6.200 năm trước, khi đối chiếu trong phạm vi các nhóm dân cư Việt Nam, cho thấy khoảng cách di truyền gần nhất với cư dân Mái Đá Điều, kế tiếp là các quần thể người Việt hiện đại. Dựa trên các phân tích nhân trắc hộp sọ và hình thái răng, các cá thể tại Cồn Cổ Ngựa có kiểu hình tương đồng với các nhóm cư dân Đông Nam Á kỷ Pleistocen muộn cũng như người Melanesia và Thổ dân Úc ngày nay.
Thời kỳ Đồ đá mới
Sau khi nhánh dân cư Đông Á hình thành từ các dòng dõi liên quan đến người Hòa Bình hoặc người Önge và người Điền Viên, dòng tộc này tiếp tục phân hóa thành nhiều nhánh phụ, bao gồm dòng dõi Cổ Nam Đông Á. Trong thời kỳ Đồ đá mới, các quần thể mang yếu tố di truyền Cổ Nam Đông Á có đặc trưng bành trướng rộng khắp từ các khu vực lân cận ở miền nam Trung Quốc sang Đông Nam Á. Những xã hội nông nghiệp sớm nhất trồng kê và lúa nước xuất hiện vào khoảng năm 1700 TCN tại các vùng đồng bằng trũng và bãi bồi ven sông ở Việt Nam đều gắn liền với làn sóng di cư thời Đồ đá mới này.
Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN, nền nông nghiệp canh tác lúa nước đã lan tỏa từ vùng nam Đông Á sang vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Sự khuếch tán kỹ thuật này có liên hệ mật thiết với làn sóng di cư của những cư dân nông nghiệp thời Đồ đá mới mang nguồn gen Cổ Nam Đông Á. Những nông dân thời kỳ này đã di chuyển theo hai tuyến: tuyến nội địa tiến vào Đông Nam Á lục địa do các cộng đồng nói tiếng Nam Á dẫn đầu, và tuyến đường biển bắt nguồn từ Đài Loan do các cộng đồng nói tiếng Nam Đảo thực hiện.
Vào năm 2018, các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích di truyền trên các mẫu vật thu thập từ hai di chỉ mai táng cổ ở miền Bắc Việt Nam là Mán Bạc và Núi Nấp, có niên đại lần lượt vào khoảng năm 1.800 TCN và 100 TCN. Các cá thể tại Mán Bạc thể hiện sự hòa huyết giữa dòng dõi nông dân Đông Á và người săn bắt–hái lượm Cổ Đông Á, có mối liên hệ di truyền gần gũi với các nhóm nói ngôn ngữ Nam Á hiện đại như người Mlabri, người Nicobar và người Campuchia, trong khi các mẫu vật tại Núi Nấp lại thể hiện sự tương đồng gần với người Việt và người Đới ngày nay. Một nghiên cứu năm 2018 của George van Driem cùng các cộng sự đã chỉ ra rằng những người nông dân Đông Á này đã hòa nhập và lai giống với cư dân bản địa, trái ngược với giả thuyết phổ biến trước đó cho rằng họ đã thay thế hoàn toàn cư dân cũ. Những người nông dân này cũng chia sẻ chung nguồn gốc tổ tiên với chính các bộ tộc miền núi nói ngữ hệ Nam Á ngày nay.
Người Chăm, cộng đồng cư dân đã định cư và phát triển nền văn minh rực rỡ tại dải đất duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam suốt hơn một thiên niên kỷ từ khoảng thế kỷ thứ 2 SCN, có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Đảo. Trong khi đó, dải đất cực nam của Việt Nam gồm vùng đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực phụ cận, cho tới tận thế kỷ 18, từng giữ vai trò không thể tách rời và chuyển giao liên tục giữa các tiểu quốc của các cộng đồng tiền Khmer và người Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á như Phù Nam, Chân Lạp, Đế quốc Khmer và các vương quốc Khmer sau này.
Phương thức sinh hoạt
Nằm ở rìa đông nam của khu vực châu Á gió mùa, phần lớn lãnh thổ Việt Nam cổ đại được hưởng lượng mưa dồi dào, độ ẩm và nền nhiệt cao, gió mùa thuận lợi cùng thổ nhưỡng phù sa màu mỡ. Những điều kiện tự nhiên này kết hợp tạo nên sự sinh trưởng trù phú khác thường của lúa nước, các loài thực vật và đời sống hoang dã. Các làng mạc nông nghiệp trong vùng là nơi sinh sống của hơn 90% dân số. Lượng nước lớn trong mùa mưa đòi hỏi dân làng phải tập trung sức lao động để trị thủy, cấy lúa và thu hoạch. Những hoạt động mang tính tập thể này đã tạo nên một nếp sống làng xã gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng lấy ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên và con người làm một trong những giá trị cốt lõi. Lối sống trọng sự hòa hợp này mang nhiều nét đặc trưng được người dân yêu chuộng, tiêu biểu như việc không quá nặng nề về tích lũy của cải vật chất, yêu chuộng ca múa thơ ca và chan hòa với thiên nhiên.
Nghề đánh cá và săn bắn đóng vai trò bổ trợ cho vụ mùa lúa nước chính. Các mũi tên và đầu ngọn giáo được tẩm thuốc độc nhằm săn hạ những loài thú lớn như voi. Tục ăn trầu rất phổ biến và các tầng lớp bình dân thường chỉ mặc trang phục đơn giản như đóng khố. Mỗi độ xuân về, các lễ hội phồn thực thường được tổ chức với những bữa tiệc linh đình và các nghi thức giao hòa mang tính phóng khoáng.
Thời kỳ Đồ đồng
Thung lũng Sông Hồng hình thành nên một thực thể địa lý và kinh tế tự nhiên, được bao bọc ở phía bắc và phía tây bởi núi non cùng rừng rậm trùng điệp, phía đông giáp biển và phía nam là Đồng bằng sông Hồng. Nhu cầu về một quyền lực quản lý thống nhất nhằm ngăn chặn lũ lụt sông Hồng, hiệp đồng xây dựng hệ thống thủy lợi, trao đổi buôn bán và đẩy lùi các đợt ngoại xâm đã dẫn tới sự ra đời của những nhà nước sơ khai huyền sử đầu tiên của người Việt vào khoảng năm 2879 TCN. Các nghiên cứu liên tục của giới khảo cổ học chỉ ra rằng văn hóa Đông Sơn của người Việt có nguồn gốc bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, Quảng Tây và Lào vào khoảng năm 1000 TCN.
Từ khoảng năm 2000 TCN, công cụ cầm tay và vũ khí bằng đá đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chủng loại. Về sau, Việt Nam trở thành một phần của Con đường ngọc bích trên biển, tuyến hải trình mậu dịch tồn tại suốt 3.000 năm từ khoảng 2000 TCN đến 1000 SCN. Đồ gốm đạt tới trình độ kỹ thuật và phong cách trang trí cao hơn. Các xã hội nông nghiệp đa ngôn ngữ sơ khai tại Việt Nam chủ yếu là cư dân trồng lúa nước (Oryza), nguồn lương thực chính trong khẩu phần ăn của họ. Vào giai đoạn muộn của nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, những công cụ bằng đồng đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện mặc dù còn khá hiếm hoi. Đến khoảng năm 1000 TCN, đồ đồng đã thay thế đồ đá ở khoảng 40% các loại công cụ có lưỡi và vũ khí, rồi sau đó tăng lên khoảng 60%. Tại giai đoạn này không chỉ xuất hiện vũ khí, rìu đồng và đồ trang sức cá nhân, mà còn có liềm cùng các công cụ nông nghiệp bằng đồng khác. Đến giai đoạn cuối của Thời kỳ Đồ đồng, đồ đồng chiếm hơn 90% các loại công cụ và vũ khí; nhiều ngôi mộ xa hoa là nơi an táng của các thủ lĩnh quyền thế được phát hiện chứa hàng trăm hiện vật đồng phục vụ nghi lễ và cá nhân, chẳng hạn như nhạc khí, muôi múc hình thạp gàu và dao găm trang trí tinh xảo. Sau năm 1000 TCN, cư dân cổ đại ở Việt Nam đã trở thành những nông dân thuần thục khi vừa trồng lúa, vừa chăn nuôi trâu, lợn. Họ đồng thời là những ngư dân lão luyện và những thủy thủ quả cảm, từng cưỡi những chiếc thuyền độc mộc thân dài vượt sóng biển Đông.
Thời kỳ cổ đại (khoảng 500–111 TCN)
Văn hóa Đông Sơn và truyền thuyết thời Hồng Bàng
Theo một truyền thuyết của người Việt xuất hiện lần đầu trong tác phẩm thế kỷ 14 Lĩnh Nam chích quái, thủ lĩnh bộ lạc Lộc Tục (khoảng 2919 – 2794 TCN) đã xưng hiệu là Kinh Dương Vương và lập nên nhà nước Xích Quỷ vào năm 2879 TCN, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Hồng Bàng. Dù vậy, các nhà sử học Việt Nam hiện đại cho rằng hình thái nhà nước sơ khai thực chất mới bắt đầu hình thành tại vùng Đồng bằng sông Hồng vào nửa sau thiên niên kỷ thứ 1 TCN. Kế vị Kinh Dương Vương là Sùng Lãm (khoảng 2825 – 2525 TCN). Triều đại kế tiếp sản sinh ra 18 đời quân vương, thường được gọi là các vị Hùng Vương, những người đã đặt quốc hiệu là Văn Lang và đóng đô tại Phong Châu. Bộ máy hành chính thời kỳ này bao gồm các chức danh như thủ lĩnh quân sự (lạc tướng), quan văn (lạc hầu) và người đứng đầu làng chạ (bố chính).
Một số lượng lớn công cụ và vũ khí bằng kim loại được khai quật tại nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên ở miền bắc bán đảo Đông Dương gắn liền với sự khởi đầu của Thời đại Đồ đồng đỏ tại Đông Nam Á. Bên cạnh đó, thời điểm mở đầu của Thời kỳ Đồ đồng đã được xác thực vào khoảng năm 500 TCN tại Đông Sơn. Giới sử học Việt Nam thường quy thuộc nền Văn hóa Đông Sơn với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc và Hồng Bàng. Cộng đồng cư dân Lạc Việt bản địa đã phát triển một nền kỹ nghệ luyện kim đồng thau chất lượng cao đạt độ tinh xảo vượt bậc, làm chủ việc chế tác công cụ, vũ khí và những chiếc trống đồng tuyệt mỹ. Mang giá trị biểu tượng sâu sắc, những hiện vật này được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tâm linh hoặc nghi thức cộng đồng. Để tạo ra những tác phẩm này, người thợ thủ công đòi hỏi phải có kỹ thuật nấu chảy kim loại điêu luyện, thuần thục phương pháp đúc bằng khuôn sáp chảy, đồng thời đạt tới bậc thầy về bố cục và chạm khắc các hoa văn tinh xảo.
Truyền thuyết Thánh Gióng kể về một tráng sĩ trẻ tuổi đã lãnh đạo đất nước Văn Lang đánh tan giặc Ân xâm lược từ phương bắc, cứu nguy cho xã tắc rồi bay thẳng về trời. Hình tượng Thánh Gióng khoác áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và vung gươm sắt phản ánh một xã hội đã đạt tới trình độ luyện kim phát triển; cũng như truyền thuyết về Nỏ thần của An Dương Vương, loại vũ khí có thể bắn ra hàng nghìn mũi tên cùng lúc phản ánh việc cung nỏ đã được ứng dụng rộng rãi trong nghệ thuật quân sự thời bấy giờ. Khoảng 1.000 làng nghề truyền thống ở khu vực Đồng bằng sông Hồng lân cận và xung quanh Hà Nội đã đóng vai trò xương sống cho nền kinh tế và sản xuất thủ công của quốc gia suốt hơn 2.000 năm lịch sử. Vô số cơ sở sản xuất thủ công quy mô hộ gia đình qua hàng thế kỷ đã gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tạo tác các mặt hàng tinh xảo, xây dựng đền miếu, đồng thời duy trì các nghi lễ và lễ hội trong mạch nguồn văn hóa bất tận tôn vinh những vị tiền nhân hiển linh trong truyền thuyết.
Vương quốc Âu Lạc (257–179 TCN)

Đến thế kỷ thứ 3 TCN, một nhóm người Việt khác là người Âu Việt đã di cư từ vùng đất nay thuộc miền nam Trung Quốc xuống đồng bằng sông Hồng và hòa nhập với cộng đồng cư dân bản địa Văn Lang. Năm 257 TCN, một vương quốc mới mang tên Âu Lạc ra đời trên cơ sở hợp nhất giữa người Âu Việt và người Lạc Việt, Thục Phán tự xưng là "An Dương Vương", rời đô đến Phong Khê. Một số nhà sử học hiện đại cho rằng Thục Phán vốn xuất thân từ địa bàn cư trú của người Âu Việt (vùng đất ngày nay thuộc cực bắc Việt Nam, phía tây Quảng Đông và phía nam tỉnh Quảng Tây, với thủ phủ đặt tại khu vực tỉnh Cao Bằng ngày nay).
Nam Việt (179 TCN–111 TCN)

Vào năm 207 TCN, một cựu tướng lĩnh của nhà Tần là Triệu Đà đã thiết lập một vương quốc độc lập tại khu vực duyên hải miền nam Trung Quốc (tương ứng với Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay).Ông đặt quốc hiệu cho vương quốc mới là Nam Việt, mở đầu thời kỳ cai trị của nhà Triệu. Triệu Đà tự phong mình làm quan lệnh xứ trung tâm Quảng Đông, đóng cửa biên giới, tiến đánh các quận phụ cận và xưng hiệu là "Nam Việt Vương". Năm 179 TCN, ông đánh bại An Dương Vương và sáp nhập Âu Lạc vào lãnh thổ của mình. Nhà Triệu cai trị độc lập với Nhà Hán ở phương bắc thời bấy giờ. Thậm chí có giai đoạn, Triệu Đà đã xưng Hoàng đế để khẳng định vị thế ngang hàng với các Hoàng đế nhà Hán.
Giai đoạn lịch sử này nhận được nhiều đánh giá đa chiều từ giới sử học Việt Nam: quan điểm hiện đại coi thời kỳ cai trị của nhà Triệu là điểm khởi đầu của thời kỳ Bắc thuộc do Triệu Đà xuất thân là một viên tướng của nhà Tần đi chinh phạt người Việt; trong khi luồng quan điểm thời phong kiến lại nhận định đây vẫn là một giai đoạn độc lập của Việt Nam vì dòng dõi họ Triệu tại Nam Việt đã tiếp thu một số tập tục văn hóa bản địa.
Thời kỳ Bắc thuộc (111 TCN–938 SCN)
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (111 TCN–40 SCN)

Hình bên phải: Gương đồng Hán–Việt, thế kỷ 2–3 SCN
Vào năm 111 TCN, nhà Hán đã xâm chiếm Nam Việt và thiết lập các đơn vị hành chính mới, chia cắt đất Việt thành các quận: Giao Chỉ (tức khu vực Đồng bằng sông Hồng); Cửu Chân (trải dài từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh); và Nhật Nam (từ Quảng Bình đến Huế). Dù thứ sử, thái thú và các quan lại cấp cao đều là người Hán, tầng lớp quý tộc người Việt bản địa thời Hồng Bàng (Lạc hầu, Lạc tướng) vẫn duy trì quyền cai quản ở một số khu vực miền núi hiểm trở. Trong thời kỳ này, Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam từ Ấn Độ thông qua Con đường tơ lụa trên biển, trong khi Đạo giáo và Nho giáo cũng bắt đầu du nhập qua các chính quyền đô hộ phương Bắc.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40–43)
Vào tháng 2 năm 40 SCN, Hai Bà Trưng đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa thắng lợi đánh đuổi Thái thú nhà Hán là Tô Định, thu hồi 65 thành trì (bao gồm cả một phần đất thuộc Quảng Tây ngày nay). Căm phẫn trước việc chồng mình bị Tô Định sát hại, Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị dấy binh khởi nghĩa. Trưng Trắc sau đó lên ngôi nữ vương (Trưng Nữ Vương). Đến năm 43 SCN, Hán Quang Vũ Đế phái viên danh tướng Mã Viện thống lĩnh một đạo quân lớn sang đàn áp nghĩa quân. Trải qua một chiến dịch dài ngày và khốc liệt, Mã Viện đã dập tắt cuộc khởi nghĩa; Hai Bà Trưng đã gieo mình tự vẫn để bảo toàn khí tiết, quyết không để rơi vào tay giặc. Cho đến ngày nay, Hai Bà Trưng vẫn được nhân dân Việt Nam tôn kính như biểu tượng bất khuất của Phụ nữ Việt Nam.
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai (43–544)

Rút ra bài học từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nhà Hán và các triều đại phong kiến kế tiếp đã thi hành nhiều biện pháp triệt để nhằm xóa bỏ hoàn toàn quyền lực của giới quý tộc người Việt. Tầng lớp tinh hoa người bản địa bị cưỡng chế tiếp thu văn hóa và nền chính trị Trung Hoa. Vào giai đoạn cuối thời Đông Hán và đầu thời Tam Quốc, Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp đã quy thuận Hoàng đế nhà Hán rồi sau đó thần phục nhà Đông Ngô—bao gồm việc gửi con trai sang làm con tin để chứng minh lòng trung thành—nhưng trong sử học Việt Nam, ông được xem như một thủ lĩnh cát cứ tự trị và được các triều đại quân chủ Việt Nam đời sau sắc phong, thần thánh hóa. Theo nhà nghiên cứu Stephen O'Harrow, Sĩ Nhiếp về bản chất có thể xem là "người Việt Nam đầu tiên". Sau khi Sĩ Nhiếp qua đời, Đông Ngô hạ lệnh tách Quảng Châu thành một châu riêng và bãi nhiệm con trai của ông khỏi vị trí đứng đầu Giao Chỉ. Sĩ Huy dấy binh phản kháng nhưng lại tìm kiếm giải pháp đàm phán hòa bình khi quân Ngô kéo đến. Trong quá trình thương lượng, Sĩ Huy cùng phần lớn anh em ruột đã bị xử trảm, các thân tộc còn lại bị giáng xuống làm thường dân. Năm 248, một người phụ nữ xứ Việt là Triệu Thị Trinh (thường gọi là Bà Triệu) đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đông Ngô. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa một lần nữa thất bại. Đông Ngô đã phái Lục Dận cùng 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp nghĩa quân. Viên tướng này đã bình định nghĩa quân bằng cách kết hợp giữa đe dọa vũ lực và chiêu dụ mua chuộc. Sách Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả Bà Triệu có mái tóc dài chấm vai, cưỡi voi xông trận dũng mãnh. Sau nhiều tháng chiến đấu gian khổ, bà bị đánh bại và đã tuẫn tiết. Một cuộc nổi dậy khác đạt được thành công tạm thời vào giữa thập niên 260 khi viên lại chức Lữ Hưng (呂興) lật đổ bộ máy quan lại Đông Ngô còn lại và liên minh với thứ sử của Tào Ngụy tại đất Thục vừa bị Ngụy chinh phục. Tào Ngụy cùng chính thể kế tục là nhà Tấn đã chiếm giữ Giao Chỉ từ năm 266 đến năm 271, cho tới khi chiến dịch tấn công Giao Chỉ của Đông Ngô tái chiếm lại được vùng đất này. Dẫu vậy, vùng đất này sau cùng vẫn trở lại dưới quyền kiểm soát của nhà Tấn sau khi triều đại này tiêu diệt hoàn toàn Đông Ngô, chấm dứt thời kỳ Tam Quốc.
Các vương quốc Chăm Pa sơ kỳ (192–thế kỷ 7)
Cùng thời kỳ đó, tại khu vực miền Trung Việt Nam ngày nay, một cuộc nổi dậy thành công của các cộng đồng người Chăm đã diễn ra vào năm 192. Các triều đại Trung Hoa gọi thực thể này là Lâm Ấp (nghĩa là ấp họ Lâm). Về sau, xứ sở này phát triển thành một vương quốc hùng mạnh mang tên Chăm Pa, có cương thổ trải dài từ Quảng Bình tới tận Phan Thiết (Bình Thuận). Người Chăm đã sáng tạo nên hệ thống chữ viết bản địa đầu tiên ở Đông Nam Á, tạo lập nền văn học cổ nhất trong các ngôn ngữ Đông Nam Á còn tồn tại, đồng thời trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật Phật giáo và Ấn Độ giáo nổi bật trong khu vực.
Vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1–627)
Vào đầu thế kỷ 1 SCN, tại vùng hạ lưu sông Mê Kông, vương quốc chịu ảnh hưởng Ấn Độ hóa đầu tiên của Đông Nam Á mà thư tịch Trung Hoa gọi là Phù Nam đã hình thành và phát triển thành một cường quốc kinh tế trong khu vực; trung tâm đô thị cảng khẩu sầm uất Óc Eo của vương quốc này từng thu hút thương nhân và thợ thủ công từ Trung Hoa, Ấn Độ và thậm chí cả La Mã. Vị quân chủ đầu tiên của Phù Nam, Nữ vương Liễu Diệp, đã kết hôn với Kaundinya, một người đàn ông đến từ phương tây mang theo cây cung thần. Kaundinya sau đó trở thành vị vua trị vì Phù Nam. Phù Nam được cho là nhà nước Khmer đầu tiên, hoặc thuộc ngữ hệ Nam Đảo, hoặc là một nhà nước đa sắc tộc. Theo các bộ sử Trung Hoa, vị vua cuối cùng của Phù Nam là Rudravarman (trị vì 514–545) đã cử nhiều sứ bộ triều cống sang Trung Quốc. Cũng theo các biên niên sử này, Phù Nam có khả năng đã bị một vương quốc khác mang tên Chân Lạp thôn tính vào khoảng năm 627 SCN, chấm dứt sự tồn tại của vương quốc này.
Nhà nước Vạn Xuân (544–602)
Trong giai đoạn từ khi bắt đầu thời kỳ Nam–Bắc triều đến thời kỳ đầu nhà Tùy, nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của phương Bắc đã liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn (vốn là tầng lớp người gốc Hoa đã bản địa hóa.) và bộ tướng kế vị là Triệu Quang Phục. Dù phần lớn các phong trào cuối cùng đều bị dập tắt, dấu ấn đậm nét nhất vẫn thuộc về cuộc kháng chiến do Lý Bôn và Triệu Quang Phục lãnh đạo; họ đã thiết lập nền độc lập ngắn ngủi cho nhà nước Vạn Xuân trong gần nửa thế kỷ, từ năm 544 đến năm 602, trước khi bị nhà Tùy đem quân tái chiếm.
Khi nhà Tùy củng cố quyền lực tại Trung Hoa, Lý Phật Tử đã thừa nhận quyền tông chủ của nhà Tùy vào năm 589. Đến năm 602, khi Lý Phật Tử công khai làm phản, Tùy Văn Đế đã phái tướng Lưu Phương thống lĩnh 27.000 quân sang chinh phạt vùng đất này. Năm 605, Dương Kiên tiếp tục thúc quân xuống phía nam, tiến hành xâm lược vương quốc Simhapura của người Chăm ở miền Trung Việt Nam, thiết lập bộ máy cai trị tạm thời và chia xứ sở này thành 3 quận: Tỷ Ảnh, Hải Âm và Tượng Lâm.
Lưu Phương được cử làm tổng quản Giao Châu. Viên tướng này ngã bệnh chết trên đường từ Chăm Pa trở về phương bắc, Khâu Hòa (丘和) được cử sang thay thế để cai quản vùng đất. Dù vậy, vào năm 618, Đường Cao Tổ đã lật đổ nhà Tùy và lập nên Nhà Đường. Ban đầu Khâu Hòa quy thuận chính quyền của Tiêu Tiển vào năm 618, sau đó mới đầu phục Hoàng đế nhà Đường vào năm 622, sáp nhập miền Bắc Việt Nam vào bản đồ Đế chế Đường. Một thủ lĩnh bản địa tại Cửu Chân (nay thuộc Thanh Hóa), Lê Ngọc, vẫn giữ lòng trung thành với Tiêu Tiển và tiếp tục kháng cự quân Đường thêm ba năm nữa.
Thời kỳ hoàng kim của văn minh Chăm Pa và chiến tranh với Đế quốc Khmer (thế kỷ 7–1203)
Vương quốc Lâm Ấp của người Chăm với kinh đô đặt tại Simhapura đã trở nên phồn thịnh nhờ vị trí đắc địa trên các hải trình mậu dịch cổ đại nối Trung Đông với Trung Hoa. Sự giàu có của Lâm Ấp đã thu hút sự dòm ngó từ các hoàng đế phương Bắc. Năm 605, Tùy Dượng Đế hạ lệnh cho danh tướng Lưu Phương, người vừa tái chiếm và bình định miền Bắc Việt Nam tiến hành xâm lược Lâm Ấp. Vương quốc nhanh chóng bị quân xâm lược tràn ngập, các đền đài thánh địa của người Chăm bị cướp phá nghiêm trọng. Dẫu vậy, vua Sambhuvarman của Lâm Ấp (trị vì 572–629) đã nhanh chóng khôi phục lại nền độc lập, mở ra thời kỳ thống nhất của Chăm Pa vào năm 629.
Từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10, người Chăm nắm quyền kiểm soát mạng lưới buôn bán gia vị và tơ lụa giữa Trung Hoa, Ấn Độ, các đảo của Indonesia và Đế quốc Abbas tại Baghdad. Họ gia tăng nguồn thu từ các tuyến hàng hải không chỉ qua việc xuất khẩu ngà voi, trầm hương mà còn qua cả hoạt động cướp biển và đột kích đường biển. Giai đoạn thịnh vượng và rực rỡ văn hóa này thường được mệnh danh là thời kỳ hoàng kim của Chăm Pa.
Năm 875, một vị vua theo Phật giáo Đại thừa là Indravarman II (trị vì 854–893) đã lập nên một vương triều mới và lấy Phật giáo làm quốc giáo. Indravarman II cho xây dựng kinh đô mới tại Indrapura (nay thuộc Quảng Nam) cùng khu tu viện Phật giáo quy mô lớn tại Đồng Dương. Triều đại của Indravarman II tiếp tục trị vì cho đến cuối thế kỷ 10, thời điểm cuộc tiến công của người Việt năm 982 giết chết vị vua trị vì là Jaya Paramesvaravarman I (trị vì 972–982). Một người Việt tiếm quyền tên là Lưu Kế Tông đã lợi dụng tình thế hỗn loạn để đánh chiếm Indrapura vào năm 983 và tự xưng làm vua Chăm Pa vào năm 986, gây đảo lộn nền chính trị Chăm. Tại vùng Vijaya (nay thuộc Bình Định) ở phía nam, một triều đại Ấn Độ giáo mới được thiết lập vào năm 989 và đã dời đô Chăm Pa về Vijaya vào năm 1000.
Chăm Pa và Đế quốc Khmer đang trỗi dậy đã liên tục giao chiến với nhau suốt ba thế kỷ, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13. Người Khmer lần đầu tấn công Chăm Pa tại vùng Kauthara (Khánh Hòa) vào năm 950. Năm 1080, họ tấn công Vijaya và miền trung Chăm Pa. Quân Chăm dưới sự lãnh đạo của Harivarman IV đã mở cuộc phản công đánh đuổi quân đội Campuchia và cướp phá nhiều đền đài ở phía đông sông Mê Kông. Căng thẳng tiếp tục leo thang trong thế kỷ tiếp theo. Vua Suryavarman II của Đế quốc Khmer xâm lược Chăm Pa vào các năm 1145 và 1149 sau khi vua Chăm là Indravarman từ chối liên minh cùng Khmer tiến đánh người Việt. Người ta tin rằng Suryavarman II đã tử trận trong cuộc chiến chống Chăm Pa vào khoảng năm 1150. Năm 1177, vua Chăm Jaya Indravarman IV dẫn đầu một cuộc tập kích bất ngờ vào kinh đô Yasodharapura (Angkor) của Khmer và đánh tan đối phương trong Trận hồ Tonlé Sap.
Một vị vua kiệt xuất mới của Campuchia là Jayavarman VII lên nắm quyền, đánh lui người Chăm và bắt đầu cuộc chinh phục Chăm Pa vào năm 1190. Ông cuối cùng đã khuất phục được người Chăm vào năm 1203 và đặt Chăm Pa dưới quyền cai trị của Đế quốc Khmer suốt 17 năm. Đến năm 1220, khi quân Khmer tự nguyện rút lui khỏi Chăm Pa, một hoàng thân Chăm tên là Angsaraja đã lên ngôi lấy hiệu Jaya Paramesvaravarman II và khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc mình.
Chăm Pa mở rộng phạm vi thương mại tới tận Philippines vào thập niên 1200. Sách Tống sử chép rằng ở phía đông Chăm Pa, sau hai ngày vượt biển sẽ tới nước Ma-i (ở Mindoro, Philippines); trong khi tới Pu-duan (Butuan) tại Mindanao phải mất bảy ngày đường, đồng thời sử liệu có ghi chép về các hoạt động giao thương của người Chăm tại Butuan. Butuan bất mãn trước ưu thế thương mại của Chăm Pa nên vua của họ là Rajah Kiling đã thúc đẩy sự cạnh tranh ngoại giao nhằm tranh giành đặc quyền buôn bán với Trung Hoa trước vị thế bá quyền của Chăm Pa. Trong khi đó, tại vùng đất sau này là Vương quốc Hồi giáo Sulu vốn khi ấy vẫn theo Ấn Độ giáo, đã có một làn sóng di cư lớn của người Chăm sang định cư; họ được dân bản địa gọi là người Orang Dampuan và từng phát sinh các cuộc xung đột (sau đó đã được dàn xếp hòa giải) với cư dân bản địa Sulu. Nhóm người này trở thành tổ tiên của người Yakan ngày nay. Mối quan hệ di cư và giao thương này không chỉ mang tính một chiều, bởi cũng có những cư dân Philippines đến định cư tại Chăm Pa.
Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba: Dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường (602–905)

Hình bên phải: Abe no Nakamaro, một người Nhật Bản từng làm quan Đô hộ xứ An Nam từ năm 761 đến năm 767
Vào năm 627, Đường Thái Tông tiến hành một cuộc cải cách hành chính nhằm sáp nhập và giảm bớt số lượng châu, huyện. Năm 679, Giao Châu được đổi thành An Nam đô hộ phủ. Đơn vị hành chính này được nhà Đường sử dụng để quản lý các nhóm cư dân phi-Hán tại các vùng biên viễn, tương tự như An Tây đô hộ phủ ở Trung Á và An Đông đô hộ phủ ở bán đảo Triều Tiên. Cứ mỗi bốn năm một lần, kỳ "Nam tuyển" sẽ được tổ chức nhằm chọn lựa các tù trưởng bản địa để bổ nhiệm vào các chức quan từ ngũ phẩm trở lên. Chính sách thuế khóa ở đây tương đối ôn hòa hơn so với nội địa; thuế mùa vụ chỉ bằng một nửa mức tiêu chuẩn thông thường, phản ánh sự nhượng bộ trước những thách thức chính trị tiềm ẩn khi cai trị một sắc dân bản xứ. Các thiếu nữ bản địa ở Việt Nam: người Thái, người Việt cùng các tộc người khác cũng trở thành mục tiêu của những kẻ buôn người. Phụ nữ thuộc các bộ tộc Việt nhiều khả năng bị biến thành nô tỳ làm việc nhà và thị nữ trong phần lớn thời Đường.
Lần đầu tiên kể từ thời Nhà Hán, các trường học theo quy chuẩn Trung Hoa được xây dựng, và các tuyến đê điều được đắp để bảo vệ thủ phủ Tống Bình (về sau là thành Đại La). Đồng bằng sông Hồng là vùng châu thổ nông nghiệp lớn nhất ở phía nam đế quốc, sở hữu các tuyến đường bộ nối liền với Chăm Pa và Chân Lạp ở phía nam và tây nam, cùng các tuyến hải trình thông ra Ấn Độ Dương. Phật giáo phát triển rực rỡ tại An Nam dù quốc giáo chính thức của nhà Đường là Đạo giáo. Đã có ít nhất 6 nhà sư từ miền Bắc Việt Nam thực hiện những chuyến du hành sang Trung Hoa, Srivijaya, Ấn Độ và Sri Lanka trong thời Đường. Rất ít người bản địa tham gia vào các hoạt động khoa cử Nho học cũng như các kỳ thi tuyển quan lại. Với trung tâm đặt quanh vùng Bắc Ninh, An Nam đã trở thành một thương cảng trung chuyển thịnh vượng, tiếp nhận hàng hóa từ các vùng biển phía nam. Sách Hậu Hán thư chép rằng vào năm 166, phái đoàn sứ bộ đầu tiên từ Đế quốc La Mã đến Trung Hoa đã đi qua tuyến đường này, và các đoàn thương buôn cũng nhanh chóng theo chân sau đó. Tác phẩm Ngụy lược từ thế kỷ thứ 3 có đề cập đến một "tuyến đường thủy" (tức sông Hồng) từ An Nam ngược lên miền nam Vân Nam ngày nay. Từ đó, hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ tới các vùng đất khác của Trung Hoa qua ngả Côn Minh và Thành Đô.
Năm 687, tù trưởng người Lý là Lý Tự Tiên nổi dậy chống lại chính quyền nhà Đường do Đô hộ An Nam là Lưu Diên Hựu tăng thuế gấp đôi. Lưu Diên Hựu đã giết chết Lý Tự Tiên nhưng không ngăn nổi ngọn lửa khởi nghĩa và cuối cùng bị nghĩa quân tiêu diệt. Tướng nhà Đường là Tào Huyền Tĩnh sau đó tiến quân vào An Nam, dẹp tan cuộc nổi dậy và xử tử thủ lĩnh kế vị là Đinh Kiến.
Năm 722, Mai Thúc Loan từ Cửu Đức (nay thuộc Hà Tĩnh) đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn chống lại ách đô hộ của phương Bắc. Tự xưng là "Hắc Đế" (Hoàng đế Đen), ông hiệu triệu được 40 vạn quân từ 23 châu tham gia, đồng thời liên minh với Chăm Pa, Chân Lạp, một vương quốc bí ẩn mang tên Kim Lân ("Láng giềng Vàng") cùng nhiều tiểu quốc khác. Quân Đường gồm 10 vạn binh mã dưới sự chỉ huy của tướng Dương Tư Húc, phối hợp cùng các bộ tộc miền núi trung thành với triều đình, đã men theo đường biển tiến xuống theo tuyến đường cũ mà Mã Viện từng mở. Dương Tư Húc bất ngờ tập kích Mai Thúc Loan và đàn áp phong trào vào năm 723. Xác của Mai Hắc Đế cùng các nghĩa binh bị chất thành gò cao lớn nhằm thị uy và răn đe các cuộc nổi loạn về sau. Sau đó từ năm 726 đến 728, Dương Tư Húc tiếp tục đàn áp các cuộc nổi dậy khác của người Lý và người Nùng do Trần Hành Phạm và Phùng Lâm chỉ huy ở phía bắc, những người tự xưng là "Nam Việt Hoàng đế" khiến thêm khoảng 8 vạn người thiệt mạng.
Do ảnh hưởng của Loạn An Sử vào năm 755, An Nam đô hộ phủ từng có thời gian ngắn đổi tên thành Trấn Nam đô hộ phủ. Năm 767, dải duyên hải miền Bắc Việt Nam bị quân đội Shailendra/người Java đánh phá nhưng đã bị tướng nhà Đường là Trương Bá Nghi đánh lui. Năm 785, các hào trưởng bản địa là Đỗ Anh Hàn và Phùng Hưng đã dấy binh khởi nghĩa do Đô hộ Cao Chính Bình tăng mức thuế khóa. Quân Đường tái chiếm An Nam vào năm 791. Vào các năm 803 và 809, quân Chăm Pa tiến hành cướp phá vùng phía nam An Nam. Binh lính tham gia xây đắp công sự đồn trú cũng nổi dậy nổi loạn. Từ năm 803 đến 863, các lực lượng nổi dậy bản địa đã giết chết hoặc xua đuổi không dưới sáu viên quan Đô hộ An Nam. Năm 820, Dương Thanh đánh chiếm Tống Bình và giết chết quan Đô hộ. Dù vậy, Dương Thanh mất lòng dân do tính khí bạo ngược và nhanh chóng bị người bản địa giết chết; dẫu vậy, cả khu vực tiếp tục chìm trong bất ổn suốt 16 năm tiếp theo.
Thủ phủ của An Nam là Tống Bình (tức Hà Nội ngày nay) vốn là một đô thị lớn ở vùng tây nam của Đế chế Đường. Từ năm 858 đến năm 864, những biến động hỗn loạn tại An Nam đã tạo thời cơ cho vương quốc Nam Chiếu ở Vân Nam can thiệp vào khu vực, xúi giục các tù trưởng bản địa nổi dậy chống lại nhà Đường. Quân Nam Chiếu cùng các đồng minh bản địa đã tiến hành bao vây thành Tống Bình vào đầu năm 863, đánh bại quân Đường và chiếm giữ thủ phủ trong suốt ba năm. Đến năm 866, Tiết độ sứ nhà Đường là Cao Biền đã đánh chiếm lại thành trì và đẩy lùi quân Nam Chiếu. Ông cho củng cố và đổi tên thành này thành Đại La thành (大羅城, thành Đại La).
Năm 866, An Nam được đổi tên thành Tĩnh Hải quân. Đầu thế kỷ thứ 10, khi Trung Hoa rơi vào thời kỳ cát cứ phân liệt, các hào trưởng bản địa thuộc Họ Khúc, tiếp đó là Dương Đình Nghệ, đã nối tiếp nhau cai trị Tĩnh Hải quân theo thể chế tự chủ dưới chức danh Tiết độ sứ của nhà Đường, nhưng chưa chính thức xưng vương.
Thời kỳ tự chủ (905–938)

Kể từ năm 905, Tĩnh Hải quân nằm dưới sự quản lý của các thủ lĩnh bản địa người Việt như một thực thể tự trị. Tĩnh Hải quân duy trì việc cống nạp cho nhà Hậu Lương để đổi lấy sự công nhận chính trị. Đến năm 923, nhà Nam Hán ở lân cận đem quân xâm lược Tĩnh Hải quân nhưng đã bị người lãnh đạo đất Việt là Dương Đình Nghệ đánh đuổi. Tuy nhiên, Dương Đình Nghệ bị ám sát vào năm 937 bởi Kiều Công Tiễn để chiếm chức và cầu viện nhà Nam Hán. Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, đã nhanh chóng lật đổ phe phản trắc này và đánh tan hạm đội thuyền chiến can thiệp của Nam Hán trong trận thủy chiến sông Bạch Đằng vào cuối năm 938. Năm 939, ông xưng Vương (vua) và chọn tòa thành cổ Cổ Loa làm kinh đô. Tĩnh Hải quân trở thành một quốc gia độc lập trên thực tế, và thời điểm này có thể được xem là mốc đánh dấu lịch sử Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ của riêng mình.
Thời kỳ phong kiến (939–1945)
Thông qua việc sử dụng Chữ Hán và viện dẫn các điển tịch Trung Hoa, các quân chủ Đại Việt đã củng cố tính chính danh vương quyền, tự khẳng định vị thế như những quân vương làm chủ cõi trời Nam và là những bậc 'thiên tử' cai quản bờ cõi của riêng mình, sánh ngang với Trung Hoa về văn hiến, thuật trị quốc và bề dày lịch sử. Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13, triều Lý đã củng cố quyền lực trung ương tập quyền trong khi vẫn duy trì mối quan hệ triều cống nhưng hoàn toàn tự chủ với nhà Tống. Triều Trần kế tục đã thắt chặt sự gắn kết nội bộ dòng tộc và lãnh đạo quân dân đẩy lùi các cuộc xâm lược của đế chế Mông–Nguyên. Vào thế kỷ 15, sau một giai đoạn đô hộ ngắn ngủi của nhà Minh, nền độc lập dân tộc được khôi phục dưới triều đại nhà Lê, triều đại đã đề cao nền trị trị Nho giáo và đẩy mạnh công cuộc mở rộng cương vực lãnh thổ. Tình trạng phân liệt chính trị tiếp diễn trong thế kỷ 17 và 18 khi hai chính quyền đối địch cùng cai quản hai miền đất nước: Đàng Ngoài và Đàng Trong, cho đến khi triều Nguyễn thống nhất giang sơn vào thế kỷ 19 trước khi đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, sáp nhập vào Liên bang Đông Dương và đi tới hồi kết của chế độ quân chủ.
Học vấn và chữ nghĩa phần lớn vẫn là đặc quyền của tầng lớp thượng lưu. Ban đầu, văn tự hành chính và học thuật hoàn toàn sử dụng chữ Hán, nhưng đến thế kỷ 13, một hệ thống văn tự phái sinh là chữ Nôm đã ra đời, cho phép ghi lại tiếng nói bản địa của người Việt. Tuy nhiên, chữ Nôm chủ yếu chỉ giới hạn trong sáng tác thơ văn, văn học và các tài liệu thực dụng như y học; trong khi toàn bộ chiếu chỉ, văn kiện hành chính của triều đình vẫn dùng Hán văn. Ngoại trừ một số nghề khai khoáng và đánh bắt thủy hải sản, nông nghiệp là sinh kế căn bản của tuyệt đại đa số người dân Việt, và các hoạt động phát triển kinh tế thương mại nhìn chung không được nhà nước phong kiến thực sự khuyến khích hay chú trọng thúc đẩy.
Các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê (939–1009)

Năm 939, Ngô Quyền xưng Vương nhưng chỉ trị vì được 6 năm thì qua đời. Sau khi ông qua đời, anh vợ của ông là Dương Tam Kha cướp ngôi con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, sau bị em trai của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Văn làm phản, đón Xương Ngập về cùng làm vua. Năm 965, Xương văn mất, châm ngòi cho cuộc tranh giành vương vị khốc liệt, dẫn tới cuộc nội chiến quy mô lớn đầu tiên của đất nước: Loạn 12 sứ quân. Các sứ quân cát cứu cho đến năm 968, khi lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh bình định được các sứ quân khác, thống nhất lại giang sơn. Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều Đinh vào năm 968, tự xưng là Đinh Tiên Hoàng và đổi quốc hiệu từ Tĩnh Hải quân thành Đại Cồ Việt, định đô tại kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình). Trong quan hệ bang giao với Trung Hoa kể từ thời Đinh Bộ Lĩnh, các triều đại phong kiến Việt Nam duy trì lệ xưng vương khi giao hảo đối ngoại nhưng vẫn ngầm khẳng định vị thế hoàng đế trong nội trị quốc gia.
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng cùng con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn bị viên quan Đỗ Thích ám sát, khiến người con trai duy nhất còn sống là ấu chúa 6 tuổi Đinh Toàn lên nối ngôi. Chớp lấy cơ hội triều đình đang rối ren, nhà Tống đã xua quân xâm lược Đại Cồ Việt. Trước mối họa xâm lăng đe dọa nền độc lập non trẻ, Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn được triều thần tôn lên ngôi hoàng đế, thay thế nhà Đinh và sáng lập nên triều Tiền Lê. Là một nhà quân sự mưu lược, Lê Hoàn nhận thấy sự nguy hiểm nếu đối đầu trực diện với đại quân Tống; do đó, ông đã khéo léo lừa đạo quân xâm lược vào ải Chi Lăng, bày trận phục kích chém chết chủ tướng giặc là Hầu Nhân Bảo, nhanh chóng dập tan mối họa xâm lược vào năm 981. Quân Tống buộc phải rút quân và Lê Hoàn được triều đình tôn xưng là Lê Đại Hành Hoàng đế. Nhà Tống sau đó đã cử ba đoàn sứ giả vào các năm 986, 990 và 998 sang Đại Cồ Việt, chính thức bình thường hóa mối quan hệ bang giao giữa hai quốc gia.
Trước đó, vua nước Chăm Pa là Paramesvaravarman I đã mở cuộc tấn công vào Đại Cồ Việt vào cuối năm 979 dưới danh nghĩa phò tá Ngô Nhật Khánh, một cựu sứ quân người Việt thời kỳ Loạn 12 sứ quân từng chạy sang tị nạn tại Chăm Pa nhưng kế hoạch bất thành khi một cơn bão ập đến phá hủy gần như toàn bộ hạm đội thuyền chiến Chăm Pa, bản thân Ngô Nhật Khánh cũng bị chết đuối. Sang năm sau, Lê Hoàn phái một đoàn sứ bộ sang Chăm Pa, tuy nhiên các sứ giả đã bị vua Chăm bắt giữ. Vua Đại Cồ Việt sau đó thân chinh thống lĩnh đại quân tiến công xuống phương nam, chém chết Paramesvaravarman ngay trên chiến địa và phá hủy kinh thành Indrapura. Hoàng tử Jaya Indravarman IV của Paramesvaravarman phải chạy trốn về phương nam lánh nạn.
Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà dẫn tới sự tranh giành ngôi báu đẫm máu giữa các hoàng tử. Người thắng cuộc sau cùng là Lê Long Đĩnh, người sau này trở thành một trong những vị hôn quân khét tiếng bậc nhất trong sử Việt. Ông nghĩ ra những hình phạt tàn nhẫn đối với tù nhân để mua vui và đắm chìm trong lối sống trụy lạc. Về cuối đời, Lê Long Đĩnh mắc bệnh nặng đến mức phải nằm khi thiết triều cùng quần thần và qua đời khi mới 24 tuổi.
Các triều đại Lý, Trần và Hồ (1009–1407)
Khi Lê Long Đĩnh qua đời vào năm 1009, Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn được triều thần đồng lòng suy tôn lên ngôi hoàng đế, sáng lập nên triều Lý. Sự kiện này được xem là bước mở đầu cho một thời kỳ hoàng kim rực rỡ trong lịch sử dân tộc, đặt tiền đề cho các vương triều kế tục kế thừa sự thịnh vượng và tiếp tục củng cố, mở mang bờ cõi. Cách thức Lý Công Uẩn đăng cơ là một tiền lệ đặc biệt hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Là một võ tướng cao cấp nắm quyền binh tại kinh đô, ông có mọi cơ hội để đoạt lấy quyền lực trong những năm tháng biến loạn sau khi Lê Hoàn mất, nhưng với tinh thần tận trung, ông đã không làm vậy. Ông được quần thần tôn lập qua quá trình thảo luận và đạt được sự đồng thuận cao trong triều đình.
Các vị quân vương thời Lý có công đặt nền móng vững chắc cho nền độc lập và thể chế của Đại Việt. Năm 1010, Lý Công Uẩn ban bố Chiếu dời đô, chuyển kinh đô của Đại Cồ Việt từ Hoa Lư, nơi có địa thế quân sự hiểm trở bao bọc bởi núi sông về kinh đô mới là Đại La (Hà Nội), nơi sau đó được ông đổi tên thành Thăng Long (Rồng bay lên) sau khi tương truyền nhìn thấy rồng vàng bay lượn trên nền trời khi thuyền ngự vừa cập bến. Việc dời đô cho thấy Lý Công Uẩn đã từ bỏ tư duy phòng thủ quân sự thuần túy của các triều đại tiền nhiệm, thay vào đó hướng tầm nhìn xây dựng một nền kinh tế cường thịnh làm gốc rễ cho sự trường tồn của quốc gia. Vị hoàng đế thứ ba của triều đại, Lý Thánh Tông, đã đổi quốc hiệu thành "Đại Việt" (大越). Các vị hoàng đế kế tiếp của nhà Lý tiếp tục lập nên nhiều thành tựu lớn: đắp hệ thống đê điều dọc các triền sông để bảo vệ mùa màng; sáng lập Quốc Tử Giám làm trường đại học đầu tiên; mở các kỳ thi Nho học Tam khoa định kỳ ba năm một lần để kén chọn hiền tài trong dân gian; hoàn thiện hệ thống thuế khóa; áp dụng các chính sách nhân đạo trong xét xử tù nhân. Phụ nữ giữ vị trí quan trọng trong xã hội thời Lý khi các cung nữ, phu nhân trong triều được giao đảm trách việc thu thuế. Dòng Phật giáo Kim cương thừa từ vương quốc Đại Lý lân cận cũng có ảnh hưởng tới tín ngưỡng của người Việt thời bấy giờ. Các vua triều Lý đều tôn sùng và nâng đỡ cả Phật giáo lẫn Đạo giáo thành những chỗ dựa tâm linh của quốc gia.
Dưới triều Lý, Đại Việt đã trải qua một cuộc kháng chiến quy mô lớn chống lại quân xâm lược Tống, đồng thời mở một số chiến dịch tiến đánh vương quốc Chăm Pa ở phương nam. Sự kiện nổi bật nhất diễn ra trên đất Quảng Tây vào cuối năm 1075. Nhận thấy nguy cơ xâm lược từ nhà Tống đã cận kề, quân đội Đại Việt dưới sự thống lĩnh của danh tướng Lý Thường Kiệt và Tông Đản đã áp dụng chiến thuật "tiên phát chế nhân", bất ngờ vượt biên giới tập kích phá hủy ba căn cứ hậu cần quân sự trọng yếu của quân Tống tại Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu thuộc Quảng Đông và Quảng Tây, tiêu diệt khoảng 10 vạn quân Tống. Triều đình Tống sau đó điều đại quân sang báo thù vào năm 1076, nhưng đạo quân xâm lược đã bị chặn đứng hoàn toàn tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu, Bắc Ninh), cách kinh đô Thăng Long chừng 40 km. Chiến cuộc giằng co kéo dài, triều đình Đại Việt chủ động đề nghị nghị hòa để giữ hòa khí, phía Tống chấp thuận lui quân. Chăm Pa cùng Đế quốc Khmer hùng mạnh đã nhân lúc Đại Việt đang dồn sức đối phó với nhà Tống để quấy nhiễu các châu hạt phía nam, rồi liên quân xâm lược Đại Việt vào các năm 1128 và 1132. Nhiều cuộc đụng độ khác tiếp tục kéo dài suốt những thập niên sau đó.
Đến cuối thế kỷ 12, khi vương triều nhà Lý suy vi, dòng họ Trần tại vùng Nam Định dần thâu tóm đại quyền. Năm 1224, Thái sư Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông xuất gia đi tu và đưa người con gái út mới 8 tuổi là Lý Chiêu Hoàng lên kế vị ngai vàng. Trần Thủ Độ sau đó sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Chiêu Hoàng với cháu mình là Trần Cảnh, rồi tiến hành nghi thức nhường ngôi từ Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh, chính thức mở ra triều đại Nhà Trần.
Trần Thủ Độ đã thẳng tay thanh trừng tôn thất nhà Lý; một số tông thất nhà Lý buộc phải vượt biển lánh nạn sang Cao Ly, trong đó có hoàng tử Lý Long Tường. Sau biến cố chuyển giao vương quyền, các vị vua thời Trần tiếp tục điều hành đất nước kế thừa các nền tảng từ thời Lý. Những thành tựu nổi bật của thời Trần gồm có việc lập sổ hộ tịch quản lý hộ khẩu đến tận cấp làng xã, hoàn thành bộ quốc sử 30 quyển Đại Việt sử ký do Lê Văn Hưu biên soạn, và sự nâng tầm vị thế của chữ Nôm trong sinh hoạt văn hóa dân tộc. Nhà Trần cũng áp dụng một thể chế truyền ngôi độc đáo: khi thái tử đến tuổi trưởng thành, hoàng đế đương triều sẽ chủ động thoái vị nhường ngôi và lui về làm Thái Thượng hoàng, giữ vai trò chỉ dẫn và kèm cặp cho vị hoàng đế trẻ.
Dưới triều đại nhà Trần, quân đội của Đế quốc Mông Cổ và triều Nguyên dưới sự chỉ đạo của Mông Kha và Hốt Tất Liệt đã ba lần đem quân xâm lược Đại Việt vào các năm 1258, 1285 và 1287–1288. Dưới sự lãnh đạo kiên cường của triều đình nhà Trần, Đại Việt đã ba lần đánh tan các đạo quân Nguyên Mông hùng hậu bậc nhất thế giới thời bấy giờ, đập tan đạo quân được ước tính từ 30 vạn đến 50 vạn lính chiến. Điểm mấu chốt làm nên chiến thắng của Đại Việt là tránh thế mạnh kỵ binh thiện chiến của giặc trên bình nguyên và tránh cố thủ trong thành lũy, quân dân nhà Trần đã thực hiện chiến thuật vườn không nhà trống, chủ động rút khỏi kinh đô và các đô thành. Quân Nguyên sau đó bị bẻ gãy ý chí tại những khu vực địa hình đầm lầy hiểm trở như các trận Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp và trên sông nước như Vân Đồn, Bạch Đằng. Đạo quân xâm lược cũng bị tiêu hao sinh lực nặng nề bởi khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, dịch bệnh và các đòn phục kích chặn cắt đường tiếp tế hậu cần của quân đội nhà Trần. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lên tới đỉnh cao khi toàn bộ đoàn thuyền chiến rút lui của giặc bị tiêu diệt hoàn toàn trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288. Linh hồn quân sự đằng sau những chiến công hiển hách này chính là Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, người thường được biết đến với tên gọi Trần Hưng Đạo. Sau các đợt kháng chiến thắng lợi, để tránh các cuộc xung đột gây kiệt quệ cho đất nước, Đại Việt và Chăm Pa vẫn thực hiện nghĩa vụ triều cống ngoại giao trên danh nghĩa với triều Nguyên.[cần dẫn nguồn]
Năm 1288, nhà thám hiểm người Venezia Marco Polo đã ghé thăm Chăm Pa và Đại Việt. Cũng trong giai đoạn này, các cuộc xung đột vũ trang giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa ở phương nam tiếp tục diễn ra, nối dài tiến trình mở rộng bờ cõi về phía nam (Nam tiến) vốn khởi nguồn từ sau khi giành độc lập ở thế kỷ 10. Quân đội Đại Việt thường vấp phải sự kháng cự quyết liệt từ người Chăm. Sau liên minh hòa hảo giữa hai nước trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm là Chế Mân (Jaya Simhavarman III), qua đó tiếp nhận hai châu Ô và Lý (vùng đất quanh Huế ngày nay) qua con đường hòa bình. Không lâu sau hôn lễ, Chế Mân qua đời, công chúa được tướng Trần Khắc Chung giải cứu về Thăng Long nhằm tránh tục hỏa táng theo chồng của hoàng gia Chăm Pa. Chăm Pa trở thành chư hầu của Đại Việt vào năm 1312, nhưng mười năm sau họ đã giành lại độc lập và phát động cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm nhằm đòi lại những vùng đất này, nhân lúc nhà Trần bước vào giai đoạn suy thoái trong thế kỷ 14. Dưới sự chỉ huy của vị vua kiệt xuất Chế Bồng Nga (Po Binasuor, trị vì 1360–1390), quân Chăm đã đánh bại và chém chết vua Trần Duệ Tông ngay tại thành Vijaya (1377). Nhiều cuộc bắc phạt của quân đội Chăm Pa từ năm 1371 đến 1390 đã nhiều lần đánh phá, thiêu rụi kinh thành Thăng Long và tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế Đại Việt. Dù vậy, vào năm 1390, đợt tiến công thủy binh cuối cùng của Chế Bồng Nga nhằm vào Thăng Long đã bị chặn đứng bởi tướng Trần Khát Chân, khi quân Đại Việt sử dụng hỏa pháo bắn trúng thuyền ngự và tiêu diệt vua Chăm.
Những cuộc chiến tranh liên miên với Chăm Pa và các đợt kháng chiến chống Mông Cổ đã khiến Đại Việt rơi vào cảnh kiệt quệ và khủng hoảng nghiêm trọng. Vương triều nhà Trần suy sụp dần và bị thao túng bởi quyền thần Hồ Quý Ly. Năm 1400, Hồ Quý Ly ép vị hoàng đế cuối cùng của nhà Trần thoái vị, tự lập làm vua và đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, dời đô về thành Tây Đô (Thanh Hóa). Thăng Long được đổi tên thành Đông Đô. Mặc dù thường phải chịu định kiến lịch sử vì làm mất lòng dân dẫn tới việc đất nước rơi vào tay giặc Minh sau đó, triều đại Hồ Quý Ly thực tế đã khởi xướng nhiều cuộc cải cách táo bạo và tiến bộ, bao gồm việc đưa toán học vào các kỳ thi cử, công khai phê phán tư tưởng hủ Nho, phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng, đẩy mạnh đúc thần cơ sang pháo, đóng chiến thuyền cỡ lớn và ban hành chính sách hạn điền, hạn nô. Năm 1401, ông nhường ngôi cho con trai là Hồ Hán Thương để làm Thái Thượng hoàng, tương tự như quy chế phụ chính của các vua nhà Trần.
Bắc thuộc lần 4 (1407–1427)
Năm 1407, quân Minh sang xâm lược Đại Ngu với cớ đánh đuổi nhà Hồ khôi phục nhà Trần (Phù Trần diệt Hồ). Quân Minh nhanh chóng đánh bại quân Đại Ngu, giai đoạn này gọi là Bắc thuộc lần 4.
Các lực lượng của Nhà Hậu Trần đã nổi dậy từ 1407–1413 để chống lại quân Minh nhưng cũng bị đánh dẹp.
Một thủ lĩnh Giao Chỉ là Lê Lợi khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của Nhà Minh. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi năm 1427, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra Nhà Hậu Lê.
Thời kỳ trung hưng (1428–1527)

Năm 1427, Lê Lợi sau khi đánh bại quân Minh lập ra Nhà Hậu Lê, giai đoạn này còn được gọi là Nhà Lê sơ
Bài chi tiết: Nhà Lê sơ
Thời kỳ chia cắt (1527–1802)

Bắt nguồn từ thời kỳ Nam – Bắc triều, năm 1527, sau khi giành ngôi từ nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung đã lập nên nhà Mạc. Nhà Hậu Lê (sử gọi là nhà Lê trung hưng) được tái lập vào năm 1533 với sự giúp đỡ của Nguyễn Kim, một tướng cũ và giành được sự kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Định. Sau khi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh Kiểm đã giành quyền bính, 60 năm kế tiếp, Trịnh Kiểm và các con cháu của ông đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm 1592 và mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời kỳ vua Lê chúa Trịnh.
Việt Nam giai đoạn này trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Mạc (1527–1592), nhà Lê trung hưng (1533–1789), chúa Trịnh (1545–1787), chúa Nguyễn (1558–1777) và nhà Tây Sơn (1778–1802).

Sự mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê Trung Hưng là Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng (trấn thủ xứ Thuận Hóa và Quảng Nam) đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ. Trong khi Trịnh Kiểm tìm cớ giết Nguyễn Uông (con cả của Nguyễn Kim) thì Nguyễn Hoàng chạy vào Thuận Hóa lập cát cứ, hai chính quyền riêng biệt là Đàng Ngoài và Đàng Trong với sông Gianh (Quảng Bình) làm biên giới. Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở Đàng Ngoài được gọi là các chúa Trịnh, các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầm quyền ở Đàng Trong được gọi là các chúa Nguyễn, các vua Lê chỉ có danh vị hoàng đế của Đại Việt trên danh nghĩa.
Thời kỳ Đại Việt chia thành hai lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong cũng là thời kỳ hoạt động ngoại thương sôi động, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều tham gia vào hệ thống giao thương toàn cầu bởi các thương nhân châu Âu, Nhật Bản, Trung Hoa đến Đại Việt buôn bán. Người Hà Lan, Anh, Pháp lập các thương điếm tại Kẻ Chợ (Hà Nội), người Bồ Đào Nha, Anh, Nhật Bản đặt các thương điếm tại Faifo (Hội An). Các mặt hàng chính được xuất khẩu từ Đại Việt là tơ lụa, hồ tiêu, gốm sứ. Tuy nhiên, sang đến thế kỷ XVIII thì hoạt động thương mại giảm sút ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.
Cùng với sự giao thương buôn bán với các nước phương Tây và Nhật Bản, đạo Công giáo cũng bắt đầu được truyền vào Đại Việt qua các giáo sĩ phương Tây theo các tàu buôn vào giảng đạo ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong. Nền tảng vững chắc của Công giáo tại Việt Nam được các thừa sai Dòng Tên xây dựng vào thế kỉ 17.
Mở rộng lãnh thổ về phương Nam

Dấu ấn về việc mở rộng đất nước trong thời kỳ phong kiến này chính là sự bành trướng xuống phương Nam, cuộc Nam tiến nhằm tìm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho sự gia tăng dân số của Đại Việt. Với một quân đội có tổ chức tốt hơn, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, sau các cuộc chiến tranh cũng như hôn nhân chính trị giữa Đại Việt và Chăm Pa, lãnh thổ Đại Việt đã được mở rộng thêm từ dãy Hoành Sơn (bắc Quảng Bình) tới đèo Cù Mông (bắc Phú Yên).
Từ thế kỷ XVII, Đàng Trong là một lãnh thổ, chính quyền riêng biệt với Đàng Ngoài, do các chúa Nguyễn cai quản. Các chúa Nguyễn về danh nghĩa là quan của nhà Hậu Lê, nhận lệnh vua Lê cai quản phía Nam, nhưng thực tế họ cai trị Đàng Trong tương đối độc lập, ít khi nhận lệnh từ nhà Hậu Lê. Nhằm tiếp tục tìm kiếm thêm diện tích đất đai cho sự gia tăng dân số, cũng như tăng cường quyền lực các chúa Nguyễn đã lần lượt tiến hành các cuộc chiến tranh với Chăm Pa và sáp nhập hoàn toàn phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) vào năm 1693.
Tiếp đó, sau các cuộc di dân của người Việt từ Đàng Trong vào sinh sống ở vùng đất của người Khmer, các chúa Nguyễn lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố chính trị khác, từ năm 1698 đến năm 1757, chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn Nam Bộ ngày nay vào sự kiểm soát của mình.
Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan. Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ XVII, Côn Đảo từ năm 1704, Phú Quốc từ năm 1708 và quần đảo Trường Sa từ năm 1816.
Sự khác biệt về văn hóa giữa hai miền có lẽ bắt nguồn từ cuộc Nam tiến này. Văn hóa Nho giáo trong chính quyền miền Nam không phát triển nhiều, do họ chịu ảnh hưởng phần nào của văn hóa Champa, văn hóa Khmer. Ngày nay, người miền Bắc tiết kiệm, bảo vệ nhóm, giỏi ứng xử; người miền Nam thoải mái trong đời sống, trong suy nghĩ và thẳng thắn. Tổ chức hành chính cũng khác biệt. Cách tổ chức chính quyền tỉ mỉ ở miền Bắc đã được đơn giản hóa ở miền Nam.
Thời kỳ thống nhất (1802–1858)

Từ giữa thế kỷ XVIII, các cuộc chiến liên tục giữa Đàng Trong với vương quốc Khmer, Ayutthaya cũng như các cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài làm cho đời sống người dân thêm cùng quẫn. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra, song phần lớn chịu thất bại. Tới phong trào nổi dậy của Tây Sơn bùng nổ năm 1771 tại Quy Nhơn (Bình Định) đã phát triển rộng lớn đánh bại hai chế độ cai trị của hai họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt việc chia đôi đất nước, cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa.
Nhà Tây Sơn đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm La (năm 1784) tại miền Nam và 29 vạn quân Mãn Thanh (năm 1789) xâm lược tại miền Bắc. Vua Tây Sơn là Nguyễn Huệ chính thức trở thành vua của Đại Việt, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống nhất hầu hết lãnh thổ từ miền Bắc vào tới Gia Định. Tuy nhiên sau cái chết của ông năm 1792, nội bộ lục đục khiến chính quyền Tây Sơn càng ngày càng suy yếu.
Một người thuộc dòng dõi chúa Nguyễn ở miền Nam là Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu thuẫn và cố vấn của một số người Pháp, đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802. Ông lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long và trở thành vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, với lãnh thổ gồm hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải. Năm 1804, ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam.
Gia Long (1802–1820) đóng đô ở Huế, ông cho xây dựng kinh đô Huế tương tự như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820–1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm và phương pháp hành chính của Trung Quốc thời nhà Thanh. Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) đã nhận thấy sự tụt hậu và trì trệ của đất nước, họ đề nghị triều đình nên học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp – thương mại, nhưng các quan lại này chỉ là thiểu số. Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tục Thiệu Trị (1841–1847) và Tự Đức (1847–1883) chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản), tiếp tục cấm buôn bán với nước ngoài.
Ngoài ra, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức ngăn cấm truyền bá Công giáo mà họ coi là "tả đạo". Tiếp nối các thừa sai Dòng Tên dưới quy chế bảo trợ Bồ Đào Nha là các thừa sai Pháp và Tây Ban Nha đến truyền giáo từ nửa sau thế kỉ 17. Một số giáo sĩ Pháp nổi bật cũng hỗ trợ nhân lực và vật lực cho nhà Nguyễn trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn dẫn đến chiến thắng của vua Gia Long. Đến giữa thế kỷ 19, có khoảng 450.000 người Công giáo. Chính quyền nhà Nguyễn dưới các triều vua này lo ngại sự lớn mạnh của một tôn giáo khác biệt và có tổ chức nên đã ra lệnh cấm truyền đạo Công giáo, đồng thời đàn áp những người theo đạo Công giáo và san bằng nhiều xóm đạo.
Thời kỳ hiện đại (1858–nay)
Thời kỳ Pháp thuộc (1858–1945)

Ngày 31 tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn. Tháng 6 năm 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Nam Kỳ (Cochinchine). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ. Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất hòa giữa người Việt và người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát nổi mối bất hòa này. Cả Trung Hoa và Pháp đều coi khu vực này thuộc tầm ảnh hưởng của mình và gửi quân đến đó, nhưng cuối cùng thì người Pháp đã chiến thắng.
Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảo hộ" Bắc Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các vua nhà Nguyễn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945) cùng bộ máy quan lại. Nhà Nguyễn tuy tiếp tục tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng chỉ còn quyền lực hạn chế, mọi vấn đề lớn phải được Toàn quyền Đông Dương của Pháp thông qua. Vào năm 1885, các quan lại Việt Nam tổ chức phong trào kháng chiến Cần Vương chống Pháp nhưng thất bại. Các vua Nguyễn là Hàm Nghi, Duy Tân và Thành Thái có ý phản kháng đều bị Pháp truất ngôi và đưa đi đày.
Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương là Phủ toàn quyền Đông Dương (ban đầu thủ phủ ở Sài Gòn, năm 1902 đặt ở Hà Nội). Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đông Dương, là người có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên. Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ, cả ba đều nằm dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của viên Toàn quyền Đông Pháp, trực thuộc bộ Thuộc địa. Đến năm 1893, quyền kiểm soát của Toàn quyền Đông Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai Lao.
Sau thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19, người Pháp đã cũng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt Nam. Cuộc cải cách trong giáo dục trong thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền nho học với chữ Hán cả nghìn năm trong chế độ phong kiến Việt Nam để thay thế bằng phong trào tân học theo chữ quốc ngữ đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới, đó là những người xuất thân từ truyền thống nho giáo nhưng được tiếp cận với văn hóa phương Tây. Đại diện tiêu biểu cho giới này là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đã mở đầu cho Phong trào Duy Tân và Phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớp người Pháp cai trị. Tuy nhiên sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ.
Cuối thập niên 1920, những người Việt cấp tiến dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tam Dân đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng. Tuy nhiên, đến năm 1930, sau khi cuộc Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm đó, một số thanh niên Việt Nam theo Chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp.
Chiến tranh thế giới thứ hai
Nhật Bản tấn công Đông Dương vào năm 1940 và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để cho Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Chính quyền thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật tấn công toàn bộ Đông Dương. Ngay sau đó, Nhật thiết lập một chính quyền thân Nhật với quốc vương Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim, đặt quốc hiệu mới đế quốc Việt Nam và quốc kỳ là cờ quẻ ly.
Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận của Đảng Cộng sản Đông Dương được điều hành từ Pắc Bó (ở biên giới Việt – Trung) bởi Hồ Chí Minh khi ông trở về nước lần đầu tiên kể từ năm 1911 (năm ông rời Việt Nam), mặc dù ông có liên hệ với những người Cộng sản trong nước trong các thập niên 1920 và 1930.
Ngày 11 tháng 3 năm 1945 khi quân đội Nhật Bản làm cuộc đảo chính lật đổ chính phủ Bảo hộ của Pháp, được sự hậu thuẫn và kiểm soát của Nhật, hoàng đế Bảo Đại ban ra một chiếu chỉ với nguyên văn:
- "Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một quốc gia độc lập."
Trần Trọng Kim được bổ nhiệm làm thủ tướng một chính phủ mới với danh xưng Đế quốc Việt Nam, nhưng hầu hết quyền lực của chính phủ này do lực lượng phát xít Nhật nắm giữ. Trên thực tế, Đế quốc Việt Nam là một chính phủ bù nhìn do Đế quốc Nhật Bản dựng lên. Đến ngày 14 tháng 8 năm 1945 khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh (bao gồm cả Việt Minh tại Việt Nam), chính quyền Trần Trọng Kim bên bờ vực sụp đổ. Lúc này, Việt Minh kiểm soát toàn bộ khu vực nông thôn, chính quyền Trần Trọng Kim và quân đội Nhật chỉ còn cố cầm cự ở một số thành phố lớn. Trong thời gian cầm quyền, chính phủ Trần Trọng Kim không tổ chức được Tổng tuyển cử nên không trở thành chính phủ chính thức mà chỉ là chính phủ lâm thời, chưa phải là người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam.
Đầu năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này.
Thời kỳ cộng hòa (1945–nay)
Bài viết này hiện đang gây tranh cãi về tính trung lập. |
Tuyên bố độc lập

Tuyên bố Potsdam của Anh, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc gửi Nhật ngày 26 tháng 7 năm 1945 không nói rõ phần lãnh thổ nào của Đông Dương sẽ do ai giải giới vũ khí mà chỉ nói các vùng lãnh thổ do Nhật Bản chiếm được bằng vũ lực sẽ được các nước đồng minh vào giải giới. Tuyên bố cũng không nhắc đến việc vùng nào do ai giải giới mà chỉ nói là phe Đồng minh (bao gồm cả Việt Minh) sẽ tham gia giải giới. Tuy nhiên, Thủ tướng Nhật lúc đó là Suzuki tuyên bố bác bỏ Tuyên bố Potsdam cũng như Tuyên bố Cairo trước đó. Tới ngày 10 tháng 8 năm 1945, phía Nhật mới chấp nhận Tuyên bố Potsdam và đầu hàng quân Đồng Minh.
Trước đó, lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã liên tục chống phát xít Nhật và thực dân Pháp từ thập niên 1930. Đặc biệt, trong năm 1945, Việt Minh đã nhiều lần tổ chức cho quần chúng nhân dân cướp các kho gạo của Nhật để cứu đói. Tới tháng 8 năm 1945, lực lượng Việt Minh lãnh đạo đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám, giành lấy quyền lực ở hầu khắp các tỉnh tại Việt Nam (trừ một số tỉnh biên giới giáp Trung Quốc). Chính quyền phát xít Nhật khi đó đã đầu hàng Đồng Minh, Hoàng đế Bảo Đại thoái vị và trở thành cố vấn tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập và thống nhất từ miền Bắc tới miền Nam. Đầu năm 1946, một cuộc bầu cử toàn quốc đã được tổ chức. Các đại biểu Việt Minh chiếm ưu thế, song các phe phái khác cũng được mời tham gia chính phủ một cách rộng khắp. Quốc kỳ được chọn là cờ nền đỏ, sao vàng năm cánh, hiến pháp được thông qua. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức trở thành người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam.
Kháng chiến chống Pháp (1946–1954)
Tuy nhiên, nền độc lập của Việt Nam bị đe dọa chỉ sau 2 tuần. Ở miền Bắc, Đồng Minh chỉ định quân đội quốc gia Trung Hoa giải giới Nhật Bản. Quân Trung Hoa duy trì ở đó đến tháng 5 năm 1946 rồi chuyển giao cho Pháp trong sự chịu đựng của chính quyền Hồ Chí Minh. Ngược lại, ở miền Nam, quân Nhật được giải giới bởi quân Anh–Ấn. Sau đó, quân Anh–Ấn đã chuyển giao miền Nam cho Pháp khi Pháp trở lại miền Nam Việt Nam vào cuối năm 1945. Trong suốt năm 1946, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đàm phán hòa bình với Pháp, mặc dù vậy hai bên cũng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh. Pháp chỉ công nhận quyền tự trị trong Liên hiệp Pháp của Việt Nam chứ không đồng ý cho Việt Nam độc lập. Sau khi Pháp ra tối hậu thư đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu hàng, chiến tranh giữa Việt Nam và thực dân Pháp bùng nổ tháng 12 năm 1946.
Vào đầu năm 1947, Pháp có vẻ thắng thế và nắm được toàn bộ các đô thị lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì với chiến lược "chiến tranh nhân dân" và chiến thuật du kích, tổ chức và đào tạo nhân dân cho một cuộc chiến vũ trang lâu dài khiến Pháp sa lầy. Tới năm 1949, để giảm bớt gánh nặng, Pháp đàm phán với các chính trị gia người Việt chống nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thành lập một chính phủ mới là Quốc gia Việt Nam. Người đứng đầu chính phủ này là Bảo Đại, vốn là vua cuối cùng của nhà Nguyễn, với cờ Quẻ Ly là quốc kỳ. Chính phủ này có sự tham gia của các quan lại cũ thân Pháp. Pháp hỗ trợ tài chính, vũ khí cũng như nắm quyền chỉ huy, còn Quân đội Quốc gia Việt Nam góp quân tham gia cùng Pháp hòng dập tắt phong trào kháng chiến của Việt Minh.

Năm 1950, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu trợ giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vũ khí. Bên kia, Pháp được Mỹ hậu thuẫn, hỗ trợ phần lớn chiến phí, nhưng đầu thập niên 1950, thế trận của Pháp bắt đầu yếu đi ở Đông Dương. Thất bại ở trận Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã kết thúc hoàn toàn nỗ lực của Pháp và Mỹ nhằm chiếm giữ Việt Nam và toàn bộ Đông Dương.

Sau trận Điện Biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genève năm 1954 để kết thúc chiến tranh. Kết quả Hiệp định Genève được ký kết với nội dung là đình chiến và tạm thời phân chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự tạm thời có ranh giới tại vĩ tuyến 17, ranh giới này không được coi là biên giới chính trị hay biên giới quốc gia. Miền Bắc là nơi tập kết của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Miền Nam là nơi tập kết quân của Liên hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam). Tập kết chính trị tại chỗ, tập kết dân sự theo nguyên tắc tự nguyện. Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định, sau 2 năm, khi Pháp rút quân xong thì cả hai miền sẽ tổ chức tuyển cử để thống nhất đất nước. Dân chúng có quyền lựa chọn cư trú tại miền Bắc hoặc miền Nam. Khoảng 1 triệu người, gồm phần lớn là người theo Công giáo ở miền Bắc đã di cư vào Nam, trong khi 150.000 người (gồm phần lớn là bộ đội chống Pháp người miền Nam) tập kết ra miền bắc.
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền bắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã kêu gọi những giá trị mang tính cộng đồng, hướng lên xã hội chủ nghĩa, bao gồm nông nghiệp - công nghiệp tập thể. Đa số dân chúng đã ủng hộ hết mình cho chính quyền Hồ Chí Minh. Cải cách ruộng đất trong thập niên 1950 đã giải quyết được vấn đề công bằng ruộng đất cho nông dân nghèo, tuy nhiên một số sai lầm gây ra sự xáo trộn đời sống xã hội miền Bắc trong giai đoạn đầu. Về mặt kinh tế, các nhà máy công nghiệp mới bắt đầu được xây dựng với sự hỗ trợ về vốn, công nghệ của các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa.
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem Hiệp định Genève là một thắng lợi quan trọng vì Hiệp định này quy định một cuộc tổng tuyển cử để thành lập một quốc gia độc lập và thống nhất. Họ tin rằng mình sẽ thắng cử vì uy tín rộng khắp của Hồ Chí Minh lúc đó. Tuy nhiên, cuộc tuyển cử đã không bao giờ diễn ra. Pháp rút quân, Tổng thống Mỹ Eisenhower được báo cáo của CIA cho biết khoảng 80% người Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu mở cuộc tổng tuyển cử Hoa Kỳ quyết định hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ riêng biệt ở phía Nam vĩ tuyến 17, không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo đây là hành động phá hoại Hiệp định Genève.
Chiến tranh Việt Nam (1955–1975)
Trong thời gian 1956-1958, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Quốc gia Việt Nam thi hành tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng bị từ chối. Năm 1955, với sự trợ giúp của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã gian lận để chiến thắng trong Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, cho phép ông phế truất Bảo Đại, lên làm Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam và sau này trở thành Tổng thống của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Bảo Đại phải lưu vong sang Pháp. Mỹ bắt đầu viện trợ cho Ngô Đình Diệm để xây dựng cải cách điền địa, cũng như củng cố quân đội để giữ vững chính phủ thân Mỹ. Tuy nhiên, chính phủ Ngô Đình Diệm đã tổ chức đàn áp chính trị và tôn giáo khiến hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Vào năm 1959, số quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam chỉ vào khoảng vài nghìn người, dưới hình thức là các "cố vấn" cho chính phủ Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên những xáo trộn chính trị vào cuối thập niên 1950 tạo nên sự bất ổn lớn trong xã hội miền Nam. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa bắt đầu thực thi những chính sách "Tố cộng, Diệt cộng", nhiều cuộc thảm sát xảy ra như Vĩnh Trinh, Hướng Điền (Quảng Trị), ở nhà tù Phú Lợi (tàn sát hàng nghìn tù nhân tình nghi là người cộng sản hoặc thân cộng bằng cách bỏ độc vào cơm ăn, nước uống). Các cuộc biểu tình của Phật giáo vốn chiếm số đông trong các tầng lớp dân chúng cũng bị đàn áp, gây ra mâu thuẫn tôn giáo sâu sắc.
Từ năm 1959, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn nhằm kêu gọi chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đầu thập niên 1960, lực lượng vũ trang của Mặt trận này là Quân Giải phóng miền Nam được thành lập và tổ chức bảo vệ các cơ sở chính trị cũ của Việt Minh cũng như bảo vệ người dân trước sự đàn áp của chính quyền Diệm. Mặt trận đã kiểm soát một khu vực rộng lớn ở nông thôn miền nam, và mở nhiều vụ tấn công vào các căn cứ đối phương. Trước đó, Hoa Kỳ đã hỗ trợ tài chính, vũ khí và cố vấn cho chính phủ Ngô Đình Diệm từ năm 1954 để ngăn chặn sự lớn mạnh của Việt Minh tại miền Nam (do tập kết chính trị được phép tiến hành tại chỗ nên các cơ sở chính trị của Việt Nam không phải ra Bắc cùng Quân đội Nhân dân Việt Nam).
Hoa Kỳ tăng cường viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa và gửi 17.500 nhân viên quân sự đến Việt Nam dưới danh nghĩa "cố vấn". Tuy nhiên, những mâu thuẫn giữa chính phủ Ngô Đình Diệm với phật giáo Việt Nam, việc chống quân Giải phóng miền Nam không đạt mục tiêu và thái độ không phục tùng của Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ quyết định loại bỏ Ngô Đình Diệm bằng cách ủng hộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa tiến hành đảo chính. Tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đảo chính và ám sát Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng hòa và thành lập nền Đệ Nhị Cộng hòa. Sau sự kiện này Hoa Kỳ tuyên bố sẽ tiếp tục hỗ trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, tình hình chính trường miền Nam sau đảo chính hết sức hỗn loạn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa bên bờ vực sụp đổ.
Trên chiến trường, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tiếp thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt. Để cứu vãn tình thế, sau khi dựng lên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào tháng 4 năm 1964, Tổng thống Mỹ Johnson có cớ ra Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, theo đó gửi quân đội Mỹ đến Việt Nam trực tiếp tham chiến. Bắt đầu từ tháng 3 năm 1965 lần lượt các đoàn quân được chuyển tới chiến trường Việt Nam cùng với khoảng 20.000 "cố vấn" đã có từ trước, số lượng quân đội Mỹ lên tới khoảng 540.000 người vào thời điểm năm 1968. Chiến tranh bùng nổ ác liệt năm 1964 ở khu vực Nam Việt Nam, các vùng biên giới với Campuchia và Lào, và các trận không kích của Mỹ đánh vào miền Bắc Việt Nam. Một bên là Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ gồm Hàn Quốc, Thái Lan, Úc, New Zealand, Philippines tham chiến trực tiếp. Một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham chiến, còn Liên Xô và Trung Quốc chỉ cung cấp viện trợ quân sự và huấn luyện.
Sau giai đoạn đảo chính liên tiếp, năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa. Ở miền Bắc, Lê Duẩn là lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969.
Đầu năm 1968, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhân dân địa phương mở cuộc tổng tấn công Chiến dịch Tết Mậu Thân vào hầu hết các thành phố chính ở miền Nam Việt Nam, tuy thất bại về mặt chiến thuật nhưng đã đạt được mục đích đề ra: khiến cho Chính phủ và dân chúng Mỹ mất lòng tin vào khả năng chiến thắng của quân đội Mỹ ở Việt Nam cũng như buộc Chính phủ Mỹ phải ngồi đàm phán với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tới tháng 11 năm 1968, Johnson tuyên bố dừng hoàn toàn "tất cả cuộc không kích, pháo kích và hải chiến với Bắc Việt Nam" và đồng ý ngồi vào đàm phán. Tuy nhiên, 1 năm sau, Tổng thống kế nhiệm Richard Nixon thông báo Mỹ quay trở lại, Nixon và cố vấn Henry Kissinger cho ra đời chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Vào tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cùng với chiến sự ở chiến trường, cả hai bên đều tìm kiếm giải pháp chấm dứt chiến tranh thông qua các cuộc hội đàm ở Paris. Nội dung đàm phán được thực hiện qua các phiên họp kín giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vốn là 2 bên thực sự điều khiển cuộc chiến (2 đoàn còn lại là Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ tham gia cho có đủ danh nghĩa). Mãi đến tháng 1 năm 1973, Hiệp định Hòa bình Paris mới được ký giữa 4 bên, sau thất bại nặng nề của Mỹ trong các cuộc không kích vào Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố khác ở miền Bắc Việt Nam do không lực Hoa Kỳ tiến hành cuối năm 1972.
Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã tấn công vào quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát và chiếm đóng hoàn toàn quần đảo này.

Sau Hiệp định Paris 1973, quân viễn chinh Mỹ rút khỏi Việt Nam – theo đúng điều khoản đầu tiên của hiệp định là công nhận sự "độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" của Việt Nam. Các điều khoản khác là đình chiến và giữ lãnh thổ của mỗi bên trước khi đình chiến, tổng tuyển cử để xác định chính quyền tương lai ở miền Nam. Hiệp định nói rõ Hoa Kỳ phải triệt thoái quân hoàn toàn trong vòng 60 ngày. Mặc dù đã có hiệp định nhưng Chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp diễn do Quân lực Việt Nam Cộng hòa vi phạm hiệp định. Tiêu biểu, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, QLVNCH đã tấn công cảng Cửa Việt của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Với sự rút quân của Hoa Kỳ cùng với những điểm yếu nội tại của mình, Quân lực Việt Nam Cộng hòa không thể tòn tại được lâu. Đến giữa tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tấn công ở Tây Nguyên, khởi đầu những chiến dịch nối tiếp nhau. Quân Việt Nam Cộng hòa thất bại liên tục, để mất Tây Nguyên rồi Huế, Đà Nẵng sau chưa đầy 1 tháng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam giành được quyền kiểm soát Sài Gòn, chính phủ của Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Thời kỳ đầu sau thống nhất (1976–1986)
Ngày 25 tháng 4 năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất về mặt nhà nước thành một quốc gia có tên chính thức là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan như: chủ trương thống nhất mọi mặt theo tiêu chuẩn miền Bắc (thí dụ, kế hoạch xã hội hóa toàn bộ kinh tế miền Nam nhằm hợp nhất với kinh tế miền Bắc); các cuộc tấn công liên tục vào Nam bộ của quân đội Khmer Đỏ, thiên tai và lũ lụt năm 1977 và 1978, Trung Quốc tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc, di chứng chiến tranh như chất độc da cam, bom mìn chưa nổ... đã tạo ra những gánh nặng lớn cho nền kinh tế. Sự đe dọa của chiến tranh, đời sống giảm sút gây ra một làn sóng người vượt biên ra nước ngoài bắt đầu từ năm 1978, chủ yếu là người Hoa.
Sau chiến tranh Việt Nam, Campuchia nhiều lần xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam dù cho Việt Nam đã có nhiều động thái để duy trì hòa bình. Tháng 5 năm 1975, Khmer Đỏ đã tấn công đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt Nam. Từ năm 1975–1978, tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra thường xuyên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, quân đội Khmer Đỏ nhiều lần tiến hành các cuộc đột kích vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, theo thống kê, có khoảng 30.000 thường dân và hàng nghìn quân lính Việt Nam bị quân đội Khmer Đỏ giết hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới trong thời gian này.
Vào tháng 12 năm 1978, quân Khmer Đỏ mở các cuộc tấn công lớn vào các tỉnh biên giới từ Tây Ninh đến Kiên Giang, thị xã Hà Tiên bị chiếm. Quân đội Việt Nam tổ chức phản công, tới ngày 7 tháng 1 năm 1979, họ tiến quân vào thủ đô Phnom Penh đánh đuổi Khmer Đỏ. Trước việc Khmer Đỏ tổ chức diệt chủng ở Campuchia và tấn công xâm lược vào lãnh thổ của Việt Nam, quân đội Việt Nam buộc phải tiến hành can thiệp. Ngày 8 tháng 1, với sự hậu thuẫn của Việt Nam, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng 10 ngày sau, hội đồng này ký hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia. Tới năm 1989, quân đội Việt Nam rút về nước sau khi chính quyền của Campuchia ổn định, lực lượng diệt chủng bị đẩy lùi.
Sự kiện Việt Nam phản công và lật đổ chế độ Khmer Đỏ ở Campuchia là cái cớ để Trung Quốc, vốn ủng hộ chế độ Khmer Đỏ, có lý do tấn công xâm lược Việt Nam, với tuyên bố của Chủ tịch Trung Quốc là Đặng Tiểu Bình: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam một bài học". Ngày 17 tháng 2 năm 1979, với lực lượng khoảng 400.000 quân, Trung Quốc đã bất ngờ tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Lai Châu, sau 3 tuần đã chiếm được thủ phủ các tỉnh này. Sau sự yếu thế ban đầu, Việt Nam đã tổ chức phản công lại và cùng với những quân đoàn thiện chiến được chuyển từ chiến trường Campuchia ra đã dần giành lại được lợi thế. Tới ngày 18 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi những vùng biên giới mà họ đánh chiếm được.
Sự kiện này đã gây nên cuộc khủng hoảng "Hoa kiều" ở trong nước. Đầu thập niên 1980, nhiều người gốc Hoa do lo sợ chiến tranh giữa hai nước nên đã chạy khỏi Việt Nam về Trung Quốc, hoặc trở thành "thuyền nhân" chạy sang nước khác. Cuộc chiến này cũng đưa tới việc cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hơn 13 năm sau, tới năm 1992, hai nước mới bình thường hóa lại quan hệ ngoại giao.
Cũng trong thời gian này, tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng tàu chiến để tấn công các tàu công binh của phía Việt Nam, mở cuộc hải chiến vào các bãi đá Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa và chiếm đóng Gạc Ma, phía Việt Nam bảo vệ được bãi Cô Lin và Len Đao thành công.
Thời kỳ đổi mới (1986–nay)
Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI tiến hành chính sách "Đổi Mới", đứng đầu là ông Nguyễn Văn Linh, để hợp lý hóa cơ cấu hành chính, cải cách cơ cấu Đảng, chính quyền pháp quyền, dân chủ hơn, cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường với định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Công cuộc đổi mới được phát hành toàn diện, tình hình kinh tế đã được cải thiện đáng kể, từ một nước nhập khẩu và nhận viện trợ của nước ngoài thành nước xuất khẩu. Trước 1989, Việt Nam nhập khẩu lương thực nhưng từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu 1–1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; và tăng dần hàng năm: 4,5 triệu tấn (năm 2004), 4,9 triệu tấn (năm 2005), đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Lạm phát giảm dần (đến năm 1990 còn 67,4%) và năm 2005 lạm phát chỉ còn 8,5%.
Trong thời gian 1991–1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%. Đến tháng 6 năm 1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài lũy kế đã đạt trên 30,5 tỷ USD. Lạm phát giảm từ 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,7% (1996).
Năm 2004, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng là 7,7% cao hơn mức tăng trưởng năm trước và đứng thứ 2 trong khu vực, sau Singapore. (Tổng sản phẩm quốc nội đạt 35 tỷ USD, khoảng bằng GDP của bang Mecklenburg-Vorpommern của Đức). Sự phát triển bền vững được thể hiện qua sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu (tăng 30%) cũng như sự tăng trưởng của sản xuất công nghiệp và xây dựng (10,2%). Năm 2005, tăng trưởng GDP của Việt Nam là 8,5%.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước, có quan hệ buôn bán với trên 150 nước. Các công ty của hơn 100 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.[cần dẫn nguồn]
Năm 1995, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và tiếp đó gia nhập ASEAN, APEC, thành viên diễn đàn ASEM. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán. Vào ngày 16 tháng 10 năm 2007, Việt Nam đã được bầu làm một trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008–2009. Ngay sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cho Đảng Cộng sản Việt Nam phải ngăn chặn, khắc phục triệt để một bộ phận cán bộ, Đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, song song với việc đề cao cảnh giác các thế lực thù địch. Đến năm 2015, kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu hồi phục mạnh mẽ.
Về các tác động ngoại cảnh, các sự kiện tranh chấp ở biển Đông như tàu địa chấn Bình Minh 02 bị hải giám Trung Quốc cắt cáp, Vụ giàn khoan Hải Dương 981 và việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở biển Đông là các sự kiện chính ảnh hưởng đến tình hình chính trị Việt Nam hiện nay. Điều này thúc đẩy Việt Nam tiếp tục đóng góp nhiều hơn vào việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, ký các Hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu.
Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Việt Nam chính thức tham gia thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN – ASEAN Economic Community, viết tắt AEC, gồm 10 quốc gia thành viên. AEC sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tế của khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi lớn, AEC ra đời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN sẽ dẫn đến một số ngành, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút khỏi thị trường. Các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa cạnh tranh của các nước trong ASEAN.
Việc tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội lớn để Việt Nam đẩy mạnh cải cách thể chế, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao trình độ phát triển. Tuy nhiên, trong những năm tới, Việt Nam cũng đứng trước sức ép rất lớn về cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học – công nghệ và năng lực cạnh tranh, trong bối cảnh ASEAN nhảy vọt từ nấc Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) lên nấc thang Cộng đồng Kinh tế (AEC). Hiện nay, trình độ phát triển của Việt Nam còn kém nhiều quốc gia trong ASEAN như: Singapore, Malaysia, Thái Lan Nền quản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế này cho thấy, cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học – công nghệ và năng lực cạnh tranh đang là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam trong giai đoạn tới.
Kỷ nguyên vươn mình (2024 - nay)
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Đại học Columbia, Tổng bí thư Tô Lâm đã phát biểu rằng sau gần 80 năm thành lập đất nước và gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn lịch sử mới. Ông đã nhấn mạnh rằng đây là kỷ nguyên phát triển của Dân tộc. Từ đầu năm 2025 đến nay, việc cải cách hành chính, sắp xếp tinh gọn bộ máy từ cấp trung ương đến địa phương được diễn ra quyết liệt, theo tinh thần "vừa chạy, vừa xếp hàng" mà Nhà nước đề ra, đến 30/6/2025, cả nước hoàn thành cơ bản việc tinh gọn bộ máy từ cấp trung ương đến địa phương.
Tên nước qua các thời kỳ
Tên gọi của Việt Nam qua các thời như sau:
Thời Hồng Bàng
- Văn Lang: thời Hùng Vương
- Âu Lạc: thời An Dương Vương
Thời Bắc thuộc
- Nam Việt: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, đại bộ phận tương đương Quảng Đông, Quảng Tây và một phần tương đương nam bộ Quý Châu hiện nay.
- (thuộc) Giao Chỉ bộ: Bắc thuộc thời Hán, bộ Giao Chỉ gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam.
- (thuộc) Giao Châu: Bắc thuộc từ thời Đông Ngô đến thời Đường, Giao Châu bao gồm cả Quảng Đông.
- Vạn Xuân: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời nhà Tiền Lý (542–602).
- An Nam đô hộ phủ: Bắc thuộc thời Đường (618–866).
- Tĩnh Hải quân: tiếp tục trong thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới hết thời nhà Ngô (866–967).
Thời phong kiến độc lập
- Đại Cồ Việt: thời Nhà Đinh – Nhà Tiền Lê và đầu thời Nhà Lý, từ 968–1054.
- Đại Việt: thời Nhà Lý – Nhà Trần, từ 1054–1400.
- Đại Ngu: thời Nhà Hồ, từ 1400–1407.
- Đại Việt: thời Nhà Hậu Lê-Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn, từ 1428–1804.
- Việt Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1804–1839.
- Đại Nam: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1839–1945.
Thời Pháp thuộc
- (thuộc) Liên bang Đông Dương: nhập chung với Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan từ 1887 đến 1945.
Giai đoạn từ 1945 đến nay
- Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 – tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, là chính phủ bù nhìn của phát xít Nhật Bản.
- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976.
- Quốc gia Việt Nam: dựng lên bởi chính quyền thực dân Pháp, tồn tại từ 1949 đến 1955 với Quốc trưởng Bảo Đại.
- Việt Nam Cộng hòa: kế thừa từ Quốc gia Việt Nam, tồn tại từ 1955 đến 30 tháng 4,1975 tại miền Nam.
- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976, tiếp quản miền Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975.
- Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay, kế thừa trực tiếp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Dân số qua các thời kỳ
Các cuộc chiến tranh trong lịch sử Việt Nam
Xem thêm
- Lịch sử chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc
- Lịch sử chiến tranh Việt Nam – Chăm Pa
- Lịch sử chiến tranh Việt Nam – Thái Lan
- Lịch sử Đông Nam Á
- Địa lý Việt Nam
- Tranh chấp chủ quyền Biển Đông
Chú thích
Ghi chú
Tham khảo
Tài liệu
- Boylan, Kevin; Olivier, Luc (2018). Valley of the Shadow: The Siege of Dien Bien Phu. Oxford: Osprey Press. ISBN 978-1-4728-2437-0.
- Choi, Byung Wook (2004). Southern Vietnam Under the Reign of Minh Mạng (1820–1841): Central Policies and Local Response. SEAP Publications. ISBN 978-0-87727-138-3.
- Druk. C.K. Uniwersytetu Jagiellońskiego (1884). Przegla̜d polski: Volume 18, Issues 7-9.
- Vietnamese National Bureau for Historical Record (1998). Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Hanoi: Education Publishing House.
- Ngô Sĩ, Liên (2009). Đại Việt sử ký toàn thư . Hanoi: Cultural Publishing House. ISBN 978-604-1-69013-4.
- Trần Trọng, Kim (1971). Việt Nam sử lược. Saigon: Center for School Materials.
- Coedès, George (1975). Vella, Walter F. (biên tập). The Indianized States of Southeast Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-0368-1.
- Dutton, George (2006). The Tây Sơn Uprising: Society and Rebellion in Eighteenth-century Vietnam. University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-8248-2984-1.
- Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. ISBN 978-0-520-27247-7.
- Maspero, Georges (2002). The Champa Kingdom. White Lotus Co., Ltd. ISBN 978-974-7534-99-3.
- Patti, Archimedes L.A. (2008). Why Vietnam. Nhà xuất bản Đà Nẵng.
- Phạm Văn, Sơn (1960). Việt Sử Toàn Thư. Saigon.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - Riley, Jonathon (2014). Decisive Battles: From Yorktown to Operation Desert Storm. Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4411-2674-0.
- Stern, Lewis (1987). "The Vietnamese Communist Party in 1986: Party Reform Initiatives, the Scramble towards Economic Revitalization, and the Road to the Sixth National Congress". Southeast Asian Affairs. 14 (1). Institute of Southeast Asian Studies: 345–363. doi:10.1355/SEAA87T. JSTOR 27908584.
- Taylor, K. W. (1983). The Birth of Vietnam. University of California Press. ISBN 978-0-520-07417-0.
- Taylor, K. W. (2013). A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. ISBN 978-1-139-02121-0.
- Walker, Hugh Dyson (2012). East Asia: A New History. AuthorHouse. ISBN 978-1-4772-6516-1.
- Juzheng, Xue (1995) [974]. Old History of the Five Dynasties. Zhonghua Book Company. ISBN 7-101-00321-4.
- Twitchett, Denis (2008). The Cambridge History of China 1. Cambridge University Press.
- Schafer, Edward Hetzel (1967). The Vermilion Bird. Los Angeles: University of California Press. ISBN 978-0-520-01145-8.
- Wright, Arthur F. (1979). "The Sui dynasty (581–617)". Trong Twitchett, Denis Crispin; Fairbank, John King (biên tập). Sui and T'ang China, 589–906 AD, Part One. Volume 3. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 48–149.
- Holcombe, Charles (2019). "Foreign relation". Trong Dien, Albert E.; Knapp, Keith (biên tập). The Six Dynasties, 220–589. New York: Cambridge University Press. tr. 296–308.
Đọc thêm
- Chuyên khảo
- Peycam, Philippe M. F. (2012). The Birth of Vietnamese Political Journalism: Saigon, 1916–1930. Columbia University Press. ISBN 9780231528047.
- Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. ISBN 9780520272477.
- Nguyen, Lien-Hang T. (2012). Hanoi's War: An International History of the War for Peace in Vietnam. University of North Carolina Press. ISBN 9780807882696.
- Marr, David G. (2013). Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946). University of California Press. ISBN 9780520274150.
- Miller, Edward (2013). Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam. Harvard University Press. ISBN 9780674072985.
- Taylor, K. W. (2013). A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. ISBN 9781139021210.
- Goscha, Christopher (2016). Vietnam: A New History. Basic Books. ISBN 9780465094370.
- Vu, Tuong (2017). Vietnam's Communist Revolution: The Power and Limits of Ideology. Cambridge University Press. ISBN 9781316650417.
- Kort, Michael G. (2017). The Vietnam War Reexamined. Cambridge University Press. ISBN 9781107110199.
- Dror, Olga (2018). Making Two Vietnams: War and Youth Identities, 1965–1975. Cambridge University Press. ISBN 9781108556163.
- Holcombe, Alec (2020). Mass Mobilization in the Democratic Republic of Vietnam, 1945–1960. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824884475.
- Nguyen, Martina Thucnhi (2020). On Our Own Strength: The Self-Reliant Literary Group and Cosmopolitan Nationalism in Late Colonial Vietnam. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824883331.
- Goscha, Christopher (2022). The Road to Dien Bien Phu: A History of the First War for Vietnam. Princeton University Press. ISBN 9780691228655.
- Tran, Nu-Anh (2022). Disunion: Anticommunist Nationalism and the Making of the Republic of Vietnam. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824887865.
- Li, Tana (2024). A Maritime Vietnam: From Earliest Times to the Nineteenth Century. Cambridge University Press. ISBN 9781009237628.
- Nguyen, Phi-Van (2024). A Displaced Nation: The 1954 Evacuation and Its Political Impact on the Vietnam Wars. Cornell University Press. ISBN 9781501778612.
- Asselin, Pierre (2024). Vietnam's American War: A New History. Cambridge University Press. ISBN 9781009229302.
- Tuyển tập biên khảo
- Goscha, Christopher E.; de Tréglodé, Benoît, biên tập (2004). Naissance d'un État-Parti: Le Viêt Nam depuis 1945. Les Indes savantes. ISBN 9782846540643. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2023.
- Tran, Nhung Tuyet; Reid, Anthony, biên tập (2006). Viêt Nam: Borderless Histories. University of Wisconsin Press. ISBN 9780299217747.
- Lawrence, Mark Atwood; Logevall, Fredrik, biên tập (2007). The First Vietnam War: Colonial Conflict and Cold War Crisis. Harvard University Press. ISBN 9780674023925.
- Wilcox, Wynn, biên tập (2010). Vietnam and the West: New Approaches. Cornell University Press. ISBN 9780877277828.
- Vu, Tuong; Fear, Sean, biên tập (2020). The Republic of Vietnam, 1955–1975: Vietnamese Perspectives on Nation Building. Cornell University Press. ISBN 9781501745157.
- Tran, Nu-Anh; Vu, Tuong, biên tập (2022). Building a Republican Nation in Vietnam, 1920–1963. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824892111.
- Luu, Trinh M.; Vu, Tuong, biên tập (2023). Republican Vietnam, 1963–1975: War, Society, Diaspora. University of Hawaiʻi Press. ISBN 9780824895181.
- Miller, Edward, biên tập (2024). The Cambridge History of the Vietnam War, Volume I: Origins. Cambridge University Press. ISBN 9781316225240.
- Preston, Andrew, biên tập (2024). The Cambridge History of the Vietnam War, Volume II: Escalation and Stalemate. Cambridge University Press. ISBN 9781316225264.
- Asselin, Pierre, biên tập (2024). The Cambridge History of the Vietnam War, Volume III: Endings and Aftermaths. Cambridge University Press. ISBN 9781316225288.
- Nguồn sơ cấp
- Dror, Olga; Taylor, K. W., biên tập (2006). Views of Seventeenth-Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin. Cornell University Press. ISBN 9780877277415.
- Dutton, George E.; Werner, Jayne S.; Whitmore, John K., biên tập (2012). Sources of Vietnamese Tradition. Columbia University Press. ISBN 9780231511100.
Liên kết ngoài
- Virtual Vietnam Archive Exhaustive collection of Vietnam related documents (Đại học Công nghệ Texas)
- Thư viện Sử – Viện Việt Học Lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Wayback Machine Bản pdf một số sách lịch sử Việt Nam
| Lịch sử các nước Đông Nam Á | |||
|
Brunei | Campuchia | Đông Timor | Indonesia | Lào | Malaysia | Myanmar | Philippines | Singapore | Thái Lan | Việt Nam | |||