Sergio Garcia
Midfielder
Spain
Câu lạc bộ hiện tại
Toledo
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
De la Fuente vào năm 2026 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Luis de la Fuente Castillo | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 21 tháng 6, 1961 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Haro, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,72 m (5 ft 8 in) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Hậu vệ trái | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Tây Ban Nha (huấn luyện viên) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1976–1978 | Athletic Bilbao | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1978–1982 | Bilbao Athletic | 59 | (3) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1981–1987 | Athletic Bilbao | 146 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1987–1991 | Sevilla | 86 | (4) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1991–1993 | Athletic Bilbao | 22 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1993–1994 | Alavés | 35 | (3) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Tổng cộng | 348 | (12) | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1978–1979 | U-18 Tây Ban Nha | 4 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1982–1984 | U-21 Tây Ban Nha | 4 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1988 | U-23 Tây Ban Nha | 1 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp huấn luyện | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1997–2000 | Portugalete | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2000–2001 | Aurrerá | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2001–2005 | Sevilla (đội trẻ) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2005–2006 | Athletic Bilbao (đội trẻ) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2006–2007 | Bilbao Athletic | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2009–2011 | Bilbao Athletic | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2011 | Alavés | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2013–2018 | U-19 Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2018–2022 | U-21 Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2021 | U-23 Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2022– | Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Luis de la Fuente Castillo (sinh ngày 21 tháng 6 năm 1961) là một huấn luyện viên bóng đá và cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha từng thi đấu ở vị trí hậu vệ trái. Ông hiện đang là huấn luyện viên trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Ông được đánh giá là một trong những huấn luyện viên xuất sắc nhất thế hệ của mình và là một trong những vị huấn luyện viên xuất sắc nhất lịch sử Đội tuyển Tây Ban Nha
De la Fuente đã có tổng cộng 254 trận đấu và ghi 6 bàn thắng tại La Liga trong 13 mùa giải với Athletic Bilbao và Sevilla, giành được 2 danh hiệu vô địch giải đấu với Athletic Bilbao, bao gồm cú đúp giải vô địch quốc gia và Copa del Rey năm 1984.
De la Fuente bắt đầu làm việc tại các đội trẻ Tây Ban Nha vào năm 2013. Dưới nhiệm kỳ cầm quân của ông tại các đội trẻ Tây Ban Nha, đội U–19 đã giành chức vô địch Giải vô địch U–19 châu Âu năm 2015 và đội U–21 giành chiến thắng Giải vô địch U–21 châu Âu năm 2019. Ông đã giúp đội tuyển Olympic giành huy chương bạc tại Thế vận hội Mùa hè 2020 và tiếp quản đội tuyển quốc gia vào năm 2022. Ông đã cùng đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha giành chức vô địch UEFA Nations League 2023, UEFA Euro 2024 và FIFA World Cup 2026.
Sự nghiệp cầu thủ
Luis de la Fuente sinh ra tại thị trấn La Rioja, Haro. Ông gia nhập học viện Lezama của Athletic Bilbao khi 16 tuổi. Khi còn theo nghiệp quần đùi áo số, De la Fuente là một hậu vệ cánh trái có lối chơi rất quyết liệt. Ông đã 2 lần vô địch La Liga cùng đội bóng xứ Basque (1982/83 và 1983/84). Trong sự nghiệp cầu thủ, ông còn chơi cho Sevilla và Alaves trước khi treo giày ở tuổi 33 vào năm 1994.
Sự nghiệp huấn luyện viên
Năm 1997, Luis de la Fuente khởi đầu sự nghiệp huấn luyện tại Portugalete ở giải hạng 5 của Tây Ban Nha. 3 năm sau, ông dẫn dắt Aurrera ở giải hạng 3.
Sau đó, Luis de la Fuente làm việc lò đào tạo của Sevilla. Chính tại đây, ông đã nhìn ra tài năng của Sergio Ramos, người sau này đã trở thành trụ cột của Tây Ban Nha và Real Madrid. Thời điểm đó, Ramos đang chơi cho đội U–16 Sevilla nhưng ông đã đặc cách để cầu thủ này thi đấu với những người đàn anh ở đội U–19. Nhờ vậy, Ramos có sự tiến bộ vượt bậc và nhanh chóng được đôn lên đội một của Sevilla.
Năm 2005, ông trở lại Bilbao để dẫn dắt đội dự bị ở đây. Đến năm 2011, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Alaves tại giải hạng 3 nhưng bị sa thải sau 3 tháng.
Các đội trẻ Tây Ban Nha
Vào ngày 5 tháng 5 năm 2013, de la Fuente được bổ nhiệm dẫn dắt đội tuyển U–19 Tây Ban Nha, ông cùng đội vô địch Giải vô địch U–19 châu Âu năm 2015 tại Hy Lạp. Ông dẫn dắt đội U–21 vào tháng 7 năm 2018, sau khi Albert Celades từ chức. Ông giúp đội giành chức vô địch U–21 châu Âu sau khi đánh bại Đức với tỷ số 2–1 trong trận chung kết tại Udine, Ý năm 2019.
Vào ngày 8 tháng 6 năm 2021, de la Fuente và đội của ông được triệu tập để thay thế toàn bộ đội hình đội tuyển quốc gia trong trận giao hữu trước UEFA Euro 2020 với Litva sau khi đội hình chính thức vào thời điểm đó phải cách ly vì Sergio Busquets có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID–19. Họ thắng 4–0 ở Leganés.
De la Fuente cũng dẫn dắt đội tuyển Olympic Tây Ban Nha tại Thế vận hội Mùa hè 2020 ở Tokyo. Đội sau đó giành huy chương bạc sau khi để thua 2–1 trước Brasil trong trận chung kết.
Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha
Vào ngày 8 tháng 12 năm 2022, de la Fuente được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Tây Ban Nha sau khi Luis Enrique bị sa thải sau thất bại ở vòng 16 đội FIFA World Cup 2022 trước Maroc. Ông chính thức được giới thiệu 4 ngày sau đó và ký hợp đồng có thời hạn đến UEFA Euro 2024 với tùy chọn gia hạn.
Ông có trận đấu ra mắt trên sân nhà trước Na Uy với chiến thắng 3–0 ở vòng loại UEFA Euro 2024 vào ngày 25 tháng 3 năm 2023 với cú đúp của cầu thủ ra mắt 32 tuổi Joselu. Ông dẫn dắt Tây Ban Nha vô địch UEFA Nations League 2022–23 lần đầu tiên sau khi đánh bại Croatia 5–4 trên chấm phạt đền sau trận hòa 0–0 ở Rotterdam.
Tây Ban Nha kết thúc vòng bảng UEFA Euro 2024 với ngôi đầu bảng B cùng 9 điểm tuyệt đối, ghi 5 bàn và giữ sạch lưới. Họ tiếp tục đánh bại Gruzia, Đức và Pháp trong vòng đấu loại trực tiếp để lọt vào chung kết một kỳ UEFA Euro kể từ giải đấu năm 2012. Dưới sự dẫn dắt của ông, Tây Ban Nha giành chức vô địch thứ 4 ở Berlin sau khi đánh bại Anh 2–1 trong trận chung kết. Bên cạnh đó, Tây Ban Nha cũng đã lập kỷ lục khi vô địch với thành tích toàn thắng cả 7 trận tại giải đấu.
Vào tháng 1 năm 2025, ông gia hạn hợp đồng đến hết Euro 2028. Sau đó, ông giúp Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng UEFA Nations League 2024–25 với thành tích bất bại, và vượt qua Hà Lan tại tứ kết để có lần thứ 3 liên tiếp lọt vào vòng chung kết UEFA Nations League, dù vậy đội để thua Bồ Đào Nha sau loạt sút luân lưu tại trận chung kết, qua đó có lần thứ 2 đạt ngôi á quân.
Tại vòng loại World Cup 2026 khu vực châu Âu, Tây Ban Nha vượt qua vòng loại với ngôi đầu cùng thành tích bất bại, tại World Cup 2026 dù để Cape Verde cầm hòa tại trận ra quân, nhưng Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng với ngôi đầu trước Ả Rập Xê Út & Uruguay, Tây Ban Nha sau đó lần lượt vượt qua Áo, Bồ Đào Nha, Bỉ và Pháp tại vòng loại trực tiếp để lọt vào trận chung kết lần đầu tiên từ 2010, nơi họ đánh bại đương kim vô địch Argentina trên Sân vận động MetLife sau hiệp phụ để có lần thứ 2 vô địch giải đấu, đồng thời La Roja còn thiết lập kỷ lục mới với chuỗi 38 trận bất bại dài nhất lịch sử bóng đá nam cấp đội tuyển quốc gia, chính thức vượt qua kỷ lục 37 trận do Ý thiết lập trong giai đoạn 2018–2021. Bản thân ông trở thành người lớn tuổi nhất vô địch giải đấu này khi 65 tuổi và 28 ngày, vượt qua kỷ lục trước đó do người đồng hương Vicente del Bosque nắm giữ.
Phong cách huấn luyện
Do có kinh nghiệm huấn luyện các đội trẻ, de la Fuente thích làm việc với những cầu thủ trẻ mà ông quen thuộc và không phải là những người đòi hỏi quá nhiều, chẳng hạn như Mikel Merino và Mikel Oyarzabal. Họ đã giành chức vô địch giải U–21 châu Âu trong nhiệm kỳ cầm quân của ông và sau đó đại diện cho đội tuyển quốc gia dưới thời cầm quyền của ông. Ông giải thích triết lý huấn luyện của mình bằng cách tuyên bố rằng: "Tôi xuất thân từ một nền tảng cơ sở. Chúng tôi cam kết với những người mà chúng tôi tin tưởng trong hệ thống trẻ, không phải qua một tư thế, mà là một niềm tin".
Tây Ban Nha thường chiếm ưu thế về kiểm soát bóng dưới thời de la Fuente và đồng thời bắt đầu sử dụng một trung phong truyền thống hơn và thực hiện nhiều quả tạt vào vòng cấm hơn.
Thống kê sự nghiệp huấn luyện
- Tính đến 14 tháng 7 năm 2024
| Đội | Từ | Đến | Thống kê | Nguồn | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Trận | T | H | B | BT | BB | HSBT | % thắng | ||||
| Portugalete | 1 tháng 7 năm 1997 | 30 tháng 6 năm 2000 | 122 | 69 | 34 | 19 | 231 | 104 | +127 | 56,56 | |
| Aurrerá | 1 tháng 7 năm 2000 | 14 tháng 3 năm 2001 | 32 | 11 | 13 | 8 | 29 | 25 | +4 | 34,38 | |
| Bilbao Athletic | 8 tháng 7 năm 2006 | 28 tháng 5 năm 2007 | 38 | 11 | 12 | 15 | 39 | 49 | −10 | 28,95 | |
| Bilbao Athletic | 8 tháng 7 năm 2009 | 7 tháng 7 năm 2011 | 76 | 21 | 29 | 26 | 64 | 79 | −15 | 27,63 | |
| Alavés | 13 tháng 7 năm 2011 | 17 tháng 10 năm 2011 | 11 | 4 | 4 | 3 | 15 | 13 | +2 | 36,36 | |
| U–19 Tây Ban Nha | 5 tháng 5 năm 2013 | 24 tháng 7 năm 2018 | 46 | 31 | 6 | 9 | 90 | 37 | +53 | 67,39 | |
| U–21 Tây Ban Nha | 24 tháng 7 năm 2018 | 8 tháng 12 năm 2022 | 42 | 34 | 4 | 4 | 113 | 24 | +89 | 80,95 | |
| U–23 Tây Ban Nha | 1 tháng 6 năm 2021 | 7 tháng 8 năm 2021 | 7 | 3 | 3 | 1 | 10 | 6 | +4 | 42,86 | |
| Tây Ban Nha | 8 tháng 12 năm 2022 | nay | 21 | 17 | 2 | 2 | 55 | 15 | +40 | 80,95 | |
| Tổng cộng | 395 | 201 | 107 | 87 | 646 | 352 | +294 | 50,89 | — | ||
Danh hiệu
Cầu thủ
Athletic Bilbao
- La Liga: 1982–83, 1983–84
- Copa del Rey: 1983–84
- Supercopa de España: 1984 (tự động được thưởng sau khi giành được cú đúp)
Huấn luyện viên
U–19 Tây Ban Nha
U–21 Tây Ban Nha
U–23 Tây Ban Nha
- Huy chương bạc Thế vận hội Mùa hè: 2020
Tây Ban Nha
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Luis de la Fuente tại BDFutbol
- Luis de la Fuente[liên kết hỏng] trên trang web Athletic Bilbao [liên kết hỏng]
