Tài Phan Tuan
Số áo #12Defender
Vietnam
Câu lạc bộ hiện tại
Viettel
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam |
|
|---|---|
Tiêu ngữ: "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" | |
| Tổng quan | |
| Thủ đô | 21°2′B 105°51′Đ / 21,033°B 105,85°Đ |
| Thành phố lớn nhất | |
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Việt |
| Ngôn ngữ thiểu số | |
| Sắc tộc (2019) | |
| Tôn giáo (2019) |
|
| Tên dân cư | Người Việt Nam |
| Chính trị | |
| Chính phủ | Nhà nước Marxist-Leninist đơn nhất |
• Tổng Bí thư và Chủ tịch nước | Tô Lâm |
| Lê Minh Hưng | |
| Trần Thanh Mẫn | |
| Trần Cẩm Tú | |
| Lập pháp | Quốc hội Việt Nam |
| Lịch sử | |
| Thành lập | |
| k. 257 TCN | |
| 939 | |
| 1802 | |
| 25 tháng 8 năm 1883 | |
| 2 tháng 9 năm 1945 | |
| 21 tháng 7 năm 1954 | |
| 27 tháng 1 năm 1973 | |
| 30 tháng 4 năm 1975 | |
| 2 tháng 7 năm 1976 | |
• Đổi Mới | 18 tháng 12 năm 1986 |
| 28 tháng 11 năm 2013 | |
| Địa lý | |
| Diện tích | |
• Tổng cộng | 331.212 km2 (hạng 66[c]) 128.565 mi2 |
• Mặt nước (%) | 6,4 |
• Đất liền | 331.212 km2 127.882 mi2 |
| Dân số | |
• Ước lượng 2025 | 102.300.000 (hạng 16) |
• Mật độ | 309/km2 800,3/mi2 |
| Kinh tế | |
| GDP (PPP) | Ước lượng 2026 |
• Tổng số | |
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2025 |
• Tổng số | |
• Bình quân đầu người | |
| Đơn vị tiền tệ | Đồng (₫) (VND) |
| Thông tin khác | |
| Gini? (2025) | 35 trung bình |
| HDI? (2023) | cao · hạng 93 |
| Múi giờ | UTC+07:00 (Giờ Đông Dương) |
| Cách ghi ngày tháng | dd.mm.yyyy |
| Điện thương dụng | 220 V – 50 Hz |
| Giao thông bên | phải |
| Mã điện thoại | +84 |
| Mã ISO 3166 | VN |
| Tên miền Internet | .vn |
Việt Nam, quốc hiệu đầy đủ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một quốc gia nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, biển Đông và vịnh Thái Lan.
Lãnh thổ Việt Nam xuất hiện con người sinh sống từ thời đại đồ đá cũ, khởi đầu với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc. Âu Lạc bị nhà Triệu ở phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN sau đó là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập sau chiến thắng của Ngô Quyền trước nhà Nam Hán, mở đường cho các triều đại độc lập kế tục, nhiều lần chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc đồng thời dần mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng kết thúc sau chiến thắng trước nhà Minh của nghĩa quân Lam Sơn.
Đến thời cận đại, Việt Nam lần lượt trải qua các giai đoạn Pháp thuộc và Nhật thuộc. Sau khi đánh bại và buộc Nhật Bản đầu hàng, khối Đồng Minh tạo điều kiện cho Pháp thu hồi Liên bang Đông Dương. Kết thúc Thế chiến II, Việt Nam chịu sự can thiệp của các nước Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp (miền Nam), Trung Hoa Dân Quốc (miền Bắc). Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Liên hiệp Pháp cùng Quốc gia Việt Nam do Pháp hậu thuẫn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sự kiện này dẫn tới Hiệp định Genève (1954) được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát phần phía bắc còn phía nam do Việt Nam Cộng hòa (nhà nước kế tục Quốc gia Việt Nam) kiểm soát và được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Xung đột về thống nhất lãnh thổ đã dẫn tới chiến tranh Việt Nam với sự can thiệp của nhiều nước và kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa vào năm 1975. Chủ quyền phần phía Nam được chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập) giành quyền kiểm soát. Năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi tái thống nhất, Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn do sự sụp đổ và tan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, chiến tranh Đông Dương lần ba và hậu quả của chính sách bao cấp sau nhiều năm áp dụng. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành cải cách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng. Cải cách kinh tế cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, được coi là Hổ mới châu Á dù cho vẫn gặp phải những thách thức như tham nhũng và phúc lợi xã hội chưa đầy đủ. Ngoài ra, giới bất đồng chính kiến và các tổ chức theo dõi nhân quyền có quan điểm chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam liên quan đến các vấn đề tôn giáo, kiểm duyệt truyền thông và tự do dân sự.
Tên gọi
Nguồn gốc tên gọi
Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Nam hay Việt Nam. Chữ Việt Nam (越南) được cho là việc đổi ngược lại của quốc hiệu Nam Việt (南越) thời Triệu Vũ Ðế. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ Việt (大瞿越) và Đại Việt (大越), là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam (大南), và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc (như "Nam Quốc Sơn Hà") với Bắc Quốc là Trung Hoa.[cần dẫn nguồn]
Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804. Sau đó Nhà Thanh công nhận Việt Nam là quốc hiệu của Nhà Nguyễn. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" để không nhầm với nước Nam Việt, cũng như thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Trùng hợp là trước đó mấy trăm năm, trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tên "Việt Nam" làm tên chính thức, mặc dù khi đó vẫn còn sử dụng quốc hiệu "Đại Việt". Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.
Tên gọi "Việt Nam" cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng. Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Năm 1945, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu "Việt Nam". Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.
Trong văn viết tiếng nước ngoài
Trong văn viết tiếng Anh hiện nay, cách viết thông dụng nhất cho tên gọi Việt Nam là Vietnam (viết liền không dấu cách cho từ ghép, là một kiểu Anh hoá tên gọi để phù hợp với cấu trúc từ vựng cũng như chính tả của tiếng Anh), dẫn đến thêm tiếp tố "-ese" để tạo ra tính từ là Vietnamese. Ở Việt Nam tồn tại thêm hai cách viết giữ dấu cách là "Viet Nam" (bỏ dấu) và "Việt Nam" (để đầy đủ dấu theo chữ Quốc ngữ). Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh trước đây có dùng cả 3 cách: "Vietnam", "Viet Nam" hoặc "Việt Nam". Từ điển tiếng Anh Oxford mới chỉ ghi nhận cách viết Vietnam cho danh từ và Vietnamese cho tính từ, chưa có ghi nhận "Viet Nam" và "Viet Namese". Danh sách liệt kê thành viên trên trang web của Liên Hợp Quốc viết tên quốc gia này là "Viet Nam" trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết là "Vietnam". Còn Bộ Ngoại giao Việt Nam và Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) thì sử dụng "Viet Nam" và quốc hiệu "the Socialist Republic of Viet Nam" như là tên gọi tiêu chuẩn trên các văn bản tiếng nước ngoài, chủ yếu trên các văn bản và văn hóa phẩm tiếng Anh được phát hành bởi Nhà nước Việt Nam. Nhìn chung, cả "Vietnam" hay "Viet Nam" đều được chấp nhận trong tiếng Anh, trong đó "Vietnam" được dùng phổ biến hơn trong các phương tiện truyền thông từ nước ngoài.
Với hầu hết ngôn ngữ khác dùng chữ Latinh như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Ý,... chủ yếu cũng sử dụng cách viết "Vietnam", và một số ngôn ngữ có cách viết khác như "Vietnã" (tiếng Bồ Đào Nha), "Wietnam" (tiếng Ba Lan), "Vítneam" (tiếng Ireland), tuỳ vào cấu trúc bảng chữ cái Latinh của mỗi ngôn ngữ, nhưng đều viết liền không dấu cách. Các ngôn ngữ khác dùng những hệ chữ viết có họ hàng gần với chữ Latinh như chữ Cyrill hay chữ Hy Lạp cũng thường viết liền không dấu cách để chỉ Việt Nam như "Вьетнам" (tiếng Nga), "Вијетнам" (tiếng Serbia), "Βιετνάμ" (tiếng Hy Lạp).
Lịch sử
Thời tiền sử và sơ khai
Các phát hiện khảo cổ học đã chứng minh sự hiện diện của con người trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay ngay từ thời kỳ Đồ đá cũ. Những di vật bằng đá được khai quật tại Gia Lai được cho là có niên đại lên tới 780.000 năm trước, dựa trên phát hiện đi kèm về tectit; tuy nhiên giả thuyết này vấp phải nhiều tranh luận vì tectit thường xuất hiện tại các tầng văn hóa khảo cổ thuộc nhiều niên đại khác nhau ở Việt Nam. Hóa thạch Homo erectus có niên đại khoảng 500.000 năm TCN đã được tìm thấy trong các hang động tại các tỉnh Lạng Sơn và Nghệ An ở miền Bắc Việt Nam. Những di cốt hóa thạch cổ nhất của loài Homo sapiens tại Đông Nam Á lục địa có nguồn gốc từ Pleistocen giữa, bao gồm các mảnh răng hóa thạch riêng lẻ tìm thấy ở hang Thẩm Ồm và hang Hùm. Răng hóa thạch của người tinh khôn thuộc Pleistocen muộn đã được phát hiện tại Đống Can, và thuộc Thế Holocen sớm tại Mái đá Điều, Làng Gạo và Làng Cuộm. Các khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay cũng từng tham gia vào mạng lưới Con đường ngọc bích trên biển, như những kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã xác nhận.
Đến khoảng năm 1.000 TCN, sự phát triển của kỹ thuật canh tác lúa nước tại các vùng bãi bồi lưu vực Sông Mã và Sông Hồng đã dẫn tới sự nở rộ của nền Văn hóa Đông Sơn, nổi bật với kỹ nghệ đúc đồng thau tinh xảo để chế tác những chiếc trống đồng kỳ vĩ. Nền văn hóa này đã lan tỏa rộng khắp khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả vùng Đông Nam Á hải đảo, trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất TCN.
Thời kỳ quân chủ


Theo truyền thuyết dân gian, thời kỳ Hồng Bàng của các vị Hùng Vương, khởi lập từ năm 2879 TCN, được xem là nhà nước đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam (thuở ban đầu gọi là Xích Quỷ và về sau là Văn Lang). Văn Lang được tạo lập bởi các bộ lạc Lạc Việt, nhiều khả năng là một liên minh đa ngôn ngữ gồm các cộng đồng nói tiếng Nam Á và tiếng Kra-Dai sinh sống tại khu vực Đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam.
Năm 257 TCN, vị Hùng Vương cuối cùng bị Thục Phán đánh bại. Ông đã hợp nhất các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt, vốn có nguồn gốc di cư từ miền nam Trung Hoa để lập nên nhà nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương.
Năm 179 TCN, viên tướng gốc Hán là Triệu Đà đánh bại An Dương Vương và sáp nhập Âu Lạc vào lãnh thổ Nam Việt. Tuy nhiên, Nam Việt sau đó cũng bị thôn tính vào bản đồ của nhà Hán vào năm 111 TCN sau cuộc chiến tranh xâm lược phương Nam. Dưới ách cai trị của nhà Hán, Nho giáo bắt đầu được truyền bá vào vùng đất này và dần định hình nên các chuẩn mực luân lý xã hội cùng phương thức trị quốc của người Việt. Suốt hơn một thiên niên kỷ tiếp theo, vùng đất nay là miền Bắc Việt Nam phần lớn chìm trong ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Các cuộc nổi dậy giành độc lập thời kỳ đầu như cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và Bà Triệu chỉ giành được thắng lợi nhất thời, dẫu vậy đất nước cũng từng trải qua một thời kỳ độc lập tương đối dài hơn với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân dưới triều Nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602. Đến đầu thế kỷ thứ 10, miền Bắc Việt Nam đã giành được quyền tự trị thực tế, dù chưa chính thức xưng vương, dưới sự điều hành của Họ Khúc.
Vào năm 938 SCN, vị thủ lĩnh người Việt là Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán trong trận thủy chiến sông Bạch Đằng, chính thức giành lại nền độc lập hoàn toàn cho non sông vào năm 939 sau một thiên niên kỷ Bắc thuộc. Tới thập niên 960, quốc gia phong kiến Đại Cồ Việt rồi tiếp đó là Đại Việt được thiết lập, và xã hội Việt Nam bước vào kỷ nguyên hoàng kim dưới các triều đại Lý và Trần. Dưới sự lãnh đạo của nhà Trần, quân dân Đại Việt đã ba lần đánh bại các cuộc xâm lược quy mô lớn của đế chế Mông Cổ. Cùng lúc đó, nhánh Phật giáo Đại thừa phát triển rực rỡ và trở thành quốc giáo. Sau cuộc Chiến tranh Minh – Đại Ngu (1406–1407) lật đổ Nhà Hồ, nền độc lập dân tộc bị gián đoạn trong một thời gian ngắn bởi ách đô hộ của Nhà Minh, song đã nhanh chóng được khôi phục bởi Lê Lợi, người sáng lập nên vương triều Hậu Lê. Quốc gia Đại Việt đạt tới đỉnh cao hưng thịnh dưới triều Lê sơ ở thế kỷ 15, đặc biệt là trong thời kỳ trị vì của hoàng đế Lê Thánh Tông (1460–1497). Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18, lãnh thổ người Việt liên tục được mở rộng về phương nam thông qua tiến trình lịch sử mang tên Nam tiến, từng bước thu phục trọn vẹn vương quốc Chăm Pa và một phần lãnh thổ của Chân Lạp.
Từ thế kỷ 16 trở đi, nội chiến liên miên và những biến động chính trị phức tạp đã bao trùm phần lớn Đại Việt. Ban đầu, Nhà Mạc nhận được sự hậu thuẫn từ phương Bắc đã thách thức và tiếm đoạt quyền lực của triều Lê. Sau khi nhà Mạc bị đánh dẹp, vương triều Lê được phục hồi trên danh nghĩa. Dẫu vậy, thực quyền cai trị bị phân chia giữa các Chúa Trịnh ở phương Bắc và các Chúa Nguyễn ở phương Nam, hai bên đã lao vào cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn kéo dài hơn bốn thập kỷ trước khi đi tới thỏa thuận hưu chiến vào thập niên 1670. Đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài (chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn) từ năm 1600 đến năm 1777. Trong giai đoạn này, các chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng bờ cõi xuống vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sáp nhập Tây Nguyên cùng phần đất Thủy Chân Lạp tại châu thổ sông Cửu Long. Cục diện phân liệt thế kỷ này chấm dứt khi ba anh em nhà Tây Sơn dấy binh lật đổ chúa Nguyễn ở phía nam rồi tiến ra bắc dẹp tan chúa Trịnh, lập nên triều đại Tây Sơn. Tuy nhiên, thời gian trị vì của họ không kéo dài và sau đó bị lực lượng trung hưng của họ Nguyễn do Nguyễn Ánh lãnh đạo đánh bại. Nguyễn Ánh thống nhất toàn bộ lãnh thổ, thiết lập triều Nguyễn và lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long.
Thời kỳ Pháp thuộc


Vào thế kỷ 16, các đoàn hải thuyền của Đế quốc Bồ Đào Nha đã tiến hành thám hiểm dọc bờ biển Việt Nam và được ghi nhận đã dựng một bia đá trên Cù lao Chàm để đánh dấu sự hiện diện. Đến năm 1533, họ bắt đầu cập bến các vùng đồng bằng ven biển Việt Nam song phải rời đi do tình hình chiến sự và loạn lạc ở bản địa. Họ cũng dành ít mối quan tâm đến vùng đất này hơn so với thị trường Trung Hoa và Nhật Bản. Sau khi đã lập thương điếm tại Ma Cao và Nagasaki để mở ra tuyến hải trình sinh lợi Ma Cao – Nhật Bản, người Bồ Đào Nha mới bắt đầu tham gia buôn bán với Hội An. Các thương nhân Bồ Đào Nha và giáo sĩ Dòng Tên dưới cơ chế bảo trợ tôn giáo Padroado đã hoạt động tích cực ở cả hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài trong thế kỷ 17. Đế quốc thực dân Hà Lan cũng tìm cách tiếp cận Đàng Trong vào năm 1601 nhưng không thể duy trì hiện diện sau nhiều cuộc xung đột vũ trang với cư dân bản xứ. Công ty Đông Ấn Hà Lan chỉ thiết lập được quan hệ thương mại chính thức với Đàng Ngoài vào mùa xuân năm 1637 sau khi rời Dejima ở Nhật Bản nhằm tìm kiếm nguồn hàng tơ lụa. Trong khi đó, nỗ lực đầu tiên của người Anh nhằm lập liên lạc với Hội An vào năm 1613 đã thất bại sau một biến cố xung đột bạo lực liên quan tới Công ty Đông Ấn Anh. Tới năm 1672, người Anh mới thiết lập được thương mại với Đàng Ngoài và được phép cư trú buôn bán tại Phố Hiến.
Từ năm 1615 đến năm 1753, giới thương nhân Pháp cũng tham gia các hoạt động buôn bán tại Việt Nam. Những nhà truyền giáo người Pháp đầu tiên đặt chân đến đây vào năm 1658 dưới hệ thống Padroado của Bồ Đào Nha. Kể từ khi thành lập, Hội Thừa sai Paris trực thuộc Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) đã liên tục cử các thừa sai sang Việt Nam, đặt chân tới Đàng Trong vào năm 1664 và Đàng Ngoài vào năm 1666. Các giáo sĩ Dòng Đa Minh người Tây Ban Nha tham gia hoạt động truyền giáo tại Đàng Ngoài từ năm 1676, và các tu sĩ Dòng Phanxicô đã hiện diện tại Đàng Trong suốt giai đoạn 1719–1834. Triều đình phong kiến Việt Nam ngày càng quan ngại trước các hoạt động truyền đạo Kitô, và sau khi một số giáo sĩ thừa sai Công giáo bị bắt giam, Hải quân Pháp đã can thiệp quân sự vào năm 1843 để giải cứu họ. Bằng một chuỗi các chiến dịch quân sự kéo dài từ năm 1859 đến năm 1885, thực dân Pháp đã từng bước tước bỏ chủ quyền của Việt Nam. Trong trận vây hãm Đà Nẵng năm 1858, quân Pháp nhận được sự chi viện từ Tây Ban Nha (với lực lượng binh lính Tây Ban Nha và người bản địa Philippines xuất thân từ Tổng khu ủy Philippines) và có thể cả một số giáo dân Bắc Kỳ. Sau khi Hiệp ước Sài Gòn 1862 được ký kết, và nhất là sau khi Pháp cưỡng chiếm trọn vẹn sáu tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867, tầng lớp sĩ phu phong kiến đã phát động Phong trào Văn Thân, khơi dậy làn sóng bạo lực chống lại các cộng đồng Công giáo khắp miền Trung và miền Bắc.
Trong giai đoạn 1862–1867, một phần ba lãnh thổ phía nam đất nước bị biến thành xứ thuộc địa Nam Kỳ. Đến năm 1884, toàn bộ bờ cõi Việt Nam đều rơi vào tay giặc, với miền Trung và miền Bắc bị chia cắt thành hai xứ bảo hộ riêng biệt là An Nam và Bắc Kỳ. Ba thực thể hành chính này chính thức bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương vào năm 1887. Trong thời kỳ này, chính quyền thực dân Pháp đã áp đặt những thay đổi chính trị và văn hóa sâu sắc lên xã hội Việt Nam. Hệ thống giáo dục hiện đại kiểu phương Tây du nhập những giá trị nhân văn mới mẻ. Đa phần kiều dân Pháp định cư tại Đông Dương tập trung đông nhất tại Nam Kỳ, đặc biệt là ở Sài Gòn, và tại Hà Nội, thủ phủ của toàn liên bang.
Vào giai đoạn đầu thời kỳ thuộc địa, nghĩa binh của phong trào cần vương yêu nước (Cần Vương) đã đứng lên chống lại ách đô hộ của Pháp và từng tàn sát khoảng một phần ba số lượng tín đồ Kitô giáo bản địa. Làn sóng bạo lực chống Công giáo tiếp tục diễn ra tại Nam Định, Quảng Trị và Bình Định suốt thập niên 1880. Để bình định đất nước, chiến lược của thực dân Pháp dựa nhiều hơn vào việc lôi kéo tầng lớp hào mục, chức sắc bản địa thay vì chỉ dựa vào các hội thừa sai Kitô giáo nhằm thiết lập quyền kiểm soát và trấn áp các lực lượng nổi dậy. Người Pháp phát triển mạnh mẽ nền kinh tế đồn điền để đẩy mạnh xuất khẩu thuốc lá, cây chàm nhuộm, chè và cà phê. Tuy nhiên, họ lại phớt lờ các yêu sách chính đáng của người bản xứ đòi quyền dân sự và quyền tự quyết. Sự bất mãn sục sôi trong dân chúng đã dẫn tới những kế hoạch phản kháng, nổi dậy đánh đuổi quân Pháp song nhìn chung thiếu đồng bộ và chuẩn bị chưa chu đáo, tiêu biểu như vụ Hà Thành đầu độc năm 1908 và cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.

Một phong trào đấu tranh dân tộc theo khuynh hướng mới nhanh chóng hình thành, với các sĩ phu tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Đình Phùng cùng vị hoàng đế trẻ yêu nước Hàm Nghi trực tiếp đứng lên lãnh đạo hoặc kêu gọi đấu tranh giành độc lập. Đỉnh điểm là cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 do Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) phát động, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thất bại của cuộc khởi nghĩa này đã tạo nên sự rạn nứt trong phong trào giải phóng dân tộc, khi nhiều đảng viên và quần chúng cốt cán chuyển hướng sang con đường cách mạng cộng sản.
Chính quyền thực dân Pháp duy trì quyền kiểm soát thuộc địa cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai, thời điểm cục diện Chiến tranh Thái Bình Dương dẫn tới việc quân đội Nhật Bản tràn vào xâm lược Đông Dương năm 1940. Sau đó, Đế quốc Nhật Bản được quyền đóng quân tại Việt Nam trong khi bộ máy cai trị của chính quyền thân Pháp Vichy vẫn được giữ lại làm bù nhìn. Quân đội Nhật ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam để phục vụ cho các chiến dịch quân sự, đỉnh điểm là cuộc đảo chính lật đổ toàn bộ quyền lực của Pháp vào tháng 3 năm 1945. Những chính sách bóc lột này đã châm ngòi cho thảm họa nạn đói năm 1944–1945, cướp đi sinh mạng của tới hai triệu đồng bào.
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Năm 1941, Mặt trận Việt Minh, một tổ chức giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo, được thành lập dưới sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh. Công tác giác ngộ và vận động quần chúng cách mạng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, đồng thời các đảng phái dân tộc chủ nghĩa cũng góp phần thúc đẩy ý thức quốc gia dân tộc sâu sắc hơn. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng trong Thế chiến II, Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền tại Hà Nội và Huế vào tháng 8 năm 1945, giải thể chính thể Đế quốc Việt Nam, lập nên chính phủ lâm thời và tuyên bố nền độc lập dân tộc vào ngày 2 tháng 9. Ở miền Nam, bộ máy hành chính tại Sài Gòn rơi vào cảnh tê liệt, tình trạng hỗn loạn, bạo động và xung đột bùng phát khắp nơi.
Vào tháng 8 năm 1945, các cường quốc Đồng Minh đã thống nhất tạm thời lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới giải giáp: quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tiến vào miền Bắc nhận sự đầu hàng của quân Nhật, trong khi quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của Tướng Louis Mountbatten tiếp nhận đầu hàng ở miền Nam. Các nước Đồng Minh vẫn ngầm thừa nhận chủ quyền của Pháp đối với Đông Dương.

Tuy nhiên, do lực lượng Pháp bị suy yếu nghiêm trọng sau thời kỳ bị Đức chiếm đóng, quân đội Anh – Ấn cùng các đơn vị tàn quân Nhật thuộc Đạo quân Phương Nam đã được sử dụng để duy trì trật tự và hậu thuẫn quân Pháp tái chiếm Nam Bộ qua cuộc chiến sự năm 1945–1946 ở phía nam vĩ tuyến 16. Lực lượng Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực bằng việc trấn áp và thanh lọc các tổ chức đối lập quốc gia cùng các nhóm Trot-kít. Năm 1946, các hiệp ước Pháp – Hoa và Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 đã tạo điều kiện cho quân đội Pháp thay thế quân Tưởng ở phía bắc vĩ tuyến 16, mở ra giai đoạn hòa hoãn tạm thời giữa chính phủ VNDCCH và Pháp; điều này vừa giúp củng cố thế đứng cho Việt Minh, vừa làm suy yếu vị thế của các phe phái quốc gia đối lập. Trong mùa hè năm đó, Việt Minh phối hợp với quân đội Pháp triệt hạ các đảng phái quốc gia đối nghịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giữ lập trường hòa hoãn nhân nhượng nhằm tránh xung đột quân sự trực diện với Pháp, đề nghị Pháp rút các viên chức cai trị thực dân và cử các giáo sư, kỹ sư sang giúp tái thiết một nước Việt Nam độc lập và hiện đại. Tuy nhiên, Chính phủ lâm thời Pháp đã bác bỏ những yêu cầu này, bao gồm cả nền độc lập, và phái Đoàn quân Viễn chinh Viễn Đông sang nhằm tái lập ách thống trị thuộc địa. Sau khi các nỗ lực đàm phán hoàn toàn đổ vỡ, căng thẳng giữa hai bên đã bùng phát thành cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1946. Các nhóm chính trị dân tộc chủ nghĩa và giáo phái còn sót lại đã tập hợp quanh cựu hoàng Bảo Đại đang sống lưu vong để mở lại các cuộc đàm phán với chính phủ Pháp, cuối cùng đi tới việc ký kết Hiệp ước Élysée và thành lập Quốc gia Việt Nam nhằm đối trọng lại sự thống trị của phe cộng sản. Thất bại mang tính quyết định của quân đội Khối Liên hiệp Pháp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã tạo lợi thế ngoại giao to lớn cho chính phủ Hồ Chí Minh tại bàn đàm phán ở Hội nghị Genève ngay sau đó.

Bản Hiệp định Genève ký kết ngày 21 tháng 7 năm 1954 giữa đại diện Việt Minh và Pháp đã chấm dứt cuộc chiến tranh thuộc địa, công nhận nền độc lập của Việt Nam, đồng thời quy định chia cắt tạm thời hai miền Nam–Bắc dọc theo Khu phi quân sự men theo Vĩ tuyến 17 Bắc (để chờ cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào tháng 7 năm 1956). Hiệp định dành thời hạn 300 ngày tự do đi lại giữa hai miền, tạo điều kiện cho gần một triệu người miền Bắc, bao gồm ít nhất 500.000 tín đồ Công giáo và khoảng 200.000 Phật tử, di cư vào Nam do lo ngại bị chính quyền mới đàn áp. Cuộc đại di cư này nhận được sự hỗ trợ vận chuyển to lớn từ Hải quân Hoa Kỳ qua Chiến dịch Con đường đến Tự do. Sự phân chia lãnh thổ theo Hiệp định Genève vốn không mang tính vĩnh viễn, mà khẳng định Việt Nam sẽ được tái thống nhất sau kỳ tổng tuyển cử. Vào tháng 7 năm 1955, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm đã tuyên bố trên sóng phát thanh rằng miền Nam sẽ không tham gia cuộc tổng tuyển cử, với lý do chính quyền của ông không ký vào hiệp định nên không chịu sự ràng buộc của các điều khoản đó. Tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lật đổ Bảo Đại qua cuộc trưng cầu dân ý gây nhiều tranh cãi do em trai ông là Ngô Đình Nhu dàn xếp, rồi tự xưng là Tổng thống của thể chế Việt Nam Cộng hòa.
Chiến tranh Việt Nam
Từ năm 1953 đến 1956, chính phủ miền Bắc đã tiến hành các cuộc cải cách ruộng đất bao gồm "giảm tô" và "cải cách ruộng đất", dẫn tới những biến động và tổn thất lớn về chính trị–xã hội. Ước tính có khoảng từ 13.500 đến 100.000 người đã bị xử bắn hoặc chịu các hình thức xử phạt nghiêm khắc. Tại miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đối phó với sự thâm nhập của mạng lưới cách mạng miền Bắc (bao gồm các vụ ám sát hơn 450 viên chức chính quyền miền Nam vào năm 1956) bằng cách bắt giữ và giam cầm hàng chục ngàn người bị tình nghi là cộng sản vào các "trung tâm cải huấn chính trị". Chiến dịch này đã bắt giữ cả nhiều nhân vật không thuộc phe cộng sản, song đã làm tê liệt đáng kể các mạng lưới hoạt động của lực lượng cộng sản tại miền Nam trong một thời gian. Phía chính quyền miền Bắc tuyên bố có tới 2.148 người đã bị thiệt mạng trong các chiến dịch này tính đến tháng 11 năm 1957. Lực lượng Việt Cộng thân Hà Nội bắt đầu phát động chiến tranh du kích tại miền Nam vào cuối thập niên 1950 nhằm lật đổ chế độ Diệm. Kể từ năm 1960, Liên Xô và miền Bắc đã ký kết nhiều hiệp định tăng cường viện trợ quân sự. Chính thể Việt Nam Cộng hòa ở phía nam nhận được sự bảo trợ và tham chiến từ Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc và Thái Lan, trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở phía bắc được hậu thuẫn vũ khí và trang thiết bị bởi Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Khmer Đỏ và về sau là sự ủng hộ ngoại giao, nhân đạo từ Thụy Điển.

Năm 1963, sự bất bình sâu sắc của giới Phật tử trước những chính sách thiên vị Công giáo của chính quyền Diệm đã bùng phát thành các cuộc biểu tình quần chúng rầm rộ, dẫn tới các đợt đàn áp khốc liệt của cảnh sát và quân đội. Tình trạng này dẫn tới sự đổ vỡ hoàn toàn trong mối quan hệ giữa Diệm và chính phủ Hoa Kỳ, và cuối cùng châm ngòi cho cuộc đảo chính quân sự năm 1963, trong đó hai anh em Diệm và Nhu đều bị sát hại. Sau thời kỳ Ngô Đình Diệm, miền Nam trải qua hơn một chục cuộc biến loạn và chỉnh lý quân sự trước khi liên danh giữa Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ và Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền vào giữa năm 1965. Tướng Thiệu sau đó dần thâu tóm thực quyền và củng cố quyền lực của mình qua các cuộc bầu cử gây nhiều tranh cãi vào các năm 1967 và 1971. Lợi dụng cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn, các lực lượng cộng sản nhanh chóng mở rộng vùng kiểm soát. Để cứu nguy cho chính quyền miền Nam trước phong trào nổi dậy, Hoa Kỳ đã lấy cớ Sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964 để đẩy mạnh đưa quân vào tham chiến. Đến năm 1965, các đơn vị lính thủy đánh bộ và bộ binh chiến đấu mặt đất của Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam, và vào giai đoạn đỉnh điểm vài năm sau đó, quân số viễn chinh Mỹ đã vượt mốc 500.000 binh sĩ. Quân đội Mỹ đồng thời mở chiến dịch không kích ném bom tàn phá kéo dài trên toàn miền Bắc. Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô cung cấp cho miền Bắc viện trợ vật chất khổng lồ cùng khoảng 15.000 cố vấn quân sự và kỹ thuật. Tuyến vận tải hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam được thực hiện qua mạng lưới đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc qua lãnh thổ Vương quốc Lào.
Đầu năm 1968, quân giải phóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nhằm vào hàng loạt đô thị trọng yếu tại miền Nam. Mặc dù bị tổn thất nặng nề về quân sự, đòn tập kích bất ngờ này đã gây chấn động sâu sắc chính giới và nhân dân Mỹ, làm xoay chuyển hoàn toàn cục diện dư luận phản chiến tại Hoa Kỳ. Trong cuộc giao tranh ác liệt tại chiến trường Trị–Thiên, hơn 3.000 thường dân đã bị thiệt mạng tại Huế. Đứng trước danh sách thương vong ngày một dài, làn sóng phản chiến trong nước dâng cao cùng sự phản đối từ dư luận quốc tế, Hoa Kỳ bắt đầu thực thi Học thuyết Nixon, từng bước rút dần quân chiến đấu mặt đất vào đầu thập niên 1970. Nỗ lực này đi kèm với chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" nhằm tăng cường hỏa lực và củng cố sự tự lực cho quân lực miền Nam song không đạt được thành công bền vững. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, toàn bộ lực lượng chiến đấu của quân đội Mỹ đã hoàn tất việc rút quân về nước vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Tháng 12 năm 1974, quân Giải phóng mở màn tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, tạo bàn đạp phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh điểm là chiến dịch giải phóng Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Miền Nam sau đó được đặt dưới sự quản lý lâm thời của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong 14 tháng dưới sự chỉ đạo của chính quyền miền Bắc.
Thống nhất và đổi mới
Vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam–Bắc chính thức hợp nhất để thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuộc chiến tranh tàn khốc đã để lại hậu quả nặng nề cho đất nước, cướp đi sinh mạng của từ 966.000 đến 3,8 triệu người. Một báo cáo của tiểu ban Thượng viện Hoa Kỳ vào năm 1974 ước tính có gần 1,4 triệu thường dân Việt Nam bị chết hoặc bị thương trong giai đoạn từ 1965 đến 1974, trong đó có khoảng 415.000 người thiệt mạng. Sau ngày thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn, chính quyền đã không tiến hành các cuộc tàn sát đẫm máu hàng loạt đối với những người từng làm việc cho chế độ Sài Gòn cũ như phương Tây từng quan ngại, tuy nhiên có tới khoảng 300.000 người đã phải tập trung vào các trại học tập cải tạo, nơi nhiều người phải chịu cảnh lao động cực nhọc, thiếu thốn lương thực và thuốc men. Nhà nước nhanh chóng triển khai chiến dịch tập thể hóa sâu rộng đối với các nông trại và xí nghiệp công nghiệp. Cuộc khủng hoảng di cư đã bùng nổ khi hàng triệu người rời bỏ đất nước ra đi trong giai đoạn hậu chiến và thời kỳ bao cấp. Năm 1978, nhằm đáp trả việc chính quyền Khmer Đỏ tại Campuchia xua quân tàn sát dã man dân thường Việt Nam tại các làng mạc biên giới thuộc các tỉnh An Giang và Kiên Giang, quân đội Việt Nam đã phát động cuộc phản công sang Campuchia, giải phóng thủ đô Phnom Penh và lật đổ chế độ diệt chủng. Chiến dịch này đã giúp thiết lập một chính phủ xã hội chủ nghĩa thân thiện mới là Cộng hòa Nhân dân Campuchia, chính thể duy trì quyền quản lý đất nước cho tới năm 1989. Tuy nhiên, sự kiện này đã đẩy quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, quốc gia vốn ủng hộ Khmer Đỏ, rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Trung Quốc sau đó đã phát động cuộc tấn công chớp nhoáng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc vào đầu năm 1979, buộc Việt Nam phải dựa chặt chẽ hơn vào viện trợ kinh tế và quân sự từ phía Liên Xô trong bối cảnh mối nghi ngại đối với chính quyền Bắc Kinh tăng vọt.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986, các nhà lãnh đạo có tư tưởng đổi mới đã thay thế bộ máy lãnh đạo cũ. Đứng đầu phong trào cải cách là đồng chí Nguyễn Văn Linh (71 tuổi), người được bầu làm Tổng Bí thư mới của Đảng. Ông cùng các cộng sự đã triển khai một lộ trình cải cách kinh tế thị trường mang tính đột phá mang tên Đổi Mới, từng bước chuyển dịch nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và quyền lực quản lý của Nhà nước vẫn được giữ vững, chính phủ đã khuyến khích mạnh mẽ quyền sở hữu tư nhân trong sản xuất nông nghiệp, xí nghiệp tư doanh, mở cửa tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, song hành với việc kiểm soát các ngành kinh tế then chốt. Mặc dù công cuộc Đổi Mới đã trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc, tiến trình này cũng làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo và chênh lệch phát triển xã hội.
Năm 2021, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp, khẳng định vị thế là nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua. Đồng chí từ trần vào ngày 19 tháng 7 năm 2024, và đồng chí Tô Lâm đã được bầu làm Tổng Bí thư kế nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Địa lý


Việt Nam nằm ở phía đông Đông Nam Á lục địa giữa các vĩ độ 8° và 24°B, và các kinh độ 102° và 110°Đ. Quốc gia này có tổng diện tích là 331.210 km2 (127.881 dặm vuông Anh) hoặc 331,699 km2 (128 dặm vuông Anh). Tổng chiều dài đường biên giới đất liền của quốc gia là 4.639 km (2.883 mi), và đường bờ biển dài 3.444 km (2.140 mi). Tại điểm hẹp nhất ở tỉnh Quảng Trị thuộc miền Trung, quốc gia này chỉ rộng 50 kilômét (31 mi), trong khi mở rộng tới khoảng 600 kilômét (370 mi) ở miền Bắc. Lãnh thổ Việt Nam chủ yếu là đồi núi và rừng rậm, với vùng đất bằng phẳng chiếm không quá 20%. Núi chiếm 40% diện tích đất liền của cả nước, và rừng nhiệt đới bao phủ khoảng 42%. Sông Hồng chảy qua Hà Nội ở miền Bắc Việt Nam trước khi đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng là một vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, có dạng hình tam giác tương đối với diện tích 15.000 km2 (5.792 dặm vuông Anh). Đây là vùng có diện tích nhỏ nhất nhưng có dân số và mật độ dân số cao nhất trong tất cả các vùng ở Việt Nam. Nơi đây chằng chịt mạng lưới sông ngòi và kênh rạch, mang theo nhiều trầm tích đến mức vùng đồng bằng này tiến thêm 60 đến 80 mét (196,9 đến 262,5 ft) ra Biển Đông mỗi năm. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bao phủ diện tích 417.663 km2 (161.261 dặm vuông Anh) tại Biển Đông.
Miền Nam Việt Nam được chia thành các vùng đất thấp ven biển, dãy núi Trường Sơn, và rừng. Bao gồm năm cao nguyên đất bazan, vùng Tây Nguyên chiếm 16% diện tích đất canh tác của cả nước và 22% tổng diện tích đất rừng. Đất đai ở hầu hết khu vực miền Nam Việt Nam có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp hơn do kết quả của quá trình canh tác. Phần phía bắc của đất nước chủ yếu bao gồm vùng cao và Đồng bằng sông Hồng. Fansipan, đỉnh núi nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, là ngọn núi cao nhất trên Bán đảo Đông Dương, với độ cao 3.143 m (10.312 ft). Từ bắc vào nam Việt Nam, quốc gia này có nhiều hòn đảo; Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất. Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, và sông Mê Kông là con sông dài nhất cả nước. Hang Sơn Đoòng là một hang động được khảo sát lần đầu tiên vào năm 2009 bởi một đoàn thám hiểm từ Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh. Hang động này dài hơn 8,8 km (5,5 mi), và một số khoang của nó đủ lớn để chứa một tòa nhà chọc trời 40 tầng. Nó có một hố sụt, sâu hơn 183 m (600 ft), bên dưới hố sụt này phát triển một khu rừng mưa nhiệt đới với những cây cao gần 30 m (98 ft). Khu rừng này là nơi sinh sống của khỉ và các loài động vật khác thường không tìm thấy trong môi trường lòng đất. Một con sông ngầm chảy bên trong hang động.
Khí hậu


Do sự khác biệt về vĩ độ và sự đa dạng về địa hình, khí hậu Việt Nam có sự thay đổi theo từng vùng miền. Trong mùa đông hoặc mùa khô, kéo dài khoảng từ tháng 11 đến tháng 4, gió mùa thổi chủ yếu từ hướng đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc và băng qua Vịnh Bắc Bộ, mang theo hơi ẩm. Nhiệt độ trung bình năm nhìn chung ở vùng đồng bằng cao hơn ở vùng núi, và ở miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc. Khu vực phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa với bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu và đông), trong đó mùa đông thường khô ráo và mùa hè dao động từ nóng đến ôn hòa. Ở các khu vực phía Nam và miền Trung, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa (mùa mưa và mùa khô). Nhiệt độ ít biến động hơn ở các vùng đồng bằng phía Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long, dao động trong khoảng từ 21 đến 35 °C (70 đến 95 °F) trong suốt cả năm. Tại Hà Nội và các khu vực lân cận thuộc Đồng bằng sông Hồng, nhiệt độ thấp hơn, trong khoảng từ 15 đến 33 °C (59 đến 91 °F). Sự biến đổi theo mùa ở vùng núi, cao nguyên và các khu vực cực Bắc diễn ra mạnh mẽ hơn, với nhiệt độ thay đổi từ 3 °C (37 °F) vào tháng 12 và tháng 1 đến 37 °C (99 °F) vào tháng 7 và tháng 8. Vào mùa đông, tuyết thỉnh thoảng rơi trên những đỉnh núi cao nhất ở vùng núi phía Bắc gần biên giới Trung Quốc. Việt Nam có lượng giáng thủy dưới dạng mưa với mức trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm (60 đến 80 in) trong các mùa gió mùa; điều này đôi khi gây ra lũ lụt, đặc biệt là ở một số thành phố. Quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão nhiệt đới và bão lớn (typhoon). 55% dân số Việt Nam sinh sống tại các vùng ven biển có độ cao thấp.
Đa dạng sinh học


Vì nằm trong khu vực sinh thái Indomalaya, Việt Nam là một trong hai mươi lăm quốc gia được coi là sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao một cách độc đáo. Điều này đã được ghi nhận trong Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2005. Việt Nam đứng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài hệ thực vật đã được xác định trong nước, trong đó 10% là loài đặc hữu. Hệ động vật của Việt Nam bao gồm 307 loài tuyến trùng, 200 loài giun ít tơ, 145 loài ve bét, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát và 120 loài lưỡng cư. Có 840 loài chim và 310 loài động vật có vú được tìm thấy tại Việt Nam, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là đặc hữu. Việt Nam có hai Di sản Thiên nhiên Thế giới là Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, cùng với chín khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nghệ An, Cà Mau, và Cù Lao Chàm.
Việt Nam cũng là nơi sinh sống của 1.438 loài vi tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài vi tảo, cùng với 794 loài động vật không xương sống thủy sinh và 2.458 loài cá biển. Trong một số năm, có 13 chi, 222 loài và 30 tổ hợp phân loại thực vật mới đã được mô tả tại Việt Nam. Sáu loài động vật có vú mới, bao gồm sao la, mang lớn, và voọc mũi hếch cũng đã được phát hiện, cùng với một loài chim mới là loài gà lôi Edwards đang cực kỳ nguy cấp. Vào thập niên 1980, một quần thể Tê giác Java đã được tìm thấy tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Cá thể cuối cùng của loài này tại Việt Nam được báo cáo là đã bị bắn chết vào năm 2010. Về đa dạng di truyền nông nghiệp, Việt Nam là một trong mười hai trung tâm cây trồng gốc của thế giới. Ngân hàng Gen Cây trồng Quốc gia Việt Nam đang bảo tồn 12.300 giống cây trồng của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 49,07 triệu đô la Mỹ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chỉ riêng trong năm 2004 và đã thành lập 126 khu bảo tồn, bao gồm 30 vườn quốc gia.
Tại Việt Nam, nạn săn bắn trộm động vật hoang dã đã trở thành một mối lo ngại. Năm 2000, một Tổ chức phi chính phủ (NGO) mang tên Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã được thành lập nhằm thấm nhuần vào người dân tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã trong nước. Trong những năm tiếp theo, một tổ chức phi chính phủ khác mang tên GreenViet đã được thành lập bởi những thanh niên Việt Nam nhằm thực thi việc bảo vệ động vật hoang dã. Thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương, một số đường dây săn trộm địa phương đã bị triệt phá sau vụ bắt giữ những kẻ cầm đầu. Một nghiên cứu công bố năm 2018 cho thấy Việt Nam là điểm đến của hoạt động xuất khẩu lậu sừng tê giác từ Nam Phi do nhu cầu sử dụng chúng như một loại thuốc và một biểu tượng của địa vị.
Một mối quan tâm về môi trường khác ở Việt Nam là hệ lụy từ việc sử dụng chất diệt cỏ hóa học Chất độc da cam, thứ tiếp tục gây ra các dị tật bẩm sinh và các vấn đề sức khỏe cho người dân Việt Nam. Tại các khu vực miền Nam và miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi việc sử dụng hóa chất này trong Chiến tranh Việt Nam, gần 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm và chịu đựng những hậu quả của nó. Vào năm 2012, khoảng 50 năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã bắt đầu một dự án làm sạch chung trị giá 43 triệu đô la Mỹ tại các khu vực lưu trữ hóa chất cũ ở Việt Nam, được thực hiện theo từng giai đoạn. Sau khi hoàn thành giai đoạn đầu tại Đà Nẵng vào năm 2017, Hoa Kỳ đã công bố cam kết làm sạch các địa điểm khác, đặc biệt là tại khu vực Biên Hòa.
Chính phủ Việt Nam chi hơn 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm (431,1 triệu đô la) cho các khoản trợ cấp hàng tháng và phục hồi chức năng cho các nạn nhân chất độc hóa học. Vào năm 2018, tập đoàn kỹ thuật Nhật Bản Shimizu Corporation, phối hợp với quân đội Việt Nam, đã xây dựng một nhà máy xử lý đất ô nhiễm chất độc da cam. Chi phí xây dựng nhà máy do chính công ty tự chi trả. Một trong những kế hoạch để khôi phục các hệ sinh thái bị hư hại ở miền Nam Việt Nam là thông qua các nỗ lực gây rừng. Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc này ngay khi chiến tranh kết thúc. Công việc bắt đầu bằng việc trồng lại các rừng ngập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tại Cần Giờ, ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, nơi các rừng ngập mặn giúp giảm thiểu tình trạng lũ lụt trong mùa gió mùa. Quốc gia này có điểm trung bình Chỉ số tính toàn vẹn của cảnh quan rừng năm 2019 là 5,35/10, xếp hạng 104 toàn cầu trong tổng số 172 quốc gia.
Ngoài vấn đề về thuốc diệt cỏ, việc nhiễm độc asen trong nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng đã trở thành một mối lo ngại. Vật liệu chưa nổ (UXO) gây ra những nguy hiểm cho con người và động vật hoang dã—một hệ lụy khác từ các cuộc chiến tranh. Như một phần của chiến dịch liên tục nhằm rà phá và loại bỏ các vật liệu chưa nổ, một số cơ quan gỡ bom quốc tế từ Vương quốc Anh, Đan Mạch, Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã và đang hỗ trợ tích cực. Chính phủ Việt Nam chi hơn 1 nghìn tỷ đồng (44 triệu đô la) hàng năm cho các hoạt động rà phá bom mìn và thêm hàng trăm tỷ đồng cho việc điều trị, hỗ trợ, phục hồi chức năng, đào tạo nghề và tái định cư cho các nạn nhân của vật liệu chưa nổ.
Chính trị
Việt Nam là một quốc gia đơn nhất, cộng sản tự xác định là một cộng hòa xã hội chủ nghĩa, một trong hai quốc gia cộng sản (quốc gia còn lại là Lào) tại Đông Nam Á. Mặc dù Việt Nam vẫn chính thức cam kết tuân thủ chủ nghĩa xã hội như là tôn chỉ xác định của mình, các chính sách kinh tế của quốc gia này ngày càng mang tính tư bản chủ nghĩa, với tạp chí The Economist mô tả ban lãnh đạo là những "người cộng sản nhiệt thành với tư bản". Theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khẳng định vai trò của mình trong tất cả các lĩnh vực chính trị của đất nước. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia do bầu chọn và là tổng tư lệnh quân đội, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh tối cao, giữ chức vụ cao thứ hai tại Việt Nam, thực hiện các chức năng hành pháp, bổ nhiệm các chức danh nhà nước và hoạch định chính sách.
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các chức năng điều hành, kiểm soát tổ chức quốc gia của Đảng. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng bao gồm năm phó thủ tướng và người đứng đầu của 26 bộ và cơ quan ngang bộ. Chỉ các tổ chức chính trị liên kết với hoặc được Đảng Cộng sản Việt Nam tán thành mới được phép tham gia tranh cử tại Việt Nam. Các tổ chức này bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng các đảng của công nhân và người lao động.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhất viện gồm 500 thành viên. Đứng đầu bởi một Chủ tịch, Quốc hội nắm giữ các quyền lực thống nhất của nhà nước (có nghĩa là cơ quan này cao hơn các cơ quan hành pháp và tư pháp), với tất cả các quan chức nhà nước trung ương đều được bổ nhiệm từ các đại biểu Quốc hội. Tòa án nhân dân tối cao, đứng đầu là Chánh án, là tòa án cấp cao nhất của đất nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Dưới Tòa án nhân dân tối cao là các tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án địa phương. Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề về an ninh nhà nước.
Phân cấp hành chính
Sau cuộc cải cách hành chính năm 2025 và những nghị quyết được ban hành kế tiếp, Việt Nam được chia thành 25 tỉnh và 9 thành phố trực thuộc trung ương, có cấp hành chính tương đương với cấp tỉnh.
|
|
|
Quan hệ đối ngoại
Xuyên suốt lịch sử, mối quan hệ đối ngoại chính của Việt Nam là với các triều đại Trung Hoa. Các nguyên tắc về chủ quyền và sự kiên định về độc lập văn hóa của quốc gia được phản ánh trong các văn kiện lịch sử như bài thơ thế kỷ 11 Nam quốc sơn hà và bản cáo trạng năm 1428 Bình Ngô đại cáo. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam chính thức hòa bình, tranh chấp lãnh thổ vẫn tồn tại giữa hai nước về vấn đề Biển Đông. Hai nước duy trì các mối liên kết kinh tế và chính trị. Sau khi chia cắt Việt Nam vào năm 1954, Miền Bắc duy trì quan hệ với Khối phía Đông, trong khi Miền Nam duy trì quan hệ với Khối phía Tây. Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (La Francophonie) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quốc gia này cũng duy trì quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Tính đến năm 2010, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam là nhất quán thực hiện chính sách độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đất nước này tuyên bố là bạn và đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, không phân biệt thể chế chính trị, bằng cách tích cực tham gia vào các dự án phát triển hợp tác khu vực và quốc tế. Kể từ thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện các bước để khôi phục quan hệ ngoại giao với các quốc gia tư bản phương Tây. Quốc gia này vốn đã có quan hệ với các nước phương Tây cộng sản trong những thập kỷ trước đó. Quan hệ với Hoa Kỳ bắt đầu được cải thiện vào tháng 8 năm 1995 khi cả hai bang nâng cấp các văn phòng liên lạc lên cấp đại sứ quán. Vào tháng 5 năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp tục bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sau khi ông tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam đã theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong bối cảnh địa chính trị của các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông. Chính sách đối ngoại của Việt Nam tập trung vào việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc và với Hoa Kỳ. Việt Nam vẫn duy trì các mối quan hệ quân sự và an ninh với Nga.
Quân sự

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam và được chia thành:
- Quân chủng Lục quân: không tổ chức Bộ tư lệnh riêng như Hải quân, Phòng không – Không quân và Cảnh sát biển mà các quân đoàn chủ lực và binh chủng do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo.
- Quân chủng Hải quân: thành lập năm 1955, xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển.
- Quân chủng Phòng không – Không quân: hợp nhất từ hai quân chủng Phòng không và Không quân từ năm 2000.
- Lực lượng Bộ đội Biên phòng: thành lập năm 1958
- Lực lượng Cảnh sát biển: thành lập năm 1998
- Lực lượng Tác chiến Không gian mạng: thành lập năm 2017
- Lực lượng Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: thành lập năm 1976
VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2022, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 7,32 tỷ USD, tương đương khoảng 1,79% GDP năm 2022.
Kinh tế

| Tỷ trọng trong Tổng sản phẩm quốc nội thế giới (PPP) | |
|---|---|
| Năm | Tỷ trọng |
| 1980 | 0,21% |
| 1990 | 0,28% |
| 2000 | 0,39% |
| 2010 | 0,52% |
| 2020 | 0,80% |
Xuyên suốt lịch sử Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp – đặc biệt là thâm canh lúa nước. Bô-xít, một nguyên liệu trong sản xuất nhôm, được khai thác ở miền Trung Việt Nam. Kể từ khi thống nhất, nền kinh tế đất nước được định hình chủ yếu bởi ĐCSVN thông qua các Kế hoạch 5 năm được quyết định tại các phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương và các kỳ đại hội toàn quốc. Việc tập thể hóa các trang trại, nhà máy và tư liệu sản xuất đã được thực hiện như một phần của việc thiết lập kế hoạch tập trung, với hàng triệu người làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước. Dưới sự kiểm soát của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị bủa vây bởi sự kém hiệu quả, tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng. Với sự sụt giảm viện trợ kinh tế từ đối tác thương mại chính là Liên Xô sau sự xói mòn của Khối phía Đông vào những năm 1980, và sự sụp đổ của Liên Xô sau đó, cùng những tác động của lệnh cấm vận thương mại sau chiến tranh do Hoa Kỳ áp đặt, Việt Nam bắt đầu tự do hóa thương mại bằng cách phá giá tỷ giá hối đoái để tăng cường xuất khẩu và bắt tay vào chính sách phát triển kinh tế.

Vào năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN đã giới thiệu các cải cách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một phần của chương trình cải cách Đổi Mới. Sở hữu tư nhân bắt đầu được khuyến khích trong công nghiệp, thương mại và nông nghiệp, và các doanh nghiệp nhà nước đã được tái cơ cấu để hoạt động dưới các ràng buộc của thị trường. Điều này dẫn đến việc các kế hoạch kinh tế 5 năm được thay thế bằng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ kết quả của những cải cách này, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm khoảng 8% trong giai đoạn 1990–1997. Hoa Kỳ đã chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào năm 1994. Mặc dù Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã gây ra sự chậm lại của nền kinh tế xuống mức tăng trưởng 4–5% mỗi năm, nền kinh tế đã bắt đầu phục hồi vào năm 1999, và tăng trưởng khoảng 7% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2005. Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới). Theo Tổng cục Thống kê (GSO), tăng trưởng vẫn duy trì mạnh mẽ bất chấp suy thoái kinh tế toàn cầu cuối thập niên 2000, giữ ở mức 6,8% vào năm 2010. Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ của Việt Nam đạt 11,8% vào tháng 12 năm 2010, và đồng tiền nội tệ là đồng Việt Nam đã bị phá giá ba lần.
Tình trạng nghèo khổ cùng cực, được định nghĩa là tỷ lệ dân số sống với mức thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày, đã giảm ở Việt Nam, và tỷ lệ nghèo tương đối thấp hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Sự sụt giảm này có thể nhờ các chính sách kinh tế công bằng nhằm cải thiện mức sống và ngăn chặn sự gia tăng của bất bình đẳng. Các chính sách này bao gồm phân phối đất đai bình quân trong các giai đoạn đầu của chương trình Đổi Mới, đầu tư vào các vùng sâu vùng xa nghèo hơn, và trợ cấp giáo dục và y tế. Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã áp dụng tự do hóa thương mại có lộ trình, một cách tiếp cận hai luồng mở cửa một số lĩnh vực kinh tế cho thị trường quốc tế. Công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp công nghệ cao sau đó đã hình thành một bộ phận lớn hơn và phát triển nhanh hơn của nền kinh tế quốc dân. Việt Nam là nhà sản xuất dầu lớn thứ ba ở Đông Nam Á với tổng sản lượng năm 2011 là 318.000 thùng trên ngày (50.600 m3/d). Vào năm 2010, Việt Nam được xếp hạng là nhà sản xuất dầu mỏ thô lớn thứ tám trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Hoa Kỳ mua tỷ trọng lớn nhất trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, trong khi hàng hóa từ Trung Quốc là mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất của Việt Nam.
Dựa trên những khảo sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 2,3%, GDP danh nghĩa đạt 406,452 tỷ USD và GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 4.086 USD. Bên cạnh nền kinh tế khu vực sơ khai, du lịch đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với 7,94 triệu khách quốc tế được ghi nhận vào năm 2015.
Nông nghiệp

Việt Nam là nhà sản xuất hạt điều lớn nhất thế giới, chiếm một phần ba thị phần toàn cầu; là nhà sản xuất hồ tiêu lớn nhất, chiếm một phần ba thị trường thế giới; và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan kể từ thập niên 1990. Sau đó, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới. Quốc gia này có tỷ lệ sử dụng đất cho cây lâu năm cao nhất cùng với các quốc gia khác trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng.
Tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 5,6 triệu tấn vào năm 2011 và 6,7 triệu tấn vào năm 2016. Sản lượng của ngành thủy sản Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng, điều này có thể nhờ vào sự mở rộng liên tục của phân ngành nuôi trồng thủy sản.
Khoa học và công nghệ

Năm 2010, tổng chi ngân sách nhà nước của Việt Nam cho khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Kể từ khi chính phủ thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) vào năm 1975, quốc gia này đang nỗ lực phát triển chương trình vũ trụ quốc gia đầu tiên, đặc biệt là sau khi hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VSC) vào năm 2018. Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc phát triển robot, chẳng hạn như mẫu robot hình người TOPIO. Một trong những ứng dụng nhắn tin của Việt Nam, Zalo, được phát triển bởi Vương Quang Khải, một hacker người Việt, người sau đó đã làm việc với công ty dịch vụ công nghệ thông tin lớn nhất cả nước, Tập đoàn FPT.

Theo Viện Thống kê UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP cho nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Việt Nam xếp thứ 44 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu vào năm 2025. Thứ hạng của quốc gia này đã tăng lên kể từ năm 2012, khi đó xếp thứ 76. Từ năm 2005 đến năm 2014, số lượng các công bố khoa học của Việt Nam được ghi nhận trong Web of Science của Thomson Reuters đã tăng với tốc độ cao hơn mức trung bình của Đông Nam Á. Các công bố tập trung chủ yếu vào khoa học đời sống (22%), vật lý (13%) và kỹ thuật (13%), điều này nhất quán với những tiến bộ trong sản xuất thiết bị chẩn đoán và đóng tàu.
Du lịch

Du lịch đóng góp 7,5% vào tổng GDP của Việt Nam. Việt Nam đã đón khoảng 13 triệu lượt khách du lịch vào năm 2017, tăng 29,1% so với năm trước đó. Phần lớn khách du lịch đến quốc gia này, khoảng 9,7 triệu lượt, đến từ châu Á; cụ thể là Trung Quốc (4 triệu), Hàn Quốc (2,6 triệu) và Nhật Bản (798.119). Việt Nam cũng thu hút du khách từ châu Âu, với gần 1,9 triệu lượt khách vào năm 2017; hầu hết du khách châu Âu đến từ Nga (574.164), tiếp theo là Vương quốc Anh (283.537), Pháp (255.396) và Đức (199.872). Các lượt khách quốc tế khác theo quốc tịch bao gồm Hoa Kỳ (614.117) và Úc (370.438).
Những điểm đến được ghé thăm nhiều nhất tại Việt Nam là thành phố đông dân nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 5,8 triệu lượt khách quốc tế, tiếp theo là Hà Nội với 4,6 triệu và Hạ Long, bao gồm cả Vịnh Hạ Long với 4,4 triệu lượt khách. Cả ba đều nằm trong danh sách 100 thành phố được ghé thăm nhiều nhất trên thế giới. Việt Nam là nơi có tám Di sản Thế giới của UNESCO. Vào năm 2018, tạp chí Travel + Leisure đã xếp hạng Hội An là một trong 15 điểm đến tốt nhất thế giới để ghé thăm.
Giao thông
Một phần mạng lưới giao thông của Việt Nam có nguồn gốc từ thời Pháp thuộc, khi nó được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu thô đến các cảng chính. Hệ thống này đã được mở rộng và hiện đại hóa sau khi Việt Nam bị chia cắt. Hệ thống đường bộ của Việt Nam bao gồm các quốc lộ do cấp trung ương quản lý, tỉnh lộ do cấp tỉnh quản lý, huyện lộ do cấp huyện quản lý, đường đô thị do các thành phố và thị xã quản lý, và đường xã do cấp xã quản lý. Vào năm 2010, hệ thống đường bộ của Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 188.744 kilômét (117.280 mi), trong đó 93.535 kilômét (58.120 mi) là đường nhựa bao gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ. Tổng chiều dài của hệ thống quốc lộ là khoảng 15.370 kilômét (9.550 mi) với 15.085 kilômét (9.373 mi) chiều dài đã được thảm nhựa. Hệ thống tỉnh lộ có khoảng 27.976 kilômét (17.383 mi) đường nhựa, trong khi 50.474 kilômét (31.363 mi) đường huyện đã được thảm nhựa.

Xe đạp, xe máy và xe tay ga vẫn là những loại hình giao thông đường bộ phổ biến nhất tại quốc gia này, một di sản từ thời Pháp, trong khi số lượng ô tô cá nhân đã tăng lên trong những năm qua. Xe buýt công cộng do các công ty tư nhân vận hành là phương thức di chuyển đường dài chính của phần lớn người dân. Tai nạn giao thông vẫn là một vấn đề an toàn của giao thông Việt Nam, với trung bình 30 người tử vong mỗi ngày. Ún tắc giao thông là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là với sự gia tăng của việc sở hữu ô tô cá nhân. Dịch vụ đường sắt xuyên quốc gia chính của Việt Nam là Tàu Thống Nhất đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, với quãng đường dài gần 1.726 kilômét (1.072 mi).
Việt Nam vận hành 20 sân bay dân dụng, bao gồm ba cửa ngõ quốc tế: Nội Bài tại Hà Nội, Sân bay quốc tế Đà Nẵng tại Đà Nẵng, và Tân Sơn Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất cả nước, xử lý phần lớn lưu lượng hành khách quốc tế. Theo một kế hoạch đã được chính phủ phê duyệt, Việt Nam sẽ có thêm bảy sân bay quốc tế nữa vào năm 2025, bao gồm Sân bay quốc tế Vinh, Sân bay quốc tế Phú Bài, Sân bay quốc tế Cam Ranh, Sân bay quốc tế Phú Quốc, Sân bay quốc tế Cát Bi, Sân bay quốc tế Cần Thơ, và Sân bay quốc tế Long Thành. Theo kế hoạch, Sân bay quốc tế Long Thành sẽ có công suất phục vụ hàng năm là 100 triệu hành khách sau khi đi vào hoạt động đầy đủ vào năm 2025. Vietnam Airlines, hãng hàng không quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, duy trì một phi đội gồm 86 máy bay chở khách và đặt mục tiêu vận hành 170 chiếc vào năm 2020. Một số hãng hàng không tư nhân cũng hoạt động tại Việt Nam, bao gồm Air Mekong, Bamboo Airways, Jetstar Pacific Airlines, VASCO và VietJet Air. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam có các cảng biển bao gồm Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Cửa Lò, và Nha Trang. Tiến sâu hơn vào nội địa, mạng lưới sông ngòi của đất nước đóng vai trò quan trọng trong giao thông nông thôn với hơn 47.130 kilômét (29.290 mi) đường thủy có thể lưu thông cho phà, sà lan và taxi đường thủy.
Năng lượng
Ngành năng lượng của Việt Nam do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) do nhà nước kiểm soát chiếm ưu thế. Tính đến năm 2017, EVN chiếm khoảng 61,4% hệ thống phát điện của cả nước với tổng công suất điện là 25.884 MW. Các nguồn năng lượng khác bao gồm PetroVietnam (4.435 MW), Vinacomin (1.785 MW) và 10.031 MW từ các nhà đầu tư xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT). Hầu hết điện năng của Việt Nam được tạo ra từ thủy điện hoặc các nhà máy nhiệt điện nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt, trong khi nhiên liệu diesel, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo cung cấp phần còn lại.
Phân khúc khí đốt gia dụng tại Việt Nam do PetroVietnam chiếm ưu thế, đơn vị kiểm soát gần 70% thị trường nội địa cho khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG). Kể từ năm 2011, công ty này cũng vận hành năm nhà máy điện năng lượng tái tạo, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 (750 MW), Nhà máy Điện gió Phú Quý (6 MW), Nhà máy Thủy điện Hủa Na (180 MW), Nhà máy Thủy điện Đăkđrinh (125 MW) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (1.200 MW).
Theo thống kê từ BP, Việt Nam nằm trong danh sách 52 quốc gia có trữ lượng dầu thô xác minh. Vào năm 2015, trữ lượng này là khoảng 4,4 tỷ thùng, xếp Việt Nam ở vị trí thứ nhất tại Đông Nam Á, trong khi trữ lượng khí đốt xác minh là khoảng 0,6 nghìn tỷ mét khối (tcm), xếp thứ ba tại Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia.
Viễn thông
Các dịch vụ viễn thông tại Việt Nam do Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (sau này là VNPT) cung cấp toàn bộ, đây là một công ty thuộc sở hữu nhà nước. VNPT đã duy trì vị thế độc quyền cho đến năm 1986. Lĩnh vực viễn thông được cải cách vào năm 1995 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách cạnh tranh với việc thành lập hai công ty viễn thông trong nước là Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel, thuộc sở hữu hoàn toàn của Bộ Quốc phòng Việt Nam) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT hay SaigonPostel), với 18% cổ phần do VNPT sở hữu. Vị thế độc quyền của VNPT cuối cùng đã bị chính phủ chấm dứt vào năm 2003 bằng việc ban hành một nghị định. Đến năm 2012, ba nhà mạng viễn thông hàng đầu tại Việt Nam là Viettel, Vinaphone và MobiFone. Các công ty còn lại bao gồm: EVNTelecom, Vietnammobile và S-Fone. Với sự chuyển dịch sang một nền kinh tế định hướng thị trường hơn, thị trường viễn thông Việt Nam liên tục được cải cách để thu hút đầu tư nước ngoài, bao gồm việc cung cấp dịch vụ và thiết lập cơ sở hạ tầng viễn thông trên toàn quốc.
Cấp nước và vệ sinh

Việt Nam có 2.360 con sông với lưu lượng xả trung bình hàng năm là 310 tỷ m3. Mùa mưa chiếm 70% lượng xả trong năm. Dựa trên một cuộc khảo sát năm 2008 của Hội Cấp thoát nước Việt Nam (VWSA), năng lực sản xuất nước hiện tại đã vượt quá nhu cầu. Khoảng một phần ba trong số 727 thị trấn huyện lỵ có một hình thức cung cấp nước máy nào đó. Đang có những lo ngại về độ an toàn của các nguồn nước hiện có cho các hệ thống cấp nước đô thị và nông thôn. Hầu hết các nhà máy công nghiệp đều xả nước thải chưa qua xử lý trực tiếp vào các nguồn nước. Ở những nơi chính phủ không thực hiện các biện pháp để giải quyết vấn đề, hầu hết nước thải sinh hoạt được thải ngược lại môi trường mà không qua xử lý và làm ô nhiễm nguồn nước mặt.
Trong những năm qua, đã có một số nỗ lực và sự hợp tác giữa các trường đại học trong và ngoài nước để phát triển việc tiếp cận nước sạch trong nước bằng cách áp dụng các hệ thống lọc nước. Có một mối lo ngại ngày càng tăng trong người dân địa phương về các vấn đề sức khỏe cộng đồng liên quan đến ô nhiễm nước do ô nhiễm và nồng độ asen trong các nguồn nước ngầm. Chính phủ Hà Lan đã cung cấp viện trợ, tập trung đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực liên quan đến nước, bao gồm cả các dự án xử lý nước. Về vấn đề vệ sinh, 78% dân số Việt Nam có quyền tiếp cận với "vệ sinh cải thiện" – 94% dân số đô thị và 70% dân số nông thôn. Có khoảng 21 triệu người trong cả nước thiếu quyền tiếp cận với vệ sinh "cải thiện" theo một cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2015. Vào năm 2018, Bộ Xây dựng cho biết ngành cấp thoát nước của đất nước đã áp dụng các phương pháp công nghệ cao và công nghệ thông tin (CNTT) vào các vấn đề vệ sinh và đối mặt với những vấn đề như hạn chế về kinh phí, biến đổi khí hậu và ô nhiễm. Bộ Y tế cũng đã thông báo rằng các đơn vị thanh tra nước sẽ được thành lập trên toàn quốc bắt đầu từ tháng 6 năm 2019. Việc thanh tra sẽ được thực hiện mà không báo trước, vì đã có những trường hợp liên quan đến các vấn đề sức khỏe do nguồn cấp nước bị ô nhiễm.
Nhân khẩu học

Tính đến năm 2021, dân số Việt Nam đạt xấp xỉ 97,5 triệu người. Dân số đã tăng trưởng đáng kể so với kỳ tổng điều tra dân số năm 1979, khi đó tổng dân số của nước Việt Nam thống nhất là 52,7 triệu người. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, dân số cả nước là 96.208.984 người. Cũng theo điều tra năm 2019, 65,6% dân số Việt Nam sinh sống tại khu vực nông thôn trong khi chỉ có 34,4% sống ở khu vực thành thị. Tốc độ tăng trưởng trung bình của dân số thành thị có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, chủ yếu bắt nguồn từ các luồng di cư và quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Dân tộc đa số là người Kinh (người Việt) với 82.085.826 người, chiếm 85,32% tổng dân số cả nước. Tuyệt đại bộ phận người Kinh phân bố tập trung tại các đồng bằng châu thổ phù sa và dải đồng bằng duyên hải ven biển. Là cộng đồng dân tộc chiếm đa số, người Kinh nắm giữ ảnh hưởng chính trị và kinh tế then chốt trên toàn quốc. Mặc dù vậy, Việt Nam cũng là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc được công nhận chính thức, bao gồm Tày, Thái, Nùng, H'Mông và Dao. Nhiều dân tộc thiểu số, trong đó có người Mường có mối liên hệ nhân chủng và ngôn ngữ gần gũi với người Kinh, chủ yếu cư trú tại các vùng trung du và miền núi, vùng địa hình chiếm tới hai phần ba diện tích tự nhiên của Việt Nam.
Trước thế kỷ 20, khu vực Tây Nguyên là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc bản địa Tây Nguyên (người Thượng) bao gồm hơn 40 nhóm bộ tộc khác nhau. Chính quyền miền Nam trước đây sau đó đã ban hành các chính sách đưa người Kinh lên khai hoang định cư tại các khu vực này. Người Hoa, người Chăm và người Khmer chủ yếu sinh sống ở vùng đồng bằng thấp. Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, nhiều thế hệ người Hoa, phần lớn xuất thân từ miền Nam Trung Quốc, đã di cư sang định cư dưới nhiều diện khác nhau như quan lại, thương nhân và cả những người tị nạn chính trị. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1976, việc đẩy mạnh các chính sách xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc dẫn tới việc quốc hữu hóa và tịch thu tài sản tư nhân, tác động mạnh mẽ tới giới thương nhân người Hoa ở phía nam và tầng lớp thị dân khá giả tại các đô thị. Thực trạng này đã thúc đẩy nhiều người trong số họ tìm đường rời khỏi Việt Nam.
Đô thị hóa

Số lượng cư dân sinh sống tại các khu vực đô thị vào năm 2019 đạt 33.122.548 người (với tỷ lệ đô thị hóa đạt 34,4%). Kể từ năm 1986, tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam đã tăng tốc mạnh mẽ sau khi chính phủ triển khai đường lối đổi mới kinh tế (Đổi Mới), chuyển dịch nền kinh tế và nới lỏng các quy định về quyền sở hữu tài sản. Nhờ đó, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (hai đô thị đặc biệt lần lượt là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ) đã gia tăng tỷ trọng trong tổng dân số đô thị cả nước từ mức 8,5% và 24,9% lên tương ứng 15,9% và 31%. Chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Xây dựng từng dự báo tỷ lệ đô thị hóa cả nước sẽ chạm ngưỡng 45% vào năm 2020, dẫu vậy số liệu thực tế theo kỳ tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận con số này mới đạt 34,4%. Đô thị hóa được đánh giá có mối tương quan tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế: những quốc gia sở hữu tốc độ đô thị hóa cao thường ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP nhanh hơn. Hơn nữa, dòng dịch chuyển đô thị hóa tại Việt Nam chủ yếu diễn ra từ các vùng nông thôn đổ về vùng Đông Nam Bộ. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị thu hút lượng lớn dân cư di cư nhờ điều kiện thời tiết ôn hòa cùng nhiều cơ hội phát triển kinh tế, việc làm.
Một nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người di cư từ nông thôn ra thành thị có mức sống được cải thiện hơn so với cả nhóm người không di cư ở lại nông thôn lẫn nhóm dân cư bản địa sở tại. Quá trình này đồng thời thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 1985, nông nghiệp đóng góp tới 37,2% GDP của Việt Nam; đến năm 2008, tỷ trọng này đã giảm xuống còn 18,5%. Ngược lại, công nghiệp chỉ chiếm 26,2% GDP vào năm 1985, nhưng đã vươn lên chiếm 43,2% vào năm 2008. Đô thị hóa cũng góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ công ích thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận với lưới điện quốc gia đã tăng vọt từ mức 14% vào năm 1993 lên hơn 96% vào năm 2009. Về khả năng tiếp cận nước sạch, dữ liệu từ 65 công ty cấp nước cho thấy năm 2002 chỉ có 12% số hộ gia đình trong vùng phủ sóng được kết nối mạng lưới cấp nước sinh hoạt; đến năm 2007, con số này đã tăng lên hơn 70%. Mặc dù đô thị hóa mang lại nhiều lợi ích to lớn, tiến trình này cũng kéo theo những thách thức phức tạp như gia tăng ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước.
Nhiều người dân Việt Nam sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại chính do giá thành hợp lý và tính cơ động cao. Số lượng xe gắn máy khổng lồ lưu thông trên đường phố là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng tắc nghẽn giao thông và suy giảm chất lượng không khí tại các đô thị. Riêng tại thủ đô Hà Nội, số lượng xe máy đã tăng từ 500.000 chiếc năm 2001 lên 4,7 triệu chiếc vào năm 2013. Cùng với đà phát triển công nghiệp nhanh chóng, hàng loạt nhà máy xí nghiệp mọc lên cũng gián tiếp gây ô nhiễm môi trường khí quyển và các lưu vực sông ngòi, điển hình như sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung năm 2016. Chính phủ đã và đang tích cực can thiệp nhằm tìm kiếm các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí thông qua việc hạn chế phương tiện cá nhân kết hợp phát triển giao thông công cộng. Nhiều quy chuẩn khắt khe về quản lý chất thải cũng đã được ban hành. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các khu vực đô thị của Việt Nam đã tăng hơn 200% trong giai đoạn từ 2003 đến 2008, trong đó rác thải rắn công nghiệp chiếm 181% mức tăng này. Một trong những nỗ lực hiện nay của chính quyền là đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện phân loại rác thải tại nguồn, bởi thói quen phân loại chất thải vẫn chưa thực sự phổ biến trong đại bộ phận xã hội.
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Việt Nam
| |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng | Tên | Trực thuộc | Dân số | Hạng | Tên | Trực thuộc | Dân số | ||
Thành phố Hồ Chí Minh Hà Nội |
1 | Thành phố Hồ Chí Minh | Trung ương | 8.993.082 | 11 | Vinh | Nghệ An | 473.275 | Hải Phòng Cần Thơ |
| 2 | Hà Nội | Trung ương | 8.053.663 | 12 | Thanh Hóa | Thanh Hóa | 436.833 | ||
| 3 | Hải Phòng | Trung ương | 2.028.514 | 13 | Nha Trang (thành phố) | Khánh Hòa | 422.601 | ||
| 4 | Cần Thơ | Trung ương | 1.235.171 | 14 | Buôn Ma Thuột (thành phố) | Đắk Lắk | 375.590 | ||
| 5 | Đà Nẵng | Trung ương | 1.134.310 | 15 | Tân Uyên | Bình Dương | 370.512 | ||
| 6 | Huế | Trung ương | 1.128.620 | 16 | Vũng Tàu | Bà Rịa – Vũng Tàu | 357.124 | ||
| 7 | Biên Hòa (thành phố) | Đồng Nai | 1.055.414 | 17 | Thái Nguyên | Thái Nguyên | 340.403 | ||
| 8 | Thủ Đức | Thành phố Hồ Chí Minh | 1.013.795 | 18 | Bắc Giang | Bắc Giang | 326.354 | ||
| 9 | Thuận An (thành phố) | Bình Dương | 596.227 | 19 | Thủy Nguyên (thành phố) | Hải Phòng | 333.810 | ||
| 10 | Dĩ An (thành phố) | Bình Dương | 474.681 | 20 | Hạ Long (thành phố) | Quảng Ninh | 322.710 | ||
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ quốc gia của đất nước là tiếng Việt, một ngôn ngữ có thanh điệu thuộc nhánh Việt trong Ngữ hệ Nam Á, được sử dụng bởi tuyệt đại đa số cư dân. Các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam sử dụng nhiều ngôn ngữ đa dạng khác nhau, bao gồm: tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mường, tiếng Chăm, tiếng Khmer, tiếng Hoa (chủ yếu là tiếng Quảng Đông, Triều Châu và Khách Gia) cùng tiếng H'Mông. Các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên cũng nói nhiều thứ tiếng riêng biệt, một số thuộc ngữ hệ Nam Á và một số khác thuộc ngữ tộc Mã Lai–Đa Đảo. Trong những năm gần đây, một số hệ thống ngôn ngữ ký hiệu cũng đã phát triển tại các thành phố lớn.

Tiếng Pháp, một di sản từ thời kỳ thực dân đô hộ, vẫn được một bộ phận tầng lớp trí thức sử dụng như một ngoại ngữ thứ hai, đặc biệt là trong số những người từng được đào tạo tại miền Nam trước đây, nơi tiếng Pháp từng là một ngôn ngữ chính trị, hành chính, học thuật và thương mại. Việt Nam hiện là thành viên chính thức của Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) và ngành giáo dục đã có những bước đi nhằm khôi phục sự quan tâm đối với ngôn ngữ này. Tiếng Nga, và ở mức độ thấp hơn là tiếng Đức, tiếng Séc và tiếng Ba Lan, được biết đến bởi một bộ phận dân cư miền Bắc từng có thời gian học tập, làm việc hoặc có liên hệ mật thiết với khối Đông Âu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và việc cải cách hệ thống giáo dục, tiếng Anh ngày càng được sử dụng phổ biến với tư cách là ngoại ngữ thứ hai, và việc học tiếng Anh hiện là yêu cầu bắt buộc tại hầu hết các trường phổ thông song song với hoặc thay thế cho tiếng Pháp. Mức độ phổ biến của tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Quan Thoại cũng gia tăng mạnh mẽ khi quan hệ kinh tế, ngoại giao giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Á ngày càng được củng cố. Học sinh lớp 3 có thể lựa chọn một trong bảy thứ tiếng (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Đức) làm ngoại ngữ 1. Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, thí sinh được phép lựa chọn thi môn ngoại ngữ bằng một trong các thứ tiếng nói trên.
Tôn giáo
Điều 24 của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân. Theo đó, các cơ sở thờ tự được pháp luật bảo hộ, trong khi các hoạt động thực hành tín ngưỡng và tôn giáo phải tuân thủ khuôn khổ quy định của pháp luật hiện hành. Theo một cuộc khảo sát xã hội học năm 2007, có tới 81% người Việt Nam không tin vào thượng đế hay thần linh. Dữ liệu thống kê của chính phủ năm 2009 cho thấy số lượng tín đồ các tôn giáo đã tăng thêm 932.000 người. Thống kê chính thức do chính phủ Việt Nam đệ trình lên Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc vào năm 2014 ghi nhận tổng số tín đồ của các tôn giáo được công nhận là khoảng 24 triệu người trên tổng số gần 90 triệu dân.
Theo sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam (2023), tính đến năm 2021 Việt Nam có 36 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau đã được nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với 26,5 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Cũng theo cuốn sách trắng này, tín đồ Phật giáo chiếm 14,3% tổng dân số, Công giáo chiếm 7,1%, Tin Lành chiếm 1,2%, Hòa Hảo chiếm 1,5% và Cao Đài chiếm 1,2%. Các tôn giáo khác được nhà nước công nhận bao gồm Tịnh độ cư sĩ, Hồi giáo, Baha'i, Cơ Đốc Phục Lâm, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Minh Sư đạo, Minh Lý đạo, Ấn Độ giáo, Mặc Môn, Bửu Sơn Kỳ Hương và Hiếu Nghĩa Tà Lơn.
Đại bộ phận người Việt không theo một tôn giáo có tổ chức cụ thể nào, song nhiều người vẫn thực hành các nghi lễ thuộc Tín ngưỡng dân gian Việt Nam cùng một số triết lý đạo đức Phật giáo. Nho giáo với tư cách là một hệ tư tưởng luân lý và triết học xã hội vẫn duy trì ảnh hưởng sâu rộng trong nếp sống người Việt hiện đại. Nhánh Phật giáo Đại thừa là tông phái chiếm ưu thế tuyệt đối trong cộng đồng Phật tử người Kinh, trong khi nhánh Nam tông (Theravada) chủ yếu được thực hành bởi đồng bào dân tộc thiểu số Khmer. Do tính chất đan xen giữa văn hóa truyền thống và giáo lý Phật giáo nên các ước tính về số lượng Phật tử có sự chênh lệch lớn; Giáo hội Phật giáo Việt Nam từng công bố con số khoảng 10 triệu tín đồ vào năm 2010. Khoảng 8 đến 9% dân số theo Kitô giáo, bao gồm Công giáo Rôma và Tin Lành. Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và được đặt nền móng vững chắc bởi các giáo sĩ Dòng Tên (chủ yếu là người Bồ Đào Nha và Ý) từ thương điếm Ma Cao trong thế kỷ 17. Các thừa sai người Pháp (từ Hội Thừa sai Paris) và Tây Ban Nha (từ Dòng Đa Minh) tiếp tục công cuộc truyền giáo trong suốt thế kỷ 18, 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Một bộ phận đáng kể cư dân, đặc biệt là ở Nam Bộ, là tín đồ của hai tôn giáo bản địa mang tính hỗn dung là đạo Cao Đài và hệ phái Phật giáo Hòa Hảo. Đạo Tin Lành được truyền bá bởi các nhà truyền giáo người Canada và Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20; tổ chức Tin Lành lớn nhất là Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Khoảng 770.000 tín đồ Tin Lành trên cả nước là đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhóm người Thượng tại Tây Nguyên và người H'Mông. Đạo Tin Lành đã ghi nhận tốc độ phát triển tín đồ nhanh chóng tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 21. Ngoài ra, tại Việt Nam còn có một số cộng đồng tôn giáo thiểu số khác: bao gồm các nhánh Sunni, Hồi giáo không giáo phái và hệ phái Hồi giáo Bà Ni truyền thống được thực hành chủ yếu trong cộng đồng người Chăm. Đất nước cũng có một số lượng nhỏ tín đồ người Kinh theo Hồi giáo, các nhóm tín đồ theo Baha'i, cũng như các tín đồ Ấn Độ giáo trong cộng đồng người Chăm Bàlamôn.
Giáo dục
Việt Nam sở hữu mạng lưới trường học, cao đẳng và đại học công lập rộng khắp do nhà nước quản lý, bên cạnh số lượng ngày càng gia tăng các cơ sở giáo dục tư thục và dân lập. Hệ thống giáo dục phổ thông tại Việt Nam được phân thành năm cấp bậc: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và bậc đại học. Hàng loạt trường học công lập đã được xây dựng kiên cố trên khắp cả nước nhằm nâng cao tỷ lệ biết chữ, vốn đã đạt mức 90% vào năm 2008. Phần lớn các trường đại học trọng điểm đều tập trung tại hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong bối cảnh nền giáo dục nước nhà liên tục trải qua các lộ trình đổi mới căn bản và toàn diện của chính phủ. Giáo dục cơ bản được phổ cập với mức học phí thấp hoặc miễn giảm cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, dẫu vậy nhiều gia đình nghèo vẫn gặp áp lực về chi phí học tập nếu không có sự trợ cấp của nhà nước hoặc xã hội. Bất chấp những khó khăn đó, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi của Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao trên thế giới. Số lượng các trường cao đẳng và đại học đã gia tăng nhanh chóng trong thập niên 2000, từ 178 cơ sở năm 2000 lên 299 cơ sở vào năm 2005. Ở bậc đại học, nhà nước cung cấp các gói tín dụng ưu đãi học sinh sinh viên thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, dù vẫn còn những trăn trở về khả năng tiếp cận nguồn vốn vay cũng như gánh nặng hoàn trả sau khi tốt nghiệp. Kể từ năm 1995, quy mô sinh viên đại học đã tăng gấp mười lần lên hơn 2,2 triệu người với đội ngũ 84.000 giảng viên tại 419 cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường đại học quốc tế danh tiếng cũng đã thành lập phân hiệu đào tạo tại Việt Nam, bao gồm Đại học Fulbright Việt Nam (hợp tác với Hoa Kỳ) và Đại học RMIT (Úc). Cam kết mạnh mẽ của chính phủ dành cho giáo dục đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc, song vẫn đòi hỏi những chính sách đãi ngộ thỏa đáng để thu hút và giữ chân đội ngũ trí thức, học giả. Năm 2018, nghị định về cơ chế tự chủ đại học cho phép các trường tự quyết định vận hành học thuật và tài chính đã bước vào giai đoạn phê chuẩn hoàn thiện. Nhà nước tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là hỗ trợ các đối tượng yếu thế được tiếp cận giáo dục nền tảng.
Y tế

Đến năm 2015, có tới 97% dân số được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Năm 2016, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đạt 80,9 tuổi đối với nữ giới và 71,5 tuổi đối với nam giới, trong khi tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm xuống còn 17 ca trên 1.000 trẻ sinh sống. Ngay từ thời kỳ chia cắt, miền Bắc đã sớm xây dựng mạng lưới y tế cơ sở bao phủ tới tận cấp thôn xóm, bản làng. Sau ngày thống nhất non sông năm 1975, hệ thống y tế toàn dân được triển khai trên quy mô toàn quốc. Vào cuối thập niên 1980, chất lượng chăm sóc y tế từng có giai đoạn sụt giảm phần nào do áp lực ngân sách nhà nước eo hẹp, việc chuyển giao trách nhiệm quản lý tài chính cho chính quyền cấp tỉnh và việc bắt đầu áp dụng chế độ viện phí. Nguồn kinh phí hạn hẹp cũng dẫn tới tình trạng thiếu hụt điều dưỡng, nữ hộ sinh và quá tải giường bệnh; năm 2000, Việt Nam chỉ có 24,7 giường bệnh trên 10.000 dân trước khi giảm nhẹ xuống 23,7 vào năm 2005 theo báo cáo thường niên của Bộ Y tế. Việc sử dụng bừa bãi các hóa chất diệt cỏ làm vũ khí hóa học của Quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh đã để lại những di chứng nặng nề và lâu dài đối với nhiều thế hệ người dân Việt Nam cho tới tận ngày nay. Điển hình là khoảng ba triệu người Việt Nam phải gánh chịu các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, một triệu trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh do phơi nhiễm trực tiếp chất độc dioxin, và khoảng 24% diện tích rừng tự nhiên bị rụng lá trơ trụi.
Kể từ đầu thập niên 2000, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong công tác phòng chống sốt rét. Tỷ lệ tử vong do sốt rét đến năm 2005 đã giảm xuống chỉ còn khoảng 5% so với mức của thập niên 1990 nhờ áp dụng các phác đồ điều trị và thuốc kháng sốt rét thế hệ mới. Tuy nhiên, các ca nhiễm bệnh lao lại có xu hướng gia tăng phức tạp; lao đã trở thành căn bệnh truyền nhiễm phổ biến thứ hai tại Việt Nam chỉ sau các bệnh lý liên quan đến đường hô hấp. Nhờ các chiến dịch tiêm chủng mở rộng, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường cùng sự trợ giúp quốc tế, Việt Nam đặt mục tiêu kéo giảm mạnh số ca mắc mới và lây nhiễm lao. Năm 2004, nguồn ngân sách trợ cấp nhà nước chi trả khoảng 15% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe toàn dân. Cùng năm đó, Hoa Kỳ thông báo đưa Việt Nam vào danh sách 15 quốc gia thụ hưởng nguồn tài trợ thuộc kế hoạch cứu trợ khẩn cấp toàn cầu về phòng chống AIDS (PEPFAR). Đến năm tiếp theo, cả nước ghi nhận 101.291 ca nhiễm HIV, trong đó 16.528 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 9.554 người đã tử vong. Con số thực tế người nhiễm HIV được dự báo cao hơn nhiều; trung bình mỗi ngày cả nước ghi nhận thêm 40 đến 50 ca nhiễm mới. Năm 2007, ước tính khoảng 0,4% dân số nhiễm HIV và tỷ lệ này duy trì ổn định kể từ năm 2005. Nhiều nguồn viện trợ quốc tế tiếp tục được giải ngân qua Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, lao và sốt rét để hỗ trợ công tác ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Vào tháng 9 năm 2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra văn bản khuyến cáo người dân thủ đô từ bỏ thói quen ăn thịt chó và thịt mèo do nguy cơ lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh dại và bệnh xoắn khuẩn vàng da. Thống kê cho thấy có hơn 1.000 điểm kinh doanh giết mổ buôn bán hai loại thịt này trên địa bàn Hà Nội. Khuyến nghị này đã nhận được sự đồng thuận tích cực từ đông đảo người dân trên các nền tảng mạng xã hội, dù nhiều ý kiến cho rằng tập quán ẩm thực này vẫn còn ăn sâu trong thói quen của không ít người.
Văn hóa

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng: từ vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thanh–Nghệ với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc, đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm tại Nam Trung Bộ, các bộ tộc Tây Nguyên, cùng vùng đất mới Nam Bộ kết hợp với văn hóa các sắc tộc Hoa, Khmer.
Về khía cạnh truyền thống, văn hóa chủ lưu của người Việt được coi là thuộc vùng văn hóa Á Đông (cùng với Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản). Với lịch sử hàng nghìn năm, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.
54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ của văn học, nghệ thuật.
Âm nhạc

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng miền của Việt Nam. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ và Nhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Ca trù là một loại hình diễn xướng âm nhạc giàu chất liệu thi ca. Chèo, tuồng, cải lương là hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian. Quan họ có ở Bắc Ninh. Chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. UNESCO công nhận nhã nhạc Huế, ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử Nam Bộ, ví giặm Nghệ Tĩnh, bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên, hát then là những di sản văn hóa phi vật thể. Các nhạc cụ truyền thống có thể kể đến đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt, đàn đá, trống, phách,...
Thế kỷ 20 xuất hiện các thể loại tân nhạc Việt Nam. Thời Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) phổ biến nhạc đỏ, trong khi nhạc vàng phát triển tại miền Nam (Việt Nam Cộng hòa). Âm nhạc hiện đại có tên gọi V-pop là thể loại ca nhạc tiếng Việt rất phổ biến trên các phương tiện truyền thông ngày nay, với các ca sĩ như Đàm Vĩnh Hưng, Đông Nhi, Sơn Tùng M-TP, Min, Mỹ Tâm hay các diva như Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu Hà và Mỹ Linh.
Trang phục

Áo dài là trang phục truyền thống phổ biến ở Việt Nam, thường được nữ giới mặc trong những dịp như đám cưới và lễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh trung học ở một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam, ít nhất là phải mặc trong tiết Chào cờ. một số ví dụ khác về trang phục tại Việt Nam bao gồm áo giao lĩnh, áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, áo Nhật Bình,... Mũ nón bao gồm nón lá và nón quai thao. Các trang phục của người dân tộc thiểu số cũng có thể sử dụng.
Ẩm thực
Ẩm thực Việt Nam có sự kết hợp của 5 yếu tố cơ bản: cay, chua, đắng, mặn và ngọt. Nước mắm, nước tương,... là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu trong món ăn.
Phong cách nấu ăn trong ẩm thực Việt Nam có thể có các nguyên liệu tươi hơn, dùng dầu ít hơn và phụ thuộc hơn vào rau thơm, rau quả.
Một đặc điểm để phân biệt ẩm thực Việt Nam với các nước khác là ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống có thể có ít hơn những món cầu kỳ, hầm nhừ, ninh kỹ như trong ẩm thực Trung Quốc cũng như không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao như trong ẩm thực Nhật Bản mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ như chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn,...).
Thể thao

Các môn thể thao truyền thống Việt Nam có đấu vật, võ thuật, đá cầu, cờ tướng,... Ở một số khu vực tập trung người dân tộc thiểu số có bắn nỏ, đẩy gậy. Một số môn thể thao hiện đại có sự phổ biến như bóng đá, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, billiards, cờ vua,... Bóng đá là môn thể thao được người Việt Nam quan tâm, chơi và theo dõi nhiều nhất.
Tại các kỳ Olympic mùa hè, Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa tham gia từ năm 1952 đến năm 1972 nhưng không có huy chương, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không tham gia lần nào. Sau khi thống nhất vào năm 1975, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 1980, có huy chương đầu tiên là huy chương bạc vào năm 2000 bởi võ sĩ Taekwondo Trần Hiếu Ngân, và giành được huy chương vàng đầu tiên vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có huy chương vàng đầu tiên do lực sĩ Lê Văn Công ở môn cử tạ đạt được vào năm 2016. Do là nước nhiệt đới, Việt Nam không phát triển các môn thể thao mùa đông (như trượt băng), cũng như chưa từng tham gia Olympic mùa đông.
Ngày lễ
| Ngày tháng | Số ngày | Tên |
|---|---|---|
| 1 tháng 1 | 1 | Tết Dương Lịch |
| 30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 (âm lịch) | 5–15 | Tết Nguyên Đán |
| 10 tháng 3 (âm lịch) | 1 | Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương |
| 30 tháng 4 | Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước | |
| 1 tháng 5 | Ngày Quốc tế Lao động | |
| 2 tháng 9 | 2 | Ngày Quốc khánh |
| 24 tháng 11 | 1 | Ngày Văn hóa Việt Nam |
Ghi chú
- ^ Hiến pháp Việt Nam 2013, điều 5.3
- ^ Diện tích của Việt Nam được đề cập ở đây dựa trên số liệu thống kê diện tích đất đai do chính phủ Việt Nam cung cấp. Hiện cũng tồn tại các con số thay thế khác. Theo CIA World Factbook, tổng diện tích của Việt Nam là 331.210 ki-lô-mét vuông, trong khi BBC trích dẫn một phép đo là 331.699 ki-lô-mét vuông.
- ^ theo Danh sách quốc gia theo diện tích
- ^ Cả chính phủ Hoa Kỳ lẫn chính quyền Quốc gia Việt Nam của Ngô Đình Diệm đều không ký vào bất kỳ văn bản nào tại Hội nghị Genève năm 1954. Phái đoàn Quốc gia Việt Nam đã kịch liệt phản đối mọi giải pháp chia cắt đất nước; dẫu vậy, phía Pháp đã chấp thuận đề xuất của Việt Minh về việc thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử dưới sự giám sát của "các ban hội thẩm địa phương". Hoa Kỳ, với sự ủng hộ của Quốc gia Việt Nam và Vương quốc Anh, đã phản đối bằng "Kế hoạch của Mỹ", trong đó đề xuất tổ chức tổng tuyển cử dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc. Dù vậy, phương án này đã bị phái đoàn Liên Xô cùng các đoàn đại biểu cộng sản khác khước từ.
Chú thích
Nguồn
Sách in
- Proceedings of the Regional Dialogue on Biodiversity and Natural Resources Management in Mainland Southeast Asian Economies, Kunming Institute of Botany, Yunnan, China, 21–24 February 1995. Natural Resources and Environment Program, Thailand Development Research Institute Foundation. 1995.
- Vietnam: Selected Issues. International Monetary Fund. 1999. ISBN 978-1-4519-8721-8.
- Selections from Regional Press. Quyển 20. Institute of Regional Studies. 2001.
- Peasant and Labour. University of California. 1972.
- Adhikari, Ramesh; Kirkpatrick, Colin H.; Weiss, John (1992). Industrial and Trade Policy Reform in Developing Countries. Manchester University Press. ISBN 978-0-7190-3553-1.
- Akazawa, Takeru; Aoki, Kenichi; Kimura, Tasuku (1992). The evolution and dispersal of modern humans in Asia. Hokusen-sha. ISBN 978-4-938424-41-1.
- Alterman, Eric (2005). When Presidents Lie: A History of Official Deception and Its Consequences. Penguin. ISBN 978-0-14-303604-3.
- Anderson, James A.; Whitmore, John K. (2014). China's Encounters on the South and Southwest: Reforging the Fiery Frontier Over Two Millennia. Brill Publishers. ISBN 978-90-04-28248-3.
- Anderson, Wanni Wibulswasdi; Lee, Robert G. (2005). Displacements and Diasporas: Asians in the Americas. Rutgers University Press. ISBN 978-0-8135-3611-8.
- Asian Development Bank (2010). Asian Development Outlook 2010 Update. Asian Development Bank. ISBN 978-92-9092-181-3.
- Boobbyer, Claire; Spooner, Andrew (2013). Vietnam, Cambodia & Laos Footprint Handbook. Footprint Travel Guides. ISBN 978-1-907263-64-4.
- Asselin, Pierre (2024). Vietnam's American War: A New History. Cambridge University Press. ISBN 978-1-009-22930-2. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Brigham, Robert Kendall (1998). Guerrilla Diplomacy: The NLF's Foreign Relations and the Viet Nam War. Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-3317-7.
- Buttinger, Joseph (1968). Vietnam: A Political History. New York City: Praeger.
- Calo, Ambra (2009). Trails of Bronze Drums Across Early Southeast Asia: Exchange Routes and Connected Cultural Spheres. Archaeopress. ISBN 978-1-4073-0396-3.
- Chen, Steven (2018). The Design Imperative: The Art and Science of Design Management. Springer Publishing. ISBN 978-3-319-78568-4.
- Chesneaux, Jean (1966). The Vietnamese Nations: Contribution to a History. Current Book Distributors.
- Chico, Beverly (2013). Hats and Headwear around the World: A Cultural Encyclopedia: A Cultural Encyclopedia. ABC-CLIO. ISBN 978-1-61069-063-8.
- Cook, Bernard A. (2001). Europe Since 1945: An Encyclopedia. Taylor & Francis. ISBN 978-0-8153-4057-7.
- Cooke, Nola; Li, Tana; Anderson, James (2011). The Tongking Gulf Through History. University of Pennsylvania Press. ISBN 978-0-8122-4336-9.
- Cortada, James W. (1994). Spain in the Nineteenth-century World: Essays on Spanish Diplomacy, 1789–1898. Greenwood Press. ISBN 978-0-313-27655-2.
- Cosslett, Tuyet L.; Cosslett, Patrick D. (2013). Water Resources and Food Security in the Vietnam Mekong Delta. Springer Science + Business Media. ISBN 978-3-319-02198-0.
- Cosslett, Tuyet L.; Cosslett, Patrick D. (2017). Sustainable Development of Rice and Water Resources in Mainland Southeast Asia and Mekong River Basin. Springer Publishing. ISBN 978-981-10-5613-0.
- Cottrell, Robert C. (2009). Vietnam. Infobase Publishing. ISBN 978-1-4381-2147-5.
- Dayley, Robert (2018). Southeast Asia in the New International Era. Taylor & Francis. ISBN 978-0-429-97424-3.
- de Laet, Sigfried J.; Herrmann, Joachim (1996). History of Humanity: From the seventh century B.C. to the seventh century A.D. Routledge. ISBN 978-92-3-102812-0.
- de Mora, Javier Calvo; Wood, Keith (2014). Practical Knowledge in Teacher Education: Approaches to teacher internship programmes. Taylor & Francis. ISBN 978-1-317-80333-1.
- Dennell, Robin; Porr, Martin (2014). Southern Asia, Australia, and the Search for Human Origins. Cambridge University Press. ISBN 978-1-107-72913-1.
- DK (2017). The Vietnam War: The Definitive Illustrated History. Dorling Kindersley. ISBN 978-0-241-30868-4.
- Dodd, Jan; Lewis, Mark (2003). Vietnam. Rough Guides. ISBN 978-1-84353-095-4.
- Dohrenwend, Bruce P.; Turse, Nick; Wall, Melanie M.; Yager, Thomas J. (2018). Surviving Vietnam: Psychological Consequences of the War for US Veterans. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-090444-9.
- Duc Tran, Hong; Thu Ha, Anh (2000). A Brief Chronology of Vietnam's History. Thế Giới Publishers.
- Duy Hinh, Nguyen; Dinh Tho, Tran (2015). The South Vietnamese Society. Normanby Press. ISBN 978-1-78625-513-6.
- Eggleston, Michael A. (2014). Exiting Vietnam: The Era of Vietnamization and American Withdrawal Revealed in First-Person Accounts. McFarland Publishing. ISBN 978-0-7864-7772-2.
- Elliott, Mai (2010). RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era. RAND Corporation. ISBN 978-0-8330-4915-5.
- Englar, Mary (2006). Vietnam: A Question and Answer Book. Capstone Publishers. ISBN 978-0-7368-6414-5.
- Frankum, Ronald B. Jr. (2011). Historical Dictionary of the War in Vietnam. Scarecrow Press. ISBN 978-0-8108-7956-0.
- Frohlich, Holger L.; Schreinemachers, Pepijn; Stahr, Karl; Clemens, Gerhard (2013). Sustainable Land Use and Rural Development in Southeast Asia: Innovations and Policies for Mountainous Areas. Springer Science + Business Media. ISBN 978-3-642-33377-4.
- Gettleman, Marvin E.; Franklin, Jane; Young, Marilyn B.; Franklin, H. Bruce (1995). Vietnam and America: A Documented History. Grove Press. ISBN 978-0-8021-3362-5.
- Gibbons, William Conrad (2014). The U.S. Government and the Vietnam War: Executive and Legislative Roles and Relationships, Part III: 1965–1966. Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-6153-8.
- Gilbert, Adrian (2013). Encyclopedia of Warfare: From the Earliest Times to the Present Day. Taylor & Francis. ISBN 978-1-135-95697-4.
- Goscha, Christopher (2016). Vietnam: A New History. Basic Books. ISBN 978-0-465-09437-0. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Gravel, Mike (1971). The Pentagon Papers: The Defense Department History of United States Decision-making on Vietnam. Beacon Press. ISBN 978-0-8070-0526-2.
- Green, Thomas A. (2001). Martial Arts of the World: A-Q. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-150-2.
- Guillemot, François (2004). "Au coeur de la fracture vietnamienne : l'élimination de l'opposition nationaliste et anticolonialiste dans le Nord du Vietnam (1945–1946)". Trong Goscha, Christopher E.; de Tréglodé, Benoît (biên tập). Naissance d'un État-Parti: Le Viêt Nam depuis 1945. Paris: Les Indes savantes. tr. 175–216. ISBN 978-2-84654-064-3. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Gunn, Geoffrey C. (2014). Rice Wars in Colonial Vietnam: The Great Famine and the Viet Minh Road to Power. Rowman & Littlefield Publishers. ISBN 978-1-4422-2303-5.
- Gustafsson, Mai Lan (2010). War and Shadows: The Haunting of Vietnam. Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-5745-6.
- Hampson, Fen Osler (1996). Nurturing Peace: Why Peace Settlements Succeed Or Fail. US Institute of Peace Press. ISBN 978-1-878379-55-9.
- Heneghan, George Martin (1969). Nationalism, Communism and the National Liberation Front of Vietnam: Dilemma for American Foreign Policy. Department of Political Science, Stanford University.
- Hien Le, Nang (2003). Three victories on the Bach Dang river. Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin.
- Hoang, Anh Tuan (2007). Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1637–1700. Brill Publishers. ISBN 978-90-04-15601-2.
- Holcombe, Alec (2020). Mass Mobilization in the Democratic Republic of Vietnam, 1945–1960. University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-8248-8447-5. JSTOR j.ctv105bb0z. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Holmgren, Jennifer (1980). Chinese colonisation of northern Vietnam: administrative geography and political development in the Tongking Delta, first to sixth centuries A.D. Australian National University, Faculty of Asian Studies: distributed by Australian University Press. ISBN 978-0-909879-12-9.
- Hong Lien, Vu; Sharrock, Peter (2014). Descending Dragon, Rising Tiger: A History of Vietnam. Reaktion Books. ISBN 978-1-78023-388-8.
- Howard, Michael C. (2016). Textiles and Clothing of Việt Nam: A History. McFarland & Company. ISBN 978-1-4766-2440-2.
- Howe, Brendan M. (2016). Post-Conflict Development in East Asia. Routledge. ISBN 978-1-317-07740-4.
- Isserman, Maurice; Bowman, John Stewart (2009). Vietnam War. Infobase Publishing. ISBN 978-1-4381-0015-9.
- Joes, Anthony James (1992). Modern Guerrilla Insurgency. ABC-CLIO. ISBN 978-0-275-94263-2.
- Jones, John R. (1998). Guide to Vietnam. Bradt Publications. ISBN 978-1-898323-67-9.
- Jukes, Geoffrey (1973). The Soviet Union in Asia. University of California Press. ISBN 978-0-520-02393-2.
- Karlstrom, Anna; Kallen, Anna (2002). Southeast Asian Archaeology. Östasiatiska Samlingarna (Stockholm, Sweden), European Association of Southeast Asian Archaeologists. International Conference. Museum of Far Eastern Antiquities, Stockholm. ISBN 978-91-970616-0-5.
- Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. ISBN 978-0-520-95382-6.
- Keyes, Charles F. (1995). The Golden Peninsula: Culture and Adaptation in Mainland Southeast Asia. University of Hawaii Press. ISBN 978-0-8248-1696-4.
- Khanh Huynh, Kim (1986). Vietnamese Communism, 1925–1945. Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-9397-3.
- Khoo, Nicholas (2011). Collateral Damage: Sino-Soviet Rivalry and the Termination of the Sino-Vietnamese Alliance. Columbia University Press. ISBN 978-0-231-15078-1.
- Kiernan, Ben (2017). Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-516076-5.
- Kissi, Edward (2006). Revolution and Genocide in Ethiopia and Cambodia. Lexington Books. ISBN 978-0-7391-1263-2.
- Knoblock, John; Riegel, Jeffrey (2001). The Annals of Lü Buwei. Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-3354-0.
- Koblitz, Neal (2009). Random Curves: Journeys of a Mathematician. Springer Science + Business Media. ISBN 978-3-540-74078-0.
- Kort, Michael G. (2017). The Vietnam War Reexamined. Cambridge University Press. doi:10.1017/9781107110199. ISBN 978-1-107-11019-9.
- Koskoff, Ellen (2008). The Concise Garland Encyclopedia of World Music: The Middle East, South Asia, East Asia, Southeast Asia. Routledge. ISBN 978-0-415-99404-0.
- Ky Phuong, Trần; Lockhart, Bruce M. (2011). The Cham of Vietnam: History, Society and Art. NUS Press. ISBN 978-9971-69-459-3.
- Lamport, Mark A. (2018). Encyclopedia of Christianity in the Global South. Rowman & Littlefield Publishers. ISBN 978-1-4422-7157-9.
- Largo, V. (2002). Vietnam: Current Issues and Historical Background. Nova Publishers. ISBN 978-1-59033-368-6.
- Leonard, Jane Kate (1984). Wei Yuan and China's Rediscovery of the Maritime World. Harvard Univ Asia Center. ISBN 978-0-674-94855-6.
- Levinson, David; Christensen, Karen (2002). Encyclopedia of Modern Asia. Charles Scribner's Sons. ISBN 978-0-684-31247-7.
- Lewandowski, Elizabeth J. (2011). The Complete Costume Dictionary. Scarecrow Press. ISBN 978-0-8108-4004-1.
- Lewy, Guenter (1980). America in Vietnam. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-991352-7.
- Li, Tana (1998). Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries. SEAP Publications. ISBN 978-0-87727-722-4.
- Li, Xiaobing (2012). China at War: An Encyclopedia. ABC-CLIO. ISBN 978-1-59884-415-3.
- Lieberman, Victor (2003). Strange Parallels: Integration of the Mainland Southeast Asia in Global Context, c. 800–1830, Vol 1. Cambridge University Press.
- Lim, David (2014). Economic Growth and Employment in Vietnam. Taylor & Francis. ISBN 978-1-317-81859-5.
- Litvack, Jennie; Litvack, Jennie Ilene; Rondinelli, Dennis A. (1999). Market Reform in Vietnam: Building Institutions for Development. Greenwood Publishing Group. ISBN 978-1-56720-288-5.
- Lockard, Craig A. (2010). Societies, Networks, and Transitions, Volume 2: Since 1450. Cengage Learning. ISBN 978-1-4390-8536-3.
- Marr, David G. (2013). Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946). University of California Press. ISBN 978-0-520-95497-7. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- McLeod, Mark W. (1991). The Vietnamese Response to French Intervention, 1862–1874. Greenwood Publishing Group. ISBN 978-0-275-93562-7.
- Meggle, Georg (2004). Ethics of Humanitarian Interventions. Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-032773-1.
- Miettinen, Jukka O. (1992). Classical Dance and Theatre in South-East Asia. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-588595-8.
- Miller, Robert Hopkins (1990). United States and Vietnam 1787–1941. DIANE Publishing. ISBN 978-0-7881-0810-5.
- Moise, Edwin E. (2017). Land Reform in China and North Vietnam: Consolidating the Revolution at the Village Level. University of North Carolina Press. ISBN 978-0-8078-7445-5.
- Muehlenbeck, Philip Emil; Muehlenbeck, Philip (2012). Religion and the Cold War: A Global Perspective. Vanderbilt University Press. ISBN 978-0-8265-1852-1.
- Murray, Geoffrey (1997). Vietnam Dawn of a New Market. St. Martin's Press. ISBN 978-0-312-17392-0.
- Neville, Peter (2007). Britain in Vietnam: Prelude to Disaster, 1945–46. Routledge. ISBN 978-1-134-24476-8.
- Olsen, Mari (2007). Soviet-Vietnam Relations and the Role of China 1949–64: Changing Alliances. Routledge. ISBN 978-1-134-17413-3.
- Olson, Gregory A. (2012). Mansfield and Vietnam: A Study in Rhetorical Adaptation. MSU Press. ISBN 978-0-87013-941-3.
- Ooi, Keat Gin; Anh Tuan, Hoang (2015). Early Modern Southeast Asia, 1350–1800. Routledge. ISBN 978-1-317-55919-1.
- Ooi, Keat Gin (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-770-2.
- Oxenham, Marc; Buckley, Hallie (2015). The Routledge Handbook of Bioarchaeology in Southeast Asia and the Pacific Islands. Routledge. ISBN 978-1-317-53401-3.
- Oxenham, Marc; Tayles, Nancy (2006). Bioarchaeology of Southeast Asia. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-82580-1.
- Pelley, Patricia M. (2002). Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past. Duke University Press. ISBN 978-0-8223-2966-4.
- Phan, Khoang (1976). Việt sử: xứ đàng trong, 1558–1777. Cuộc nam-tié̂n của dân-tộc Việt-Nam. Nhà Sách Khai Trí. Xuân thu. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020.
- Phuong Linh, Huynh Thi (2016). State-Society Interaction in Vietnam. LIT Verlag Münster. ISBN 978-3-643-90719-6.
- Pike, Francis (2011). Empires at War: A Short History of Modern Asia Since World War II. I.B. Tauris. ISBN 978-0-85773-029-9.
- Protected Areas and Development Partnership (2003). Review of Protected Areas and Development in the Four Countries of the Lower Mekong River Region. ICEM. ISBN 978-0-9750332-4-1.
- Rabett, Ryan J. (2012). Human Adaptation in the Asian Palaeolithic: Hominin Dispersal and Behaviour During the Late Quaternary. Cambridge University Press. ISBN 978-1-107-01829-7.
- Ramsay, Jacob (2008). Mandarins and Martyrs: The Church and the Nguyen Dynasty in Early Nineteenth-century Vietnam. Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-7954-8.
- Richardson, John (1876). A school manual of modern geography. Physical and political. Publisher not identified.
- Sharma, Gitesh (2009). Traces of Indian Culture in Vietnam. Rajkamal Prakashan. ISBN 978-81-905401-4-8.
- Smith, Anthony L. (2005). Southeast Asia and New Zealand: A History of Regional and Bilateral Relations. Victoria University Press. ISBN 978-0-86473-519-5.
- Smith, T. (2007). Britain and the Origins of the Vietnam War: UK Policy in Indo-China, 1943–50. Palgrave Macmillan UK. ISBN 978-0-230-59166-0.
- Taylor, Keith Weller (1983). The Birth of Vietnam. University of California Press. ISBN 978-0-520-04428-9.
- Thai Nguyen, Van; Mung Nguyen, Van (1958). A Short History of Viet-Nam. Vietnamese-American Association.
- Thaker, Aruna; Barton, Arlene (2012). Multicultural Handbook of Food, Nutrition and Dietetics. John Wiley & Sons. ISBN 978-1-118-35046-1.
- Thanh Hai, Do (2016). Vietnam and the South China Sea: Politics, Security and Legality. Taylor & Francis. ISBN 978-1-317-39820-2.
- Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 978-0-7007-0442-2.
- Tonnesson, Stein (2011). Vietnam 1946: How the War Began. University of California Press. ISBN 978-0-520-26993-4.
- Tran, Anh Q. (2017). Gods, Heroes, and Ancestors: An Interreligious Encounter in Eighteenth-Century Vietnam. Quyển 1. Oxford University Press. doi:10.1093/oso/9780190677602.001.0001. ISBN 978-0-19-067760-2. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2020.
- Tran, Nhung Tuyet; Reid, Anthony, biên tập (2006). Viet Nam: Borderless Histories. University of Wisconsin Press. ISBN 978-0-299-21773-0.
- Tran, Nu-Anh (2022). Disunion: Anticommunist Nationalism and the Making of the Republic of Vietnam. University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-8248-8786-5. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Tran, Tri C.; Le, Tram (2017). Vietnamese Stories for Language Learners: Traditional Folktales in Vietnamese and English Text (MP3 Downloadable Audio Included). Tuttle Publishing. ISBN 978-1-4629-1956-7.
- Tran, Tu Binh (1985). David G. Marr (biên tập). The Red Earth: A Vietnamese Memoir of Life on a Colonial Rubber Plantation. Southeast Asia Series. John Spragens, Jr biên dịch. Athens, Ohio: Ohio University Press. ISBN 978-0-896-80119-6.
- Travel, DK (2017). DK Eyewitness Travel Guide Vietnam and Angkor Wat. Dorling Kindersley. ISBN 978-0-241-30136-4.
- Trieu Dan, Nguyen (2017). A Vietnamese Family Chronicle: Twelve Generations on the Banks of the Hat River. McFarland Publishing. ISBN 978-0-7864-8779-0.
- Tucker, Spencer C. (2011). The Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History, 2nd Edition [4 volumes]: A Political, Social, and Military History. ABC-CLIO. ISBN 978-1-85109-961-0.
- Turner, Robert F. (1975). Vietnamese communism, its origins and development. Hoover Institution Press, Stanford University. ISBN 978-0-8179-6431-3.
- van Dijk, Ruud; Gray, William Glenn; Savranskaya, Svetlana; Suri, Jeremi; và đồng nghiệp (2013). Encyclopedia of the Cold War. Routledge. ISBN 978-1-135-92311-2.
- Vierra, Kimberly; Vierra, Brian (2011). Vietnam Business Guide: Getting Started in Tomorrow's Market Today. John Wiley & Sons. ISBN 978-1-118-17881-2.
- Vo, Nghia M. (2011). Saigon: A History. McFarland & Company. ISBN 978-0-7864-8634-2.
- Vo, Nghia M. (2012). Legends of Vietnam: An Analysis and Retelling of 88 Tales. McFarland & Company. ISBN 978-0-7864-9060-8.
- Vu, Tu Lap (1979). Vietnam: Geographical Data. Foreign Languages Publishing House.
- Waite, James (2012). The End of the First Indochina War: A Global History. Routledge. ISBN 978-1-136-27334-6.
- Willbanks, James H. (2013). Vietnam War Almanac: An In-Depth Guide to the Most Controversial Conflict in American History. Skyhorse Publishing. ISBN 978-1-62636-528-5.
- Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-416-9.
- Yao, Alice (2016). The Ancient Highlands of Southwest China: From the Bronze Age to the Han Empire. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-936734-4.
- Yue Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-08442-0.
- Zhu, Ying; Ren, Shuang; Collins, Ngan; Warner, Malcolm (2017). Business Leaders and Leadership in Asia. Taylor & Francis. ISBN 978-1-317-56749-3.
Nguồn từ nhà nước và chính phủ
- Anh, Van (2018). "Vietnam and Netherlands reaffirm economic relations" [Việt Nam và Hà Lan tái khẳng định quan hệ kinh tế]. Báo Đầu tư – vir (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- Fong-Sam, Yolanda (2010). "2010 Minerals Yearbook - Vietnam" [Niên giám Khoáng sản 2010 - Việt Nam] (PDF) (bằng tiếng Anh). Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2013.
- Garamone, Jim (2016). "Lifting Embargo Allows Closer U.S., Vietnam Cooperation, Obama, Carter Say" [Obama và Carter cho biết: Việc dỡ bỏ lệnh cấm vận cho phép hợp tác Hoa Kỳ - Việt Nam chặt chẽ hơn]. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Tổng cục Thống kê Việt Nam (2019). "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019" (PDF). Nhà xuất bản Thống kê (Việt Nam). ISBN 978-604-75-1532-5. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2020.
- Green, Michael (2012). "Foreign policy and diplomatic representation" [Chính sách đối ngoại và đại diện ngoại giao]. Te Ara: Bách khoa toàn thư New Zealand (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Nielsen, Chantal Pohl (2007). "Vietnam's Rice Policy: `Recent Reforms and Future Opportunities" [Chính sách lúa gạo của Việt Nam: Những cải cách gần đây và cơ hội tương lai] (PDF). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (bằng tiếng Anh). Việt Nam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018.
- Taylor, Claire; Rutherford, Tom (2011). "Military Balance in Southeast Asia [RESEARCH PAPER 11/79]" [Cán cân quân sự tại Đông Nam Á [Tài liệu nghiên cứu 11/79]] (PDF). Thư viện Hạ viện Anh. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Trung Chien, Tran Thi (2006). "Báo cáo Y tế Việt Nam" (PDF). Bộ Y tế. Việt Nam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018.
- "Tổng công ty cao su Việt Nam - triển vọng trở thành tập đoàn nông nghiệp hàng đầu Việt Nam". Bản tin AgroViet. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2008.
- "L'avenir de la francophonie au Vietnam" [Tuơng lai của cộng động Pháp ngữ tại Việt Nam]. Thượng viện Pháp (bằng tiếng Pháp). 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.
- "THÔNG CÁO BÁO CHÍ: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009". Tổng cục Thống kê Việt Nam. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- "Vận tải, Bưu chính và Viễn thông". Tổng cục Thống kê Việt Nam. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2018.
- "Thông tin thống kê hàng tháng – Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2011 [Tai nạn giao thông]". Tổng cục Thống kê. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2026.
- "Tổng quan về địa lý Việt Nam". Chính phủ Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2018.
- "Giới thiệu về Việt Nam (Hệ thống chính trị)". Chính phủ Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Minister Schultz signs agreement on water treatment project in Vietnam" [Bộ trưởng Schultz ký thỏa thuận về dự án xử lý nước tại Việt Nam]. Chính phủ Hà Lan (bằng tiếng Anh). 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- "Speech by Cora van Nieuwenhuizen, Minister of Infrastructure and Water Management, at the celebration of 45 years of bilateral relations with Vietnam, Hilton Hotel The Hague, 26 March 2018" [Bài phát biểu của Cora van Nieuwenhuizen, Bộ trưởng Bộ Cơ sở hạ tầng và Quản lý nước, tại lễ kỷ niệm 45 năm quan hệ song phương với Việt Nam, Khách sạn Hilton The Hague, 26 tháng 3 năm 2018]. Chính phủ Hà Lan (bằng tiếng Anh). 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- "UK aid helps clear lethal landmines in war-torn countries following generosity of British public" [Viện trợ của Vương quốc Anh giúp rà phá bom mìn nguy hiểm tại các quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh nhờ sự hào phóng của công chúng Anh]. Chính phủ Vương quốc Anh (bằng tiếng Anh). 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Thương mại Vương quốc Anh với Việt Nam – hướng tới 45 năm tiếp theo". Chính phủ Vương quốc Anh (bằng tiếng Anh). 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018.
- "Tổng quan về Chính sách Không gian tại các quốc gia Châu Á và Châu Âu". Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch. Nhật Bản. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2018.
- "Việt Nam [Bức tranh toàn cảnh về Việt Nam]" (PDF). Bộ Công dân và Di trú. Canada. 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- "Nga và Việt Nam dự thảo Kế hoạch Hoạt động Quân sự Quốc tế 2020". Bộ Quốc phòng. Nga. 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Chính sách đối ngoại Việt Nam". Bộ Ngoại giao. Việt Nam. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009.
- "Thông tin chung về các quốc gia và khu vực [Danh sách các quốc gia duy trì quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (tính đến tháng 4 năm 2010)]". Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). Việt Nam. 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- "Tiếp tục tiến tới hội nhập quốc tế sâu rộng". Bộ Ngoại giao. Việt Nam. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Việt Nam và các tổ chức quốc tế". Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). Việt Nam. 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2008.
- "Tài Liệu Cơ Bản Nước Cộng Hoà Hồi Giáo Pa-kít-xtan". Bộ Ngoại giao. Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013)". 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2026 – qua Chính phủ Việt Nam.
- "Bộ luật Hình sự (Số 15/1999/QH10)". Tòa án Nhân dân Tối cao. Việt Nam. 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2025.
- "Luật Xuất bản (Số 30/2004/QH11)". Chính phủ Việt Nam. Việt Nam. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- "Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về tín ngưỡng tôn giáo". Chính phủ Việt Nam. Việt Nam. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2025.
- "Luật số 10/2012/QH13 của Quốc hội: BỘ LUẬT LAO ĐỘNG". Chính phủ Việt Nam. Việt Nam. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2026.
- "Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005 Chuyên đề Đa dạng sinh học". Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2009.
- "Thành phần chính: Việt Nam". Special Broadcasting Service (bằng tiếng Anh). Úc. 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- "Xử lý Môi trường [Chất độc Da cam]". Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ. ngày 3 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018.
- "Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế 2006". Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (bằng tiếng Anh). 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
- "Chương trình Hành động Bom mìn Nhân đạo của Hoa Kỳ: Châu Á". Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (bằng tiếng Anh). 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2019.
- "Thành phố Nha Trang: Khai mạc Liên hoan ẩm thực văn hóa Việt Nam 2014". Mạng Thông tin Văn hóa Việt Nam (bằng tiếng Anh). 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Ký kết hợp đồng lập báo cáo nghiên cứu khả thi sân bay Long Thành". Báo Đầu tư – vir (bằng tiếng Anh). 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018.
- "Chinh phục đỉnh Fansipan". Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (bằng tiếng Anh). 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- "Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12 và 12 tháng năm 2017". Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2025.
Nghiên cứu khoa học
- BirdLife International (2016). "Lophura edwardsi". The IUCN Red List of Threatened Species. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T45354985A95145107.en.
- Amer, Ramses (1996). "Vietnam's Policies and the Ethnic Chinese since 1975". Sojourn: Journal of Social Issues in Southeast Asia. 11 (1): 76–104. JSTOR 41056928.
- Anh Dinh, Thuy (2016). The Causes and Effects of Korean Pop Culture on Vietnamese Consumer Behavior (PDF) (MA thesis) (bằng tiếng Anh). Đại học Thammasat. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2023.
- Baccini, Leonardo; Impullitti, Giammario; Malesky, Edmund J. (2017). "Globalization and State Capitalism: Assessing Vietnam's Accession to the WTO". CESifo Working Paper Series. SSRN 3036319 – qua Social Science Research Network.
- Banout, Jan; Urban, Ondrej; Musil, Vojtech; Szakova, Jirina; và đồng nghiệp (2014). "Agent Orange Footprint Still Visible in Rural Areas of Central Vietnam". Journal of Environmental and Public Health. 2014: 1–10. doi:10.1155/2014/528965. PMC 3930020. PMID 24639878.
- Berg, M; Stengel, C; Pham, TK; Pham, HV; và đồng nghiệp (2007). "Magnitude of arsenic pollution in the Mekong and Red River Deltas—Cambodia and Vietnam". Science of the Total Environment. 372 (2–3): 413–25. Bibcode:2007ScTEn.372..413B. doi:10.1016/j.scitotenv.2006.09.010. PMID 17081593.
- Chapman, Bruce; Liu, Amy Y.C. (2013). "Repayment Burdens of Student Loans for Vietnamese Higher Education". Crawford School Research Paper. SSRN 2213076 – qua Social Science Research Network.
- Cira, Dean; Dastur, Arish; Kilroy, Austin; Lozano, Nancy; và đồng nghiệp (2011). Vietnam Urbanization Review (Báo cáo). World Bank. doi:10.13140/2.1.5100.6249 – qua ResearchGate.
- "Rice in Vietnamese Culture and Economy". Mario Einaudi Center for International Studies – Southeast Asia Program. ngày 25 tháng 9 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Crook, Joe (2014). "Traveling Through Space: A Look at the Evolution of Transportation in Vietnam and its Implications". Independent Study Project (ISP) Collection. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2018 – qua SIT Digital Collections.
- Crozier, Brian (1955). "The Diem Regime in Southern Vietnam". Far Eastern Survey. 24 (4): 49–56. doi:10.2307/3023970. JSTOR 3023970.
- Cuong Le, Duc; Kubo, Tatsuhiko; Fujino, Yoshihisa; Minh Pham, Truong; và đồng nghiệp (2010). "Health Care System in Vietnam: Current Situation and Challenges". Asian Pacific Journal of Disease Management. 4 (2). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018 – qua J-STAGE.
- Dang Vu, Hoai Nam; Nielsen, Martin Reinhardt (2018). "Understanding utilitarian and hedonic values determining the demand for rhino horn in Vietnam". Human Dimensions of Wildlife. 23 (5): 417–432. Bibcode:2018HDW....23..417D. doi:10.1080/10871209.2018.1449038. S2CID 46933047 – qua Taylor & Francis.
- Endres, Kirsten W. (2001). "Local Dynamics of Renegotiating Ritual Space in Northern Vietnam: The Case of the "Dinh"". Journal of Social Issues in Southeast Asia. 16 (1): 70–101. JSTOR 41057051. PMID 19195125.
- Feinberg, Richard E. (2016). "Principles and Power". Problems of Post-Communism. 63 (2): 75–83. doi:10.1080/10758216.2015.1083377. S2CID 156148830 – qua Taylor & Francis.
- Fraser, SE (1980). "Vietnam's first census". POPLINE. 8 (8). Intercom: 326–331. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Freeman, Nick J. (2002). "United States's economic sanctions against Vietnam: International business and development repercussions". The Columbia Journal of World Business. 28 (2): 12–22. doi:10.1016/0022-5428(93)90038-Q. PMID 27044521.
- Gallup, John Luke (2002). "The wage labour market and inequality in Viet Nam in the 1990s". Policy Research Working Paper Series, World Bank. Policy Research Working Papers. doi:10.1596/1813-9450-2896. hdl:10986/19272. S2CID 18598221. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015 – qua Research Papers in Economics.
- Goodkind, Daniel (1995). "Rising Gender Inequality in Vietnam Since Reunification". Pacific Affairs. 68 (3): 342–359. doi:10.2307/2761129. JSTOR 2761129.
- Greenfield, Gerard (1994). "The Development of Capitalism in Vietnam". Socialist Register. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2018.
- Grigoreva, Nina V. (2014). "Legendary Ancestors, National Identity, and the Socialization of Children in Contemporary Vietnam" (PDF). Centre for Asian and African Studies. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- H. Dang, Hai-Anh; Glewwe, Paul W. (2017). "Well Begun, but Aiming Higher: A Review of Vietnam's Education Trends in the Past 20 Years and Emerging Challenges" (PDF). The Journal of Development Studies. 54 (7): 1171–1195. doi:10.1080/00220388.2017.1380797. hdl:10986/27610. PMC 6010051. PMID 29937575. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018 – qua Research on Improving Systems of Education.
- Ha Tran, Thi Thai (2014). "Education financing in Vietnam". Revue Internationale d'Éducation de Sèvres. doi:10.4000/ries.3895. S2CID 129299111. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018 – qua OpenEdition Journals.

- Higham, C.F.W. (1984). "Prehistoric Rice Cultivation in Southeast Asia". Scientific American. 250 (4): 138–149. Bibcode:1984SciAm.250d.138H. doi:10.1038/scientificamerican0484-138. JSTOR 24969352.
- Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Manh Loi, Vu (1995). "Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate". Population and Development Review. 21 (4): 783–812. doi:10.2307/2137774. JSTOR 2137774.
- Hoang Vuong, Quan; Dung Tran, Tri (2009). "The Cultural Dimensions of the Vietnamese Private Entrepreneurship". The IUP Journal of Entrepreneurship Development. SSRN 1442384 – qua Social Science Research Network.
- Hong Phuong, Nguyen (2012). "Seismic Hazard Studies in Vietnam" (PDF). GEM Semi-Annual Meeting – Academia Sinica. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018 – qua Taiwan Earthquake Research Center.
- Hong Truong, Son; Ye, Qinghua; Stive, Marcel J. F. (2017). "Estuarine Mangrove Squeeze in the Mekong Delta, Vietnam". Journal of Coastal Research. 33 (4): 747–763. doi:10.2112/JCOASTRES-D-16-00087.1. S2CID 131892649 – qua BioOne.
- Huu Chiem, Nguyen (1993). "Geo-Pedological Study of the Mekong Delta" (PDF). Southeast Asian Studies. 31 (2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua Kyoto University.
- Huu Duc, Nguyen; Mai Hoa, Duong Thi; Thien Huong, Nguyen; Ngoc Bao, Nguyen (2013). "On Various Essential Data Related to Status Quo of Motorcycles in Vietnam". Journal of the Eastern Asia Society for Transportation Studies. 10. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2018 – qua J-STAGE.
- Kim Phuong, Tran (2014). "Vietnam: Highland bauxite Projects and initial economic effects". Vietnam Institute of Geosciences and Mineral Resources. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2018 – qua Metal Bulletin.
- Kimura, Tetsusaburo (1986). "Vietnam—Ten Years of Economic Struggle". Asian Survey. 26 (10): 1039–1055. doi:10.2307/2644255. JSTOR 2644255.
- Lieberman, Samuel S.; Wagstaff, Adam (2009). Health financing and delivery in Vietnam. World Bank. ISBN 978-0-8213-7782-6.
- Linh Le, Thi Phuong; Anh Trinh, Tu (2016). "Encouraging Public Transport Use to Reduce Traffic Congestion and Air Pollutant: A Case Study of Ho Chi Minh City, Vietnam". Procedia Engineering. 142: 236–243. doi:10.1016/j.proeng.2016.02.037.
- Manyin, Mark E. (2005). "U.S. Assistance to Vietnam" (PDF). CRS Report for Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018 – qua Federation of American Scientists.
- Matsumura, Hirofumi; Lan Cuong, Nguyen; Kim Thuy, Nguyen; Anezaki, Tomoko (2001). "Dental Morphology of the Early Hoabinian, the Neolithic Da But and the Metal Age Dong Son Civilized Peoples in Vietnam". Zeitschrift für Morphologie und Anthropologie. 83 (1): 59–73. doi:10.1127/zma/83/2001/59. JSTOR 25757578. PMID 11372468.
- Matsumura, Hirofumi; Yoneda, Minoru; Yukio, Dodo; Oxenham, Marc; và đồng nghiệp (2008). "Terminal Pleistocene human skeleton from Hang Cho Cave, northern Vietnam: implications for the biological affinities of Hoabinhian people". Anthropological Science. 116 (3): 201–217. doi:10.1537/ase.070416. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua J-STAGE.
- McLeod, Mark W.; Thi Dieu, Nguyen (2001). Culture and Customs of Vietnam. Culture and Customs of Asia. Greenwood Press. ISBN 978-0-313-30485-9. ISSN 1097-0738.
- Meacham, William (1996). "Defining the Hundred Yue". Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association. 15: 93–100. doi:10.7152/bippa.v15i0.11537 (không hoạt động 1 July 2025).
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 7 2025 (liên kết) - Merola, R. B.; Hien, T. T.; Quyen, D. T. T.; Vengosh, A. (2014). "Arsenic exposure to drinking water in the Mekong Delta". Science of the Total Environment. 511: 544–552. Bibcode:2015ScTEn.511..544M. doi:10.1016/j.scitotenv.2014.12.091. PMID 25585157.
- Miguel, Edward; Roland, Gérard (2005). "The Long Run Impact of Bombing Vietnam" (PDF). University of California, Berkeley. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Minh Hoang, Truong; van Lap, Nguyen; Kim Oanh, Ta Thi; Jiro, Takemura (2016). "The influence of delta formation mechanism on geotechnical property sequence of the late Pleistocene–Holocene sediments in the Mekong River Delta". Heliyon. 2 (11) e00165. Bibcode:2016Heliy...200165H. doi:10.1016/j.heliyon.2016.e00165. PMC 5114594. PMID 27882357.
- Moise, Edwin E. (1988). "Nationalism and Communism in Vietnam". Journal of Third World Studies. 5 (2). University Press of Florida: 6–22. JSTOR 45193059.
- Momoki, Shiro (1996). "A Short Introduction to Champa Studies" (PDF). Kyoto University Research Information Repository. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2018 – qua CORE.
- Nang Chung, Trinh; Giang Hai, Nguyen (2017). "Dong Son Culture in First Ten Centuries AD". Institute of Archaeology, Vietnam Academy of Social Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2018.
- Nasuchon, Nopparat (2008). "Coastal Management and Community Management in Malaysia, Vietnam, Cambodia and Thailand, with a case study of Thai Fisheries Management" (PDF). United Nations-Nippon Foundation Fellow Research Presentation. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua United Nations.
- Nguyen, Lan Cuong (1985). "Two early Hoabinhian crania from Thanh Hoa Province, Vietnam". Zeitschrift für Morphologie und Anthropologie. 77 (1): 11–17. doi:10.1127/zma/77/1987/11. JSTOR 25757211. PMID 3564631.
- Nhu Nguyen, Quynh Thi (2016). "The Vietnamese Values System: A Blend of Oriental, Western and Socialist Values" (PDF). International Education Studies. 9 (12). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018 – qua Institute of Education Sciences.
- Norman, Jerry; Mei, Tsu-lin (1976). "The Austroasiatics in Ancient South China: Some Lexical Evidence". Monumenta Serica. 32: 274–301. doi:10.1080/02549948.1976.11731121.
- Obermeyer, Ziad; Murray, Christopher J L; Gakidou, Emmanuela (2008). "Fifty years of violent war deaths from Vietnam to Bosnia: analysis of data from the world health survey programme [Table 3]". BMJ. 336 (7659): 1482–6. doi:10.1136/bmj.a137. PMC 2440905. PMID 18566045.
- Odell, Andrew L.; Castillo, Marlene F. (2008). "Vietnam in a Nutshell: An Historical, Political and Commercial Overview" (PDF). NYBSA International Law Practicum. 21 (2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2018 – qua Duane Morris.
- Overland, Indra (2017). "Impact of Climate Change on ASEAN International Affairs: Risk and Opportunity Multiplier". Norwegian Institute of International Affairs (NUPI) and Myanmar Institute of International and Strategic Studies (MISIS). ISSN 1894-650X – qua ResearchGate.
- Pham, Alice (2015). "The Vietnam Telecommunications Sector: Good Practices in Regulatory Reform in Relation to Competition Policy & Law Issues" (PDF). CUTS International. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2019.
- Pincus, Jonathan (2015). "Why Doesn't Vietnam Grow Faster?: State Fragmentation and the Limits of Vent for Surplus Growth" (PDF). Southeast Asian Economies. 32 (1): 26. doi:10.1355/ae32-1c. S2CID 154680467. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018 – qua Flanders Investment and Trade.
- Quach-Langlet, Tâm (1991). "Charles Fourniau: Annam-Tonkin 1885–1896. Lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale. Travaux du Centre d'Histoire et Civilisations de la péninsule Indochinoise". Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient (bằng tiếng Pháp). 78. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua Persée.

- Quang Vinh, Bui. "Vietnam 2035: Toward Prosperity, Creativity, Equity, and Democracy" (PDF). George Washington University. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018.
- Reilly, Brett (2018). The Origins of the Vietnamese Civil War and the State of Vietnam (PhD). University of Wisconsin–Madison. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2025.
- Riehl, Herbert; Augstein, Ernst (1973). "Surface interaction calculations over the Gulf of Tonkin". Tellus. 25 (5): 424–434. Bibcode:1973Tell...25..424R. doi:10.3402/tellusa.v25i5.9694.
- Shaofei, YE; Guoqing, Zhang (2016). "The relationship between Nanyue and Annam in the ancient historical records of China and Vietnam". Honghe Prefecture Center for Vietnamese Studies, Honghe University. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua CNKI Journal Translation Project.
- Sohr, Alexander; Brockfeld, Elmar; Sauerlander, Anke; Melde, Eric (2016). "Traffic Information System for Hanoi". Procedia Engineering. 142: 221–228. doi:10.1016/j.proeng.2016.02.035.
- Thayer, Carlyle A. (1994). "Sino-Vietnamese Relations: The Interplay of Ideology and National Interest". Asian Survey. 34 (6): 513–528. doi:10.2307/2645338. JSTOR 2645338.
- Thomas, Martin (2012). Rubber, coolies and communists: In Violence and Colonial Order: Police, Workers and Protest in the European Colonial Empires, 1918–1940 (Critical Perspectives on Empire from Part II – Colonial case studies: French, British and Belgian). tr. 141–176. doi:10.1017/CBO9781139045643.009. ISBN 978-1-139-04564-3.
- Tran, Nu-Anh (2023). "Denouncing the 'Việt Cộng': Tales of revolution and betrayal in the Republic of Vietnam". Journal of Southeast Asian Studies. 53 (4): 686–708. doi:10.1017/S0022463422000790.
- Trinh, Q. M.; Nguyen, H. L.; Do, T. N.; Nguyen, V. N.; và đồng nghiệp (2016). "Tuberculosis and HIV co-infection in Vietnam". International Journal of Infectious Diseases. 46 (2): 12–22. doi:10.1016/0022-5428(93)90038-Q. PMID 27044521.
- Truong, Ngân (2018). "Solid Waste Management in Vietnam" (PDF). Degree Programme in Environmental Engineering. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- Truong, Nhu; Vo, Dang H.; Nguyen, Dzung (2018). Mekong State of Land (PDF). University of Bern. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Tung Hieu, Ly (2015). "Confucian Influences on Vietnamese Culture". Vietnam Social Sciences. 5 (169). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018 – qua Vietnam Journals Online.
- Van De, Nguyen; Douglas, Ian; McMorrow, Julia; Lindley, Sarah; và đồng nghiệp (2008). "Erosion and Nutrient Loss on Sloping Land under Intense Cultivation in Southern Vietnam". Geographical Research. 46 (1): 4–16. Bibcode:2008GeoRs..46....4V. doi:10.1111/j.1745-5871.2007.00487.x. S2CID 128887874. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2021.
- Van Hoang, Chung (2017). "Evangelizing Post-Đổi Mới Vietnam: The Rise of Protestantism and the State's Response" (PDF). Perspective (34). ISEAS–Yusof Ishak Institute. ISSN 2335-6677. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2018.
- Van Nam, Nguyen; de Vries, Peter J.; Van Toi, Le; Nagelkerke, Nico (2005). "Malaria control in Vietnam: the Binh Thuan experience". Tropical Medicine & International Health. 10 (4): 357–365. doi:10.1111/j.1365-3156.2005.01387.x. PMID 15807800. S2CID 22083432.
- Van Tho, Tran (2003). "Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind" (PDF). The Vietnamese Economy: Awakening the Dorming Dragon (2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018 – qua Waseda University.
- Van Van, Hoang. "The Current Situation and Issues of the Teaching of English in Vietnam" (PDF). 立命館言語文化研究. 22 (1). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- Viet Trung, Le; Quoc Viet, Tran; Van Chat, Pham (2016). "An Overview of Vietnam's Oil and Gas Industry" (PDF). Petroleum Economics & Management. 10. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018 – qua Vietnam Petroleum Institute.
- Wagstaff, Adam; van Doorslaer, Eddy; Watanabe, Naoko (2003). "On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam" (PDF). Journal of Econometrics. 112 (1): 207–223. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. hdl:10986/19426. S2CID 122165846. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2022.
- Wai-ming, Ng (2002). "The Impact of Japanese Comics and Animation in Asia" (PDF). Journal of Japanese Trade & Industry. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018 – qua Chinese University of Hong Kong.
- Wilkey, Robert Neil (2002). "Vietnam's Antitrust Legislation and Subscription to E-ASEAN: An End to the Bamboo Firewall Over Internet Regulation". The John Marshall Journal of Information Technology and Privacy Law. 20 (4). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Xuan Dinh, Quan (2000). "The Political Economy of Vietnam's Transformation Process". Contemporary Southeast Asia. 22 (2): 360–388. JSTOR 25798497.
- Zinoman, Peter (2000). "Colonial Prisons and Anti-Colonial Resistance in French Indochina: The Thai Nguyen Rebellion, 1917". Modern Asian Studies. 34 (1): 57–98. doi:10.1017/S0026749X00003590. JSTOR 313112. S2CID 145191678.
- Zuckerman, Phil (2007). "Atheism: Contemporary Rates and Patterns" (PDF). Cambridge Companion to Atheism. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2009 – qua Pitzer College.
Tin tức và tạp chí
- Anh, Lan (2016a). "Ba Be, the biggest mountain lake in Vietnam". Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
- Anh, Lan (2016b). "Vietnamese family reunion during Tet". Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Batruny, Joe (2014). "20 Vietnamese dishes and drinks you need to try". Matador Network. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Borel, Brooke (2010). "A Ping-Pong-Playing Terminator". Popular Science. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Brown, Vanessa (2018). "Dark side of Vietnam reveals cost of war". news.com.au. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Buleen, Chad (2017). "Average Temperature in Vietnam". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Cerre, Mike (2016). "Agent Orange's legacy continues to haunt Vietnam and Veterans". KABC-TV. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Chi, Kim (2017). "Vietnam builds north-south highway, but not a railway". Vietnam Net. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Chin, Stephen (2018). "Vietnam plays catch up with high speed rail". The ASEAN Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Clark, Helen; Miller, Karryn (2017). "Vietnamese food: 40 delicious dishes you'll love". CNN Travel. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Cockburn, Patrick (1994). "US finally ends Vietnam embargo". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Corapi, Annie (2010). "The 10 healthiest ethnic cuisines". CNN Health. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Dall, Nick (2017). "How Vietnam learned to stop poaching and love its beasts". Ozy. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Duy, Dinh (2016). "The Revival of Boléro in Vietnam". The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- Giap, Trong (2017). "Vietnam signs global treaty to ban nuclear weapons". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2019.
- Gillet, Kit (2011). "Riding Vietnam's Ho Chi Minh trail". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
- Gomes, Alaric (2019). "Asian Cup: Vietnam continue to chase their dream with quarters berth". Gulf News. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
- Ha, K. Oanh; Giang, Nguyen Kieu; Denslow, Neil (2012). "Vietnam Air Aims to Win Southeast Asia's No. 2 Title by 2020". Bloomberg L.P. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013.
- Haberman, Clyde (ngày 12 tháng 5 năm 2014). "Agent Orange's Long Legacy, for Vietnam and Veterans". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
- Hirano, Ko (2016). "Japanese language studies taking root in Vietnam elementary schools". The Japan Times Online. The Japan Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Huong, Minh (2010). "Folk poetry preservation a labour of love". Việt Nam News. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Hutt, David (ngày 13 tháng 7 năm 2020). "US, Vietnam ties have never been better". Asia Times. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2021.
- Kinver, Mark (2011). "Javan rhino 'now extinct in Vietnam'". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Loan, Doan (2018). "Vietnam's 2019 holiday plan includes 9-day Tet break". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- MacLeod, Calum (2012). "Fifty years later, U.S., Vietnam deal with Agent Orange". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Mai, Thanh (2017). "Vietnam remains world's No 1 exporter of cashews". Vietnam Net. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- McNeil, Donald G. Jr. (2016). "Vietnam's Battle With Tuberculosis". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Mitchell, Alison (ngày 12 tháng 7 năm 1995). "Opening to Vietnam: The Overview; U.S. Grants Vietnam Full Ties; Time for Healing, Clinton Says". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Mydans, Seth (ngày 24 tháng 12 năm 2009). "Vietnam Charges Lawyer With Capital Crime". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2018.
- Nghia, Son; Luan, Nguyen (2017). "Unique Fighting-Cock Martial Arts". Báo Ảnh Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Nguyen, Andrea (2011). "Heaven in a Bowl: The Original *Pho*". Saveur. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Nguyen, Mai; Binh Minh, Ho; Pham, My; Burmistrova, Svetlana; và đồng nghiệp (2016). "Vietnam abandons plan for first nuclear power plants". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Norton, Barley (2015). "Ca Trù Singing in Vietnam". Smithsonian Folkways. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Pham, Hiep (2012). "Government's student loan scheme inadequate to ensure access". University World News. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018.
- Phuong, Lan (2018). "Jiyeon (T-ara) chủ động diễn cảnh tình cảm với Soobin Hoàng Sơn" [Jiyeon (T-ara) took the initiative to act out a love scene with Soobin Hoàng Son]. Zing.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- Phuong, Le (2012). "Vietnam's cultural integration seen by researchers". Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Pike, Matthew (2018). "11 Traditional Vietnamese Tết Dishes". Culture Trip. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Quy, Nguyen (2018). "Three Vietnam hotspots among 100 most visited cities". VnExpress.
- Raslan, Karim (2017). "How Vietnam's answer to Whatsapp, Zalo, began with a hack". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Rick, August (2018). "How Vietnamese Soccer Upset The Odds That China Is Banking On". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Shenon, Philip (ngày 23 tháng 4 năm 1995). "20 Years After Victory, Vietnamese Communists Ponder How to Celebrate". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.
- Sims, Alexandra (2016). "Rio 2016: Vietnam wins first ever Olympic gold medal". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2017.
- Stewart, Phil (2018). "U.S. prepares for biggest-ever Agent Orange clean-up in Vietnam". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018.
- Summers, Chris (2014). "How Vietnam became a coffee giant". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018.
- Tatarski, Michael (2017). "Vietnam's tale of two metros, one built by the Japanese and the other by the Chinese". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Terzian, Peter (2018). "The World's Top 15 Cities". Travel + Leisure. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2018.
- Tiezzi, Shannon (2016). "It's Official: Formosa Subsidiary Caused Mass Fish Deaths in Vietnam". The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- Tran, Bich T. (ngày 15 tháng 7 năm 2020). "Will We See a US-Vietnam Strategic Partnership?". The Diplomat. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2021.
- Van Thanh, Vo (2016). "Vietnam draws up danger-zone map of unexploded bombs". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Williams, Vicki (2017). "Why a Vietnamese food journey is sure to tantalise diners from north to south". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Yan, Sophia (2016). "Vietnam's defense spending is $5 billion and rising fast". CNNMoney. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Yan; Jun, Tao; Long, Bui (2018). "Feature: Football mania spreads after Vietnam makes history at Asiad". Xinhua News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2018.
- AFP staff (2016). "The US is helping to clean up Agent Orange residue, 50 years since the Vietnam War". TheJournal.ie. Agence France-Presse. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- BBC News (1997). "Vietnam: changing of the guard". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- BBC News (2005). "The legacy of Agent Orange". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
- BBC News (2009). "Vietnam lawyer charged with subversion". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- BBC News (2018). "Vietnamese capital Hanoi asks people not to eat dog meat". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018.
- China Daily (2008). "Vietnam win first int'l title". China Daily. Sina English. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- DigInfo (2007). "TOSY TOPIO – Table Tennis Playing Robot". DigInfo. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2009.
- FourFourTwo (2017). "The time has come for Vietnam to turn beautiful football into real success". FourFourTwo. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- NHK World-Japan (2018). "Japan, Vietnam to launch dioxin cleanup project". NHK World-Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Nikkei Asian Review. "Petrovietnam Gas JSC". Nikkei Asian Review. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Nikkei Asian Review (2018). "Vietnam's Agent Orange cleanup enlists Japanese tech". Nikkei Asian Review. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Vietnam outlines collectivization goals". The Spokesman-Review. 1977. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020.
- Thanh Nien (2010). "Vietnam's 2010 growth fastest in three years". Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Thanh Nien (2015). "Horrific photos recall Vietnamese Famine of 1945". Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The Economic Times (2018). "Indian, Vietnamese armies hold first military exercise". The Economic Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The Economist (2008). "A bit of everything [Vietnam's quest for role models]". The Economist. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The Harvard Crimson (1972). "Med School Professor Praises North Vietnam's Medical Care". The Harvard Crimson. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The Japan Times (2009). "Vietnam opts for Japanese bullet trains". The Japan Times Online. The Japan Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The Japan Times (2015). "Japan defense vessel to stop at Vietnam naval base in South China Sea". The Japan Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- The New York Times (ngày 3 tháng 7 năm 1976). "2 Parts of Vietnam Officially Reunited; Leadership Chosen". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Major Vietnam high speed railway to be elevated, tunnelled: draft report". The New York Times. 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.
- The Saigon Times Daily (2018). "Wild celebrations in Hanoi as Vietnam win regional title". The Saigon Times Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- The Telegraph. "In pictures: Inside Hang Son Doong, the world's largest caves in Vietnam". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
- The Telegraph (2012). "Vietnam begins naval exercises with the US". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Tuoi Tre News (2012). "Vietnam to be listed top economies by 2050: HSBC". Tuổi Trẻ. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2012.
- UPI.com (2013). "Oil production starts offshore Vietnam". United Press International. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Viet Nam News (2012). "Top three telecoms control 95 per cent of market share". Việt Nam News. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
- Viet Nam News (2016). "Seismologists predict potential earthquakes". Việt Nam News. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Tech, science spending too low". Việt Nam News. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "The constitution of the socialist republic of Viet Nam". Việt Nam News. 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018.
- "Monsanto court ruling bolsters the hope for millions of Vietnamese Agent Orange victims". Việt Nam News. 2018a. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "US continues to be key export market for Việt Nam". Việt Nam News. 2018b. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Water industry needs smart tech". Việt Nam News. 2018c. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- "Water quality inspections to be held nationwide". Việt Nam News. 2018d. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.
- "Rare photos of Vietnam's famine in 1945". Vietnam Net. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Tourism contributes significantly to Vietnam's economy". Vietnam Net. Vietnam News Agency. 2016a. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Decree on university autonomy in final stages". Vietnam Net. VN Economic Times. 2016b. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "Top 15 tourist attractions in Vietnam". Vietnam Net. Zing/Đài Tiếng nói Việt Nam. 2017a. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2018.
- "Northern mountain frozen as temperatures drop". Vietnam Net. Dân Trí News. 2018a. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- "$58b for North–South high speed train: consultants". Vietnam Net. VNS. 2018b. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Vietnam+ (2008). "High speed railway engineers to be trained in Japan". Vietnam+. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Đài Tiếng nói Việt Nam (2016). "Vietnam joins int'l naval exercise in Brunei and Singapore". Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Đài Tiếng nói Việt Nam (2018b). "Chief of General Staff of Lao People's Army visits Vietnam". Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Đài Tiếng nói Việt Nam (2018c). "Vietnam's pepper industry about to burst". Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Đài Tiếng nói Việt Nam (2018d). "Vietnam's folk music treasure promoted". Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019.
Websites
- Lê, Anh Tuyên (2007). "Consistently pursuing the socialist orientation in developing the market economy in Vietnam". Bộ Thông tin và Truyền thông (bằng tiếng Anh). Tạp chí Cộng sản. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2025.
- Bielefeldt, Heiner (2014). "Press Statement on the visit to the Socialist Republic of Viet Nam by the Special Rapporteur on freedom of religion or belief" (PDF). Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2026.
- Chonchirdsin, Sud (2016). "Mythical creatures in Vietnamese culture" (bằng tiếng Anh). British Library. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Dallek, Matthew (2018). "How the Tet Offensive Shocked Americans into Questioning if the Vietnam War Could be Won" (bằng tiếng Anh). History. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Datta, Ajoy; Mendizabal, Enrique (2018). "Political and economic transition in Vietnam and its impact on think tank traditions". Medium. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Gallop, Annabel (2017). "Vietnam and Dragons". British Library. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Hoang Vuong, Quan (2014). "Vietnam's Political Economy in Transition (1986–2016)". Stratfor. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Koppes, Steve (2010). "Ngô Bao Châu receives Fields Medal, highest honor in mathematics". University of Chicago. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018.
- Le, Thomas D. (2008). "Vietnamese Poetry". Le World. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2009.
- McKinney, Brennan (2009). "The Human Migration: Homo Erectus and the Ice Age". Yahoo! Voices. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.
- Nam Dang, Vu Hoai; Nielsen, Martin (2019). "We asked people in Vietnam why they use rhino horn. Here's what they said". Public Radio International. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2019.
- Sagan, Ginetta; Denny, Stephen (1982). "Re-education in unliberated Vietnam: Loneliness, Suffering and Death". The Indochina Newsletter. University of California, Berkeley. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016.
- Thi Anh, Do. "Flood in Vietnam". Asian Disaster Preparedness Center. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018.
- Tran, Anh Q. (2018). "The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007". Brill. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
- Van Phuc, Vu (2014). "Reform policy of the Communist Party of Vietnam after nearly 30 years of renewal". Ministry of Culture and Information (Vietnam). Tạp chí Cộng sản. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Vandemoortele, Milo; Bird, Kate (2010). "Viet Nam's Progress on Economic Growth and Poverty Reduction: Impressive improvements". Development Progress Stories. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2011 – qua Overseas Development Institute.
- Vandemoortele, Milo (2010). "The MDG fundamentals: improving equity for development". Overseas Development Institute. ODI Briefing Papers. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2010 – qua Overseas Development Institute.
- Vu, Tuong (2007). "Newly released documents on the land reform". Naval Postgraduate School. University of Washington Libraries. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2011.
- South East Asia Iron and Steel Institute (2009). "Japan-Vietnam alliance to advise high-speed railway project". Thanh Niên. South East Asia Iron and Steel Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Agent Orange Record. "Dealing With the Damage". Agent Orange Record. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- Berkman Klein Center (2006). "OpenNet Initiative Vietnam Report: University Research Team Finds an Increase in Internet Censorship in Vietnam". Berkman Klein Center for Internet & Society. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- British Business Group Vietnam (2017). "Vietnam Water Sector Briefing" (PDF). British Business Group Vietnam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- CNRS (2010). "2010 Fields Medal awarded to mathematician Ngô Bao Châu". Centre national de la recherche scientifique. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018.
- Cultural Orientation Resource Centre. "The Montagnards – Culture Profile [Language and Literacy]" (PDF). Cultural Orientation Resource Center. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2018.
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2017). "Vietnam Electricity [Annual Report]" (PDF). Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018.
- Embassy of Vietnam in USA. "Government Structure". Embassy of the Socialist Republic of Vietnam in the United States of America. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2018.
- History (2018). "U.S. withdraws from Vietnam [1973]". History. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Index Mundi (2016). "Vietnam – Improved water source (% of population with access)". Index Mundi. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Index Mundi (2018). "Waterways [km]". Index Mundi. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Intellasia (2010). "Huge hydro plant starts operation in Vietnam, says official". Intellasia. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011.
- International Olympic Committee (2018). "Vietnam". International Olympic Committee. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- LM Report (2000). "Denmark Mine Removal Action Funding [Table 1. Governmental donations to mine action in calendar year 1999]". International Campaign to Ban Landmines. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Montagnard Human Rights Organisation. "Under South Vietnam Rule (1955–1975)". Montagnard Human Rights Organization. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2012.
- OpenNet Initiative (2012). "Country Profiles [Vietnam]". OpenNet Initiative. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Oxford Business Group (2017). "Operators in Vietnam bolster infrastructure and introduce new products and services in telecoms sector". Oxford Business Group. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2019.
- Reporters Without Borders. "Internet Enemies [Vietnam]". Reporters Without Borders. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2011.
- UNESCO Intangible Cultural Heritage (2012). "Worship of Hùng kings in Phú Thọ". Intangible cultural heritage. UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- UNESCO Media Services (2016). "ASEAN Economic Community likely to spur scientific co-operation, says report". UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2018.
- UNESCO Publishing. "UNESCO Science Report: towards 2030" (PDF). UNESCO. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2017.
- UNESCO World Heritage Convention (1994). "Ha Long Bay". World Heritage Convention. UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- UNESCO World Heritage Convention (2003). "Phong Nha-Ke Bang National Park". World Heritage Convention. UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- UNICEF. "At a glance: Viet Nam [Statistics]". UNICEF. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2008.
- UNICEF (2015). "Viet Nam [Sanitation]". UNICEF. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- United Nations Department of Economic and Social Affairs. "Data Query". United Nations Department of Economic and Social Affairs. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- United Nations Development Programme (2018). "Viet Nam: Mine Action Project launched with support from Korea". United Nations Development Programme. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- United Nations Population Fund (2009). "Migration and Urbanization in Vietnam: Patterns, Trends and Differentials" (PDF). United Nations Population Fund Vietnam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- United Nations Treaty Collection. "Treaty on the Prohibition of Nuclear Weapons [Vietnam]". United Nations Treaty Collection. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2019.
- University of Technology Sydney (2018). "Hundreds of Vietnamese children access safe water". University of Technology Sydney. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2017). "Sơ kết và triển khai kế hoạch 2017-2022 Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam". Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2026.
- Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (2016). "Lịch sử hình thành và phát triển [Giai đoạn 2016–2020]". Vietnam National Space Center. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2026.
- Vietnam News Agency (2018). "China tops Vietnam's list of importers". VEN.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- Vietnam Women's Union (2005). "Vietnam set priorities for HIV/AIDS prevention in 2006". Vietnam Women's Union. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018.
- Vietnamese Waters Zone. "Catches by Taxon in the waters of Viet Nam". Sea Around Us. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2019.
- Vietnamese-American Association. "Lạc Long Quân & Âu Cơ" (PDF). Vietnamese-American Association of Raleigh, North Carolina. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- Waitemata District Health Board (2015). "Vietnamese Culture" (PDF). Waitemata District Health Board, New Zealand. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2019.
- World Bank (2002). "Issues and Dynamics: Urban Systems in Developing East Asia" (PDF). Urbanization Dynamics and Policy Frameworks in Developing East Asia, East Asia Infrastructure Department. World Bank. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- World Bank (2013). "School enrollment, primary (% net)". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- World Bank (2015). "Progression to secondary school (%)". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
- World Bank (2016b). "Life expectancy at birth, male (years)". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
- World Bank (2018a). "Prevalence of HIV, total (% of population ages 15–49)". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
Free content
Bài viết này có chứa văn bản từ một tác phẩm có nội dung tự do. Dưới giấy phép CC BY-SA IGO 3.0. Văn bản lấy từ UNESCO Science Report: towards 2030, 713–714, UNESCO, UNESCO Publishing.
Bản mẫu:US DOS Background Notes
Liên kết ngoài
| Từ điển từ Wiktionary | |
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tin tức từ Wikinews | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Văn kiện từ Wikisource | |
| Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks | |
| Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage | |
| Tài nguyên học tập từ Wikiversity | |
- Website chính thức
- Việt Nam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Việt Nam tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- Tổng cục Thống kê
- Chiefs of State and Cabinet Members of Foreign Governments: Vietnam Lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2020 tại Wayback Machine, CIA
- Thông tin về Việt Nam tại BBC
- Mục “Vietnam” trên trang của CIA World Factbook.
- Thông tin về Việt Nam Lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine tại UCB Libraries GovPubs
- Việt Nam trên DMOZ
- Dân số Việt Nam mới nhất Lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Wayback Machine tại Danso.org
Wikimedia Atlas của Vietnam
Thống kê chỉ số

