Quay lại
Dilane Bakwa

Dilane Bakwa

Số áo #29

Forward

Quốc tịch Flag France
Tuổi 23
Chiều cao 5' 11"
Cân nặng 163 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Nottingham Forest

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Nottingham Forest
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Nottingham Forest
Biệt danh
  • Forest
    The Garibaldis
    The Reds
    The Tricky Trees
Thành lập1865; 161 năm trước (1865)
SânCity Ground
Sức chứa31.042
Chủ sở hữuEvangelos Marinakis
Chủ tịch điều hànhNicholas Randall KC
Huấn luyện viên trưởngVítor Pereira
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2025–26Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, hạng 16 trên 20
Websitenottinghamforest.co.uk Sửa dữ liệu tại Wikidata
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Nottingham Forest (tiếng Anh: Nottingham Forest Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Tây Bridgford, Nottinghamshire, Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.

Được thành lập vào năm 1865, Nottingham Forest đã chơi các trận sân nhà tại City Ground từ năm 1898. Câu lạc bộ đã giành hai Cúp C1 châu Âu (nay là UEFA Champions League), qua đó trở thành một trong sáu câu lạc bộ Anh từng vô địch giải đấu này. Forest là đội duy nhất ở châu Âu vô địch Cúp C1 châu Âu hoặc Champions League nhiều lần hơn số lần vô địch giải quốc nội (một lần). Ngoài ra, đội bóng còn giành 1 Siêu cúp châu Âu, một chức vô địch quốc gia, 2 Cúp FA, 4 Cúp Liên đoàn và 1 FA Charity Shield.

Câu lạc bộ đã thi đấu ở hai hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh trong tất cả các mùa giải, ngoại trừ năm mùa giải, kể từ khi gia nhập Football League. Giai đoạn thành công nhất của Forest đến dưới sự dẫn dắt của Brian CloughPeter Taylor vào cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, khi đội bóng giành hai chức vô địch Cúp C1 châu Âu liên tiếp vào các năm 19791980.

Trong thập niên cuối cùng của Clough tại câu lạc bộ, Forest giành Cúp Liên đoàn năm 19891990. Đội bóng cũng là á quân ở Cúp FA năm 1991Cúp Liên đoàn năm 1992, trước khi xuống hạng khỏi Premier League vào năm 1993. Sau khi trở lại ngay lập tức, Forest kết thúc Premier League ở vị trí thứ ba vào năm 1995, trước khi tiếp tục xuống hạng vào các năm 19971999. Đội bóng trở lại Premier League sau khi thắng play-off năm 2022.

Đối thủ kình địch lớn nhất của Forest là Derby County, đội bóng mà họ đối đầu trong trận derby East Midlands. Năm 2007, chiếc Brian Clough Trophy được lập ra và kể từ đó được trao cho đội chiến thắng.

Lịch sử

Thế kỉ 19

The Playwright, formerly the Clinton Arms, in Sherwood Street, Nottingham
Plaque commemorating the foundation of Nottingham Forest Football Club at the former Clinton Arms, Sherwood Street, Nottingham
The Playwright, trước đây là Clinton Arms, trên phố Sherwood, Nottingham, nơi Forest Football Club được thành lập vào năm 1865

Năm 1865, một nhóm cầu thủ shinty đã gặp nhau tại quán Clinton Arms (nay được đổi tên thành The Playwright) ở ngã giao giữa phố Shakespeare và North Sherwood tại Nottingham. Đề xuất của J. S. Scrimshaw về việc chuyển sang chơi bóng đá theo luật association football đã được chấp thuận và Nottingham Forest Football Club được thành lập. Cũng tại cuộc họp đó, các thành viên thống nhất rằng câu lạc bộ sẽ mua mười hai chiếc mũ tua rua có màu 'Garibaldi Red' (đặt theo tên thủ lĩnh của lực lượng Áo đỏ Ý). Vì vậy, màu sắc chính thức của câu lạc bộ đã được xác lập. Ban đầu, các trận đấu được chơi tại Forest Racecourse, vốn trong lịch sử là một phần của Sherwood Forest và được cho là nguồn gốc của từ 'Forest' trong tên đội bóng.

Từ năm 2019 đến năm 2023, Nottingham Forest tuyên bố mình là câu lạc bộ lâu đời nhất còn lại trong English Football League. Năm 2019, khi Notts County rớt khỏi giải, Stoke City tuyên bố mình là câu lạc bộ lâu đời nhất còn lại, nhưng nhà sử học bóng đá Mark Metcalf cho biết Stoke được thành lập vào năm 1868, chứ không phải mốc 1863 trên huy hiệu câu lạc bộ, vì vậy Forest mới là đội bóng lâu đời nhất. EFL cũng tuyên bố rằng Nottingham Forest là câu lạc bộ lâu đời nhất.

Trận đấu chính thức đầu tiên trong lịch sử Forest diễn ra với Notts County vào ngày 22 tháng 3 năm 1866. Ngày 23 tháng 4 năm 1870, khi đội bóng chơi trận đầu tiên ở hệ thống giải, quản lí của câu lạc bộ là John Lymberry và William Henry Revis đã ghi bàn thắng đầu tiên. Trong ngày hôm đó, Revis cũng giành giải thưởng cho cú sút bóng đi xa nhất với khoảng cách 161 feet 8 inch.

Trong những năm đầu, Nottingham Forest là một câu lạc bộ đa môn thể thao. Bên cạnh nguồn gốc từ bandy và shinty, đội bóng chày của Forest còn là nhà vô địch Anh vào năm 1899. Tinh thần tương trợ của Forest đã giúp những câu lạc bộ như Liverpool, ArsenalBrighton & Hove Albion hình thành. Năm 1886, Forest đã tặng một bộ trang phục bóng đá để giúp Arsenal gây dựng nền móng – đội bóng Bắc London này đến nay vẫn mặc màu đỏ. Forest cũng từng tặng áo cho Everton và góp phần giúp Brighton có được địa điểm thi đấu.

Ở mùa giải 1878-79, Nottingham Forest lần đầu tiên tham dự Cúp FA. Forest đánh bại Notts County 3-1 ở vòng Một tại Beeston Cricket Ground trước khi cuối cùng thua Old Etonians 1-2 ở bán kết.

Đơn xin gia nhập Football League của Nottingham Forest đã bị từ chối khi giải đấu này ra đời vào năm 1888. Thay vào đó, Forest gia nhập Football Alliance vào năm 1889.

Forest vô địch giải đấu này vào năm 1892 rồi sau đó gia nhập Football League. Ở mùa giải đó, đội bóng lần thứ tư tính đến thời điểm ấy vào tới bán kết Cúp FA rồi thất bại. Lần này, đối thủ đánh bại họ là West Bromwich Albion sau một trận đá lại.

Đội hình vô địch Cúp FA năm 1898

Chiến thắng đầu tiên của Nottingham Forest ở bán kết Cúp FA đến ở lần thứ năm thử sức, tại 1897-98 FA Cup, với chiến thắng 2-0 trong trận đá lại trước Southampton. Trận đầu tiên hòa 1-1. Derby County đã đánh bại Nottingham Forest 5-0 chỉ năm ngày trước trận chung kết. Sáu cầu thủ đá trận chung kết Cúp FA đã được cho nghỉ trong trận đấu tại giải đó. Ở Chung kết Cúp FA 1898 tại Crystal Palace trước 62.000 khán giả, Willie Wragg đã thực hiện một quả đá phạt phút 19 cho Arthur Capes. Capes sút xuyên qua hàng rào phòng ngự để ghi bàn. Derby gỡ hòa từ một quả đá phạt được Steve Bloomer đánh đầu đưa bóng dội xà ngang rồi đi vào lưới sau 31 phút. Phút 42, Jack Fryer không thể bắt dính cú sút của Charlie Richards, tạo điều kiện để Capes dễ dàng đá bồi ghi bàn thứ hai cho mình. Chấn thương của Wragg buộc Forest phải thay đổi đội hình, với việc Capes lùi xuống chơi ở hàng tiền vệ. Phút 86, John Boag đánh đầu phá một quả phạt góc của Nottingham Forest. John McPherson lao vào đón bóng rồi sút chìm vào lưới để ấn định chiến thắng 3-1.

Nửa đầu thế kỉ 20

Forest thua các trận bán kết Cúp FA vào các năm 1900 và 1902. Đội kết thúc ở vị trí thứ tư tại Football League 1900-01 rồi đứng thứ năm ở mùa giải sau đó. Sau đó, câu lạc bộ bắt đầu tụt xuống trên bảng xếp hạng. Forest xuống hạng lần đầu tiên ở mùa giải 1905-06. Grenville Morris có mùa giải đầu tiên trong năm mùa giải liên tiếp là chân sút số một của câu lạc bộ, trên hành trình trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất lịch sử đội bóng với 213 bàn.

Việc thăng hạng với tư cách vô địch đến ngay lập tức ở mùa giải 1906-07. Câu lạc bộ xuống hạng lần thứ hai xuống Second Division vào năm 1911, và phải xin tái cử vào năm 1914 sau khi đứng bét ở hạng đấu đó; khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đến gần, Forest rơi vào khó khăn tài chính nghiêm trọng. Sự bùng nổ của chiến tranh, cùng với thiện chí của các thành viên trong ban điều hành, đã ngăn câu lạc bộ sụp đổ.

Năm 1919, Football League First Division dự kiến được mở rộng từ 20 câu lạc bộ lên 22 câu lạc bộ cho mùa giải 1919-20: Forest là một trong tám câu lạc bộ vận động để được nhận vào, nhưng chỉ nhận được ba phiếu bầu. Arsenal và Chelsea giành được hai suất bổ sung tại hạng đấu cao nhất.

Sau sáu mùa giải đầu tiên chật vật ở Second Division, Forest giành quyền thăng hạng với tư cách vô địch ở mùa giải 1921-22. Đội bóng chỉ trụ hạng thành công ở hai mùa giải đầu tiên sau khi trở lại hạng đấu cao nhất với khoảng cách đúng một bậc. Đến mùa giải thứ ba sau khi thăng hạng, Forest xuống hạng với tư cách đội bét bảng ở mùa giải 1924-25. Họ ở lại hạng Hai cho tới khi rớt xuống năm 1949 xuống Third Division.

Tái xuất rồi suy giảm (1950-1974)

Forest nhanh chóng thăng hạng trở lại chỉ sau hai năm với tư cách vô địch, sau khi ghi kỉ lục 110 bàn ở mùa giải 1950-51. Họ lấy lại vị thế tại First Division vào năm 1957.

Bàn thắng duy nhất của Johnny Quigley ở bán kết Cúp FA 1958-59 đã đánh bại Aston Villa. Nottingham Forest của Billy Walker đánh bại Luton Town 2-1 trong Chung kết Cúp FA 1959. Cũng giống như năm 1898, Forest từng thua đậm chính đối thủ này chỉ vài tuần trước đó tại giải vô địch. Stewart Imlach tạt bóng để Roy Dwight (anh em họ của Reg Dwight, người sau này được biết đến với tên Elton John) mở tỉ số ở phút 10. Tommy Wilson nâng tỉ số lên 2-0 cho Forest sau 14 phút. Trận đấu có số lần gián đoạn bất thường vì chấn thương, đặc biệt là với các cầu thủ Forest. Điều này được cho là do mặt cỏ Wembley quá dày. Đáng chú ý nhất trong các lần gián đoạn này là chấn thương gãy chân của Dwight sau pha vào bóng ở phút 33 của Brendan McNally. Forest là đội chơi lấn lướt cho tới thời điểm đó. Tuy nhiên, Luton dần kiểm soát thế trận, với việc Dave Pacey ghi bàn vào giữa hiệp Hai. Forest chỉ còn chín cầu thủ đủ sức thi đấu khi trận đấu còn mười phút, sau khi Bill Whare bị chuột rút nặng và gần như chỉ còn đứng nhìn. Bất chấp những cơ hội muộn của Allan BrownBilly Bingham, Chick Thomson không phải nhận thêm bàn thua nào, giúp Forest chấm dứt 'lời nguyền' Wembley của thập niên 1950 (nơi một đội thường bị suy yếu do mất người vì chấn thương). Cầu thủ giữ kỉ lục số lần ra sân cho câu lạc bộ Bobby McKinlay đã thi đấu trong đội hình vô địch trận chung kết này, dưới cương vị đội trưởng của Jack Burkitt.

Đến thời điểm này, Forest đã thay thế Notts County để trở thành câu lạc bộ lớn nhất tại Nottingham. Johnny Carey đã xây dựng một đội hình gồm Joe BakerIan Storey-Moore, đội bóng gần như không thay đổi trong phần lớn chặng đường cạnh tranh chức vô địch Football League 1966-67. Forest đánh bại đối thủ đua vô địch Manchester United 4-1 tại City Ground vào ngày 1 tháng 10. Chiến thắng 3-0 trước Aston Villa ngày 15 tháng 4 giúp Forest đứng thứ hai trên bảng xếp hạng, kém United một điểm. Chấn thương cuối cùng đã tạo ra ảnh hưởng, buộc Forest phải chấp nhận vị trí á quân tại giải vô địch và thất bại ở bán kết Cúp FA trước Dave Mackay cùng Tottenham Hotspur.

Thành công của mùa giải 1966-67 tưởng như là cơ hội để xây dựng thêm, khi lượng khán giả khoảng 40.000 người gần như được bảo đảm vào thời điểm đó. Tuy nhiên, sự pha trộn giữa công tác quản lí bóng đá yếu kém, cơ cấu điều hành đặc biệt bằng ủy ban và tinh thần nghiệp dư đầy tự hào tại câu lạc bộ đã dẫn tới sự sa sút sau đỉnh cao 1966-67. Forest xuống hạng khỏi hạng đấu cao nhất vào năm 1972. Việc Matt Gillies rời ghế huấn luyện viên trưởng vào tháng 10 năm 1972 được tiếp nối bằng những nhiệm kì ngắn ngủi của Dave Mackay và Allan Brown. Trận thua 0-2 trên sân nhà trước Notts County vào Boxing Day đã khiến ủy ban điều hành (khi đó Forest chưa có hội đồng quản trị) sa thải Brown.

Brian Clough và Peter Taylor (1975-1982)

Brian Clough (1935-2004) dẫn dắt Nottingham Forest trong 18 năm.

Brian Clough trở thành huấn luyện viên trưởng của Forest vào ngày 6 tháng 1 năm 1975, mười hai tuần sau khi kết thúc nhiệm kì kéo dài 44 ngày của ông tại Leeds United. Clough đưa Jimmy Gordon về làm huấn luyện viên thể lực, bởi Gordon từng đảm nhiệm vai trò đó cho ông tại Derby County và Leeds. Trung phong người Scotland Neil Martin ghi bàn thắng duy nhất trong trận đầu tiên Clough cầm quân, giúp Forest đánh bại Tottenham Hotspur ở trận đá lại thuộc vòng Ba Cúp FA.

Ian Bowyer vốn đã có mặt tại Forest và từng giành các danh hiệu trong nước lẫn châu Âu cùng Manchester City. Vào tháng 2, Clough ký hợp đồng với bộ đôi người Scotland là John McGovernJohn O'Hare, cả hai đều từng là thành viên trong đội hình Derby County vô địch Football League 1971-72 của Clough. Ông ký hợp đồng với Colin Barrett vào tháng 3, ban đầu theo dạng cho mượn. Clough đưa John RobertsonMartin O'Neill trở lại đội hình sau khi họ từng nộp đơn xin chuyển nhượng dưới thời Brown. Viv Anderson trước đó đã ra mắt đội một và trở thành cầu thủ thường xuyên thi đấu dưới thời Clough. Cầu thủ trẻ Tony Woodcock đã ở Forest nhưng khi ấy không được Clough đánh giá cao và từng được dự định cho Lincoln City mượn. Khi Clough đến, Forest đang đứng thứ 13 ở hạng Hai của bóng đá Anh. Họ kết thúc mùa giải ấy ở vị trí thứ 16. Forest ký hợp đồng với Frank Clark theo dạng chuyển nhượng tự do vào tháng 7 của kì nghỉ hè sau đó. Ở mùa giải tiếp theo, Forest đứng thứ tám trong Football League 1975-76 – mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Clough trên cương vị huấn luyện viên trưởng. Chính ở mùa giải này, McGovern trở thành đội trưởng lâu dài của câu lạc bộ, tiếp quản sau một trận mà Bob "Sammy" ChapmanLiam O'Kane đều dính chấn thương.

Peter Taylor tái hợp với Clough vào ngày 16 tháng 7 năm 1976, trở thành trợ lí huấn luyện viên trưởng của ông, giống như khi hai người cùng vô địch giải quốc nội với Derby. Vai trò của Taylor bao gồm cả việc làm người phát hiện tài năng cho câu lạc bộ. Sau khi đánh giá đội hình, Taylor nói với Clough rằng "việc anh đưa đội kết thúc ở vị trí thứ tám tại Second Division đã là một kì công, vì một vài người trong số họ chỉ đủ trình độ của Third Division mà thôi". Taylor trách mắng John Robertson vì để bản thân trở nên thừa cân và chán nản. Ông đưa Robertson vào một chế độ ăn uống và tập luyện, điều sau này giúp Robertson trở thành nhà vô địch Cúp C1 châu Âu. Taylor biến Woodcock từ một tiền vệ dự bị thành một tiền đạo khoác áo đội tuyển Anh 42 lần. Vào tháng 9 năm 1976, ông mua tiền đạo Peter Withe cho Forest với giá 43.000 bảng, rồi bán anh cho Newcastle United hai năm sau đó với giá 250.000 bảng. Withe được thay thế trong đội hình xuất phát bởi Garry Birtles, người mà Taylor phát hiện khi đang chơi cho đội ngoài hệ thống giải Long Eaton United. Birtles sau đó cũng khoác áo đội tuyển Anh. Vào tháng 10 năm 1976, Brian Clough hành động theo lời khuyên của Peter Taylor để ký hợp đồng với Larry Lloyd với giá 60.000 bảng sau một giai đoạn cho mượn ban đầu.

Cùng nhau, Clough và Taylor đã đưa Forest lên một tầm cao mới. Danh hiệu đầu tiên trong triều đại Clough và Taylor là 1976-77 Anglo-Scottish Cup. Forest đánh bại Orient với tổng tỉ số 5-1 sau hai lượt trận chung kết diễn ra vào tháng 12 năm 1976. Clough coi việc giành một danh hiệu vốn bị xem nhẹ này là danh hiệu đầu tiên của câu lạc bộ kể từ năm 1959. Ông nói: "Những ai bảo đó là một chiếc cúp chẳng ra gì thì hoàn toàn điên rồ. Chúng tôi đã giành được một thứ gì đó, và điều đó thay đổi tất cả."

Ngày 7 tháng 5 năm 1977, bàn phản lưới nhà của Jon Moore giúp Forest thắng Millwall 1-0 tại City Ground trong trận đấu cuối cùng của họ ở mùa giải. Kết quả này giúp Forest giữ vị trí thăng hạng thứ ba trên bảng xếp hạng và phải chờ Bolton Wanderers mất điểm trong ba trận đá bù ở cuộc đua giành vị trí thứ ba. Ngày 14 tháng 5, bàn thắng của Kenny Hibbitt từ một bài phối hợp đá phạt được tập luyện trước cùng Willie Carr đã mang lại chiến thắng 1-0 cho Wolves trước Bolton. Thất bại của Bolton đến tai các cầu thủ Forest khi họ đang ở trên máy bay tới Mallorca để nghỉ cuối mùa. Việc Forest thăng hạng từ vị trí thứ ba ở Football League 1976-77 Second Division là thành tích có tổng điểm thấp thứ năm trong lịch sử đối với một đội thăng hạng, với 52 điểm (thời đó, tại Anh, một chiến thắng chỉ được tính hai điểm cho tới năm 1981).

Taylor bí mật theo dõi Kenny Burns và kết luận rằng tiếng xấu của Burns như một kẻ nghiện rượu và cờ bạc là điều bị phóng đại. Taylor chấp thuận thương vụ ký hợp đồng với mức phí 150.000 bảng vào tháng 7. Burns trở thành FWA Footballer of the Yearmùa giải 1977-78 sau khi được kéo từ vị trí trung phong xuống đá trung vệ. Forest bắt đầu chiến dịch trở lại hạng đấu cao nhất bằng chiến thắng 3-1 trên sân Everton. Sau đó là thêm ba chiến thắng nữa ở giải vô địch và cúp mà không để lọt lưới bàn nào. Tiếp theo là năm bàn thua trong đầu tháng 9 khi thua Arsenal 0-3 và thắng Wolves 3-2 trên sân nhà. Sau đó Peter Shilton được ký hợp đồng với mức phí kỉ lục cho một thủ môn là 325.000 bảng. Taylor lí giải: "Shilton giúp anh thắng các trận đấu." John Middleton, 20 tuổi, là thủ môn đội một trước khi Shilton đến. Cuối tháng đó, Middleton chuyển tới Derby County như một phần trao đổi cộng thêm 25.000 bảng để Archie Gemmill sang Forest. Gemmill là một cựu thành viên người Scotland khác trong đội hình Derby vô địch năm 1972.

Forest chỉ thua ba trong 16 trận đầu tiên tại giải, trận gần nhất trong số đó là trước Leeds United vào ngày 19 tháng 11 năm 1977. Họ chỉ thua thêm đúng một trận nữa trong cả mùa giải, đó là thất bại ở vòng Sáu Cúp FA ngày 11 tháng 3 trước West Bromwich Albion. Forest vô địch Football League 1977-78, hơn đội á quân Liverpool bảy điểm. Forest trở thành một trong số ít đội bóng – và cho tới nay vẫn là đội gần đây nhất – vô địch First Division ngay ở mùa giải liền sau khi thăng hạng từ Second Division. Thành tích đó giúp Clough trở thành huấn luyện viên trưởng thứ ba trong số bốn người từng vô địch giải vô địch Anh với hai câu lạc bộ khác nhau. Forest chỉ để thủng lưới 24 bàn trong 42 trận tại giải. Họ đánh bại Liverpool 1-0 trong trận đá lại của Chung kết Football League Cup 1978 dù không có Shilton, Gemmill và bản hợp đồng tháng 12 là David Needham vì không đủ điều kiện thi đấu cúp. Chris Woods giữ sạch lưới trong cả hai trận chung kết để bù đắp cho sự vắng mặt của Shilton tại Cúp Liên đoàn. McGovern vắng mặt ở trận đá lại vì chấn thương, vì thế Burns nâng cúp với tư cách đội trưởng thay thế. Quả phạt đền của Robertson là bàn thắng duy nhất của trận đấu.

Forest bắt đầu mùa giải 1978-79 bằng chiến thắng 5-0 trước Ipswich Town để lập cách biệt thắng lớn kỉ lục ở FA Charity Shield. Tại 1978-79 European Cup, họ được bốc thăm gặp Liverpool, đội vô địch hai mùa giải trước đó. Các bàn thắng trên sân nhà của Birtles và Barrett giúp Forest đi tiếp với tổng tỉ số 2-0. Mười ngày sau, Barrett, khi đó 26 tuổi, bị chấn thương chân nghiêm trọng trong trận gặp Middlesbrough, chấn thương cuối cùng đã chấm dứt sự nghiệp chuyên nghiệp của anh hai năm sau đó. Ngày 9 tháng 12 năm 1978, Liverpool chấm dứt chuỗi 42 trận bất bại tại giải của Forest, chuỗi trận kéo dài từ tháng 11 năm trước. Chuỗi bất bại này tương đương trọn một mùa giải, vượt qua kỉ lục 35 trận trước đó do Burnley lập ở mùa giải 1920/21. Kỉ lục này tồn tại cho tới khi bị Arsenal vượt qua vào tháng 8 năm 2004, một tháng trước khi Clough qua đời. Arsenal đã chơi 49 trận tại giải mà không thua.

Vào tháng 2 năm 1979, Taylor cho phép thực hiện thương vụ chuyển nhượng đầu tiên trị giá 1 triệu bảng trong bóng đá Anh khi đưa Trevor Francis từ Birmingham City về. Ở trận bán kết lượt đi Cúp C1 châu Âu trên sân nhà trước 1. FC Köln, Forest bị dẫn hai bàn chỉ sau 20 phút, rồi ghi ba bàn để vượt lên trước khi Köln gỡ hòa, qua đó bắt đầu trận lượt về tại Đức với lợi thế luật bàn thắng sân khách. Bàn thắng của Ian Bowyer trên đất Đức đưa Forest vào chung kết. Sau trận, Günter Netzer hỏi: "McGovern là ai vậy? Tôi chưa từng nghe nói tới cậu ta, vậy mà cậu ta điều khiển cả trận đấu." Forest đánh bại Malmö 1-0 tại Olympiastadion ở Munich trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1979; Francis, trong trận ra mắt châu Âu, ghi bàn bằng cú đánh đầu ở cột xa từ quả tạt của Robertson. Forest đánh bại Southampton 3-2 trong trận chung kết để bảo vệ Cúp Liên đoàn; Birtles ghi hai bàn, Woodcock ghi một bàn. Forest kết thúc Football League 1978-79 ở vị trí thứ hai, kém Liverpool tám điểm.

Trevor Francis, Brian Clough và John Robertson vào năm 1980

Forest từ chối tham dự Intercontinental Cup 1979 theo thể thức sân nhà và sân khách với Club Olimpia của Paraguay. Forest đánh bại Barcelona với tổng tỉ số 2-1 tại 1979 European Super Cup diễn ra vào tháng 1 và tháng 2 năm 1980, khi Charlie George ghi bàn duy nhất ở trận lượt đi trên sân nhà còn Burns ghi bàn gỡ hòa ở trận lượt về tại Tây Ban Nha. Tại Football League 1979-80 Cup, Forest lọt vào trận chung kết thứ ba liên tiếp. Một pha phối hợp phòng ngự thiếu ăn ý giữa Needham và Shilton đã để Andy Gray của Wolves dễ dàng đệm bóng vào khung thành trống. Forest bỏ lỡ nhiều cơ hội và thua 0-1. Ở tứ kết 1979-80 European Cup, Forest thắng 3-1 trên sân Dinamo Berlin để lật ngược thất bại 0-1 trên sân nhà. Tại bán kết, họ vượt qua Ajax với tổng tỉ số 2-1. Forest đánh bại Hamburg 1-0 trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1980 tại Santiago Bernabéu Stadium ở Madrid để bảo vệ danh hiệu; sau 20 phút, Robertson ghi bàn sau pha bật nhả với Birtles, rồi Forest phòng ngự đầy chắc chắn sau đó. Forest kết thúc Football League 1979-80 ở vị trí thứ năm.

Tại European Cup 1980-81, Forest thua CSKA Sofia với tổng tỉ số 0-2 sau hai thất bại 0-1 cả trên sân nhà lẫn sân khách ở vòng Một. Sau đó, McGovern nói rằng hai thất bại trước CSKA đã ảnh hưởng tới sự tự tin của đội, bởi họ đã bị đánh bại bởi đối thủ chỉ có tài năng ở mức khiêm tốn. Forest thua 1980 European Super Cup theo luật bàn thắng sân khách sau khi hòa Valencia 2-2 sau hai lượt trận; Bowyer ghi cả hai bàn cho Forest ở lượt đi trên sân nhà. Ngày 11 tháng 2 năm 1981, Forest thua 0-1 trong 1980 Intercontinental Cup trước đội bóng Uruguay là Nacional. Trận đấu lần đầu tiên được tổ chức trên sân trung lập National Stadium tại Tokyo trước 62.000 khán giả.

Đội hình từng vô địch giải quốc nội và Cúp C1 châu Âu sau đó bị chia tách để tận dụng giá trị chuyển nhượng của các cầu thủ. Về sau, cả Clough và Taylor đều nói rằng đó là một sai lầm. Đội hình được tái thiết gồm các cầu thủ trẻ và những bản hợp đồng như Ian Wallace, Raimondo PonteJustin Fashanu đã không thể cạnh tranh danh hiệu. Năm 1982, Taylor nói:

Trong nhiều tuần nay tôi không tin rằng mình đã làm tròn bổn phận với mối cộng sự này và chắc chắn tôi cũng không đối xử công bằng với Nottingham Forest theo cách mà tôi cảm thấy mình nên làm. Và vì thế, sau rất nhiều suy nghĩ, không còn lựa chọn nào khác. Tôi muốn nghỉ hưu sớm. Và đó chính xác là điều tôi đã làm.

John McGovern và Peter Shilton chuyển đi còn Jimmy Gordon nghỉ hưu trong cùng kì nghỉ hè đó.

Clough không có Taylor (1982-1993)

Anderlecht đánh bại Forest ở bán kết Cúp UEFA 1983-84 trong những hoàn cảnh gây tranh cãi. Một số quyết định gây tranh cãi của trọng tài đều bất lợi cho Forest. Hơn một thập niên sau, người ta mới phát hiện ra rằng trước trận đấu, trọng tài Emilio Guruceta Muro đã nhận một "khoản vay" 27.000 bảng từ chủ tịch Anderlecht Constant Vanden Stock. Anderlecht không bị trừng phạt cho tới năm 1997, khi UEFA cấm câu lạc bộ này tham dự các giải châu Âu trong một năm. Guruceta Muro qua đời trong một tai nạn ô tô vào năm 1987.

Forest đánh bại Sheffield Wednesday trong loạt sút luân lưu ở trận chung kết Football League Centenary Tournament vào tháng 4 năm 1988 sau khi hòa 0-0. Forest đứng thứ ba tại giải vô địch năm 1988 và lọt vào bán kết Cúp FA 1987-88. Stuart Pearce có lần đầu tiên trong chuỗi năm mùa giải liên tiếp được bầu vào PFA Team of the Year.

Ngày 18 tháng 1 năm 1989, Clough tham gia vào vụ cổ động viên tràn xuống sân ở City Ground bằng cách đánh hai cổ động viên của chính đội mình khi đang ở trên sân. Các cơ quan quản lí bóng đá đã phạt tiền và cấm Clough chỉ đạo sát đường biên. Trận đấu đó, gặp Queens Park Rangers tại Cúp Liên đoàn, kết thúc với chiến thắng 5-2 cho Forest.

Forest đánh bại Everton 4-3 sau hiệp phụ trong trận chung kết Full Members' Cup 1989, rồi tiếp tục lội ngược dòng để thắng Luton Town 3-1 ở Chung kết Football League Cup 1989. Điều này mở ra cơ hội cho Forest giành cú ăn ba danh hiệu cúp quốc nội độc nhất vô nhị, nhưng bi kịch ập đến một tuần sau chiến thắng ở Cúp Liên đoàn. Forest và Liverpool gặp nhau ở bán kết Cúp FA mùa thứ hai liên tiếp. Thảm họa Hillsborough đã cướp đi sinh mạng của 97 cổ động viên Liverpool. Trận đấu bị hủy bỏ sau sáu phút. Khi trận đá lại đầy cảm xúc diễn ra, Forest thi đấu chật vật và Liverpool thắng 3-1. Bất chấp những danh hiệu cúp đó cùng vị trí thứ ba ở First Division, Forest vẫn không thể tham dự Cúp UEFA vì các câu lạc bộ Anh lúc ấy vẫn bị cấm tham dự cúp châu Âu sau thảm họa Heysel. Des Walker có lần đầu tiên trong chuỗi bốn mùa giải liên tiếp được bầu vào Đội hình tiêu biểu của PFA.

Nigel Jemson ghi bàn giúp Forest đánh bại Oldham Athletic 1-0 để bảo vệ Cúp Liên đoàn năm 1990. Các câu lạc bộ Anh được trở lại châu Âu từ mùa giải tiếp theo, nhưng chỉ với số lượng hạn chế, và chiến thắng tại Cúp Liên đoàn của Forest một lần nữa không giúp họ giành vé dự Cúp UEFA. Suất duy nhất dự Cúp UEFA mùa đó thuộc về đội á quân giải vô địch là Aston Villa.

Brian Clough vào tới trận chung kết Cúp FA duy nhất của mình năm 1991 sau vô số trận đá lại và những lần hoãn ở các vòng Ba, Bốn và Năm. Đối đầu với Tottenham Hotspur, Forest vươn lên dẫn trước từ một quả đá phạt của Pearce, nhưng Spurs gỡ hòa để kéo trận đấu vào hiệp phụ, trước khi cuối cùng thắng 2-1 nhờ một bàn phản lưới nhà của Walker. Roy Keane tuyên bố bản thân đủ thể lực để ra sân ở trận chung kết và được chọn thay cho Steve Hodge; nhiều năm sau, Keane thừa nhận thực ra mình không đủ thể lực để thi đấu, do đó vai trò của anh trong trận chung kết là không đáng kể.

Mùa hè năm 1991, chân sút số một tại giải của MillwallTeddy Sheringham trở thành bản hợp đồng kỉ lục của Forest với mức phí 2,1 triệu bảng. Ở mùa giải đó, Forest đánh bại Southampton 3-2 sau hiệp phụ trong trận chung kết Full Members' Cup, nhưng lại thua trận chung kết Cúp Liên đoàn 0-1 trước Manchester United bởi bàn thắng của Brian McClair. Điều đó có nghĩa là Forest đã chơi bảy trận chung kết cúp quốc nội trong vòng năm mùa giải và thắng năm trong số đó. Forest kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tám, qua đó giành một suất ở giải Premier League mới do FA thành lập.

Walker chuyển sang Sampdoria trong mùa hè năm 1992. Ngày 16 tháng 8 năm 1992, Forest đánh bại Liverpool 1-0 trên sân nhà trong trận đấu đầu tiên của Premier League được truyền hình trực tiếp, với Sheringham ghi bàn duy nhất. Một tuần sau, Sheringham chuyển tới Tottenham. Phong độ của Forest sa sút, và triều đại 18 năm của Brian Clough trên cương vị huấn luyện viên trưởng kết thúc vào tháng 5 năm 1993 khi Forest rớt khỏi Premier League đầu tiên trong lịch sử. Trận đấu cuối cùng của mùa giải đó là trên sân của Ipswich. Forest thua 1-2, còn con trai của Clough là Nigel ghi bàn thắng cuối cùng trong triều đại của cha mình. Việc xuống hạng ngay sau đó được tiếp nối bằng thương vụ Roy Keane sang Manchester United với mức phí kỉ lục tại Anh là 3,75 triệu bảng.

Frank Clark (1993-1996)

Frank Clark, thành viên của đội hình Forest vô địch Cúp C1 châu Âu năm 1979, trở lại câu lạc bộ vào tháng 5 năm 1993 để kế nhiệm Brian Clough trên cương vị huấn luyện viên trưởng. Thành công quản lí đáng kể nhất trước đó của Clark là đưa Leyton Orient thăng hạng từ Fourth Division vào năm 1989. Clark thuyết phục Stuart Pearce ở lại câu lạc bộ, đồng thời ký hợp đồng với Stan Collymore, Lars BohinenColin Cooper. Clark giúp Forest lập tức trở lại Premier League khi đội bóng kết thúc Division One ở vị trí á quân vào cuối mùa giải 1993-94.

Forest đứng thứ ba tại mùa giải 1994-95 và giành quyền tham dự Cúp UEFA – lần đầu tiên họ trở lại đấu trường châu Âu trong thời kì hậu Heysel. Collymore sau đó chuyển sang Liverpool ở kì nghỉ hè năm 1995-96 với mức phí kỉ lục quốc gia là 8,5 triệu bảng. Forest vào tới tứ kết 1995-96 UEFA Cup, thành tích xa nhất mà một đội bóng Anh đi được tại đấu trường UEFA ở mùa giải đó. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ chín tại giải vô địch.

Mùa giải 1996-97 nhanh chóng trở thành một cuộc chiến trụ hạng. Clark rời câu lạc bộ vào tháng 12.

Stuart Pearce và Dave Bassett (1997-1999)

Đội trưởng 34 tuổi Stuart Pearce được bổ nhiệm làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên trưởng trên cơ sở tạm quyền ngay trước Giáng sinh năm 1996, và ông đã truyền cảm hứng để đội bóng có một giai đoạn hồi sinh ngắn. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1997, ông được thay thế chính thức bởi Dave Bassett, rồi rời câu lạc bộ vào mùa hè năm đó sau 12 năm gắn bó. Forest không thể tránh khỏi việc xuống hạng và kết thúc mùa giải ở vị trí cuối bảng. Họ giành quyền thăng hạng trở lại Premier League ngay trong lần đầu tiên thử sức, khi vô địch Division One mùa giải 1997-98. Bassett bị sa thải vào tháng 1 năm 1999, và Ron Atkinson thay thế ông.

Bước vào thế kỉ 21 ngoài hạng đấu cao nhất (1999-2012)

Ron Atkinson không thể ngăn Forest một lần nữa rơi trở lại Division One, và ông tuyên bố giải nghệ khỏi nghiệp huấn luyện khi việc Forest xuống hạng được xác nhận vào ngày 24 tháng 4 năm 1999, khi mùa giải Premier League vẫn còn ba tuần nữa mới kết thúc.

Cựu đội trưởng đội tuyển Anh David Platt kế nhiệm Atkinson và đã chi khoảng 12 triệu bảng cho cầu thủ trong vòng hai mùa giải, trong đó có các cựu binh người Ý Moreno Mannini, Salvatore MatrecanoGianluca Petrachi. Tuy nhiên, Forest chỉ có thể đứng thứ 14 ở mùa giải đầu tiên của Platt và thứ 11 ở mùa giải thứ hai. Ông rời đi vào tháng 7 năm 2001 để dẫn dắt đội tuyển U21 Anh, và được thay thế bởi huấn luyện viên trưởng đội trẻ Paul Hart.

Biểu đồ vị trí chung cuộc hằng năm của Forest kể từ khi gia nhập Football League

Khi ấy phải đối mặt với những khoản nợ khổng lồ làm suy giảm khả năng ký hợp đồng với cầu thủ mới, Forest kết thúc mùa giải đầu tiên dưới quyền Hart ở vị trí thứ 16. Đến tháng 12 năm 2001, có thông tin rằng Forest đang lỗ hơn 100.000 bảng mỗi tuần, và triển vọng tài chính của họ còn xấu đi vì sự sụp đổ của ITV Digital, điều khiến Forest cùng nhiều câu lạc bộ Football League khác lâm vào khó khăn tài chính nghiêm trọng. Bất chấp những khó khăn ngoài sân cỏ, Forest kết thúc mùa giải 2002-03 ở vị trí thứ sáu và giành quyền vào play-off, nơi họ thua Sheffield United ở bán kết. Chuỗi thành tích nghèo nàn tại giải trong mùa sau đó, sau khi mất đi một số cầu thủ chủ chốt, đã dẫn tới việc Hart bị sa thải vào tháng 2 năm 2004 khi Forest đang đối mặt nguy cơ xuống hạng. Quyết định này không được lòng một bộ phận người hâm mộ, và Hart bị mô tả là một "vật tế thần".

Joe Kinnear sau đó được bổ nhiệm và đưa câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí an toàn là thứ 14 trên bảng xếp hạng cuối cùng. Ở mùa giải 2004-05, Forest lại rơi vào khu vực xuống hạng, dẫn đến việc Kinnear từ chức vào tháng 12 năm 2004. Mick Harford tạm thời nắm quyền tại Forest trong giai đoạn Giáng sinh, trước khi Gary Megson được bổ nhiệm vào năm mới. Megson trước đó đã hai lần giúp West Bromwich Albion thăng hạng lên Premier League, khi ông đến câu lạc bộ đó đúng lúc họ đang đối mặt nguy cơ rớt xuống Division Two, nhưng lại không thể ngăn Forest xuống hạng khi đội bóng khép lại mùa giải ở vị trí áp chót, thứ 23, trở thành đội vô địch Cúp C1 châu Âu đầu tiên trong lịch sử rơi xuống hạng ba quốc nội.

Ở mùa giải đầu tiên của Forest tại hạng Ba Anh sau 54 năm, thất bại 0-3 trên sân của Oldham Athletic vào tháng 2 năm 2006 khiến Megson ra đi theo "thỏa thuận chung", trong khi đội bóng khi đó chỉ đứng giữa bảng và hơn khu vực xuống hạng đúng bốn điểm. Frank BarlowIan McParland tạm thời phụ trách trong phần còn lại của mùa giải 2005-06, tạo nên chuỗi sáu trận thắng liên tiếp và bất bại trong mười trận, trong đó đáng chú ý nhất là chiến thắng 7-1 trước Swindon Town. Forest giành 28 điểm trong tối đa 39 điểm dưới thời bộ đôi này, chỉ thiếu chút nữa là lọt vào play-off khi kết thúc ở vị trí thứ bảy.

Colin Calderwood, trước đó dẫn dắt Northampton Town, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Forest vào tháng 5 năm 2006. Ông là huấn luyện viên trưởng mới thứ 12 được bổ nhiệm kể từ khi Brian Clough nghỉ hưu 13 năm trước, và sau đó trở thành người tại vị lâu nhất ở Forest kể từ thời Frank Clark. Kỉ nguyên Calderwood rốt cuộc là một giai đoạn tái thiết, đồng thời cũng mang lại lần thăng hạng đầu tiên của câu lạc bộ trong mười năm. Ngay mùa giải đầu tiên, ông đưa câu lạc bộ vào play-off, sau khi đánh rơi lợi thế dẫn đầu bảy điểm tại League One vốn đã được tạo ra từ tháng 11 năm 2006. Cuối cùng Forest chịu một thất bại gây sốc với tổng tỉ số 4-5 ở bán kết trước Yeovil Town; họ từng dẫn 2-0 ở lượt đi trên sân Huish Park, nhưng rồi lại thua 2-5 ngay trên sân nhà trước đội bóng đến từ Somerset. Calderwood giành vé thăng hạng trực tiếp ở mùa giải thứ hai của mình tại câu lạc bộ, sau một chuỗi phong độ ấn tượng khi Forest thắng sáu trong bảy trận cuối mùa, khép lại bằng chiến thắng đầy kịch tính 3-2 trước Yeovil Town tại City Ground. Forest giữ sạch lưới trong 24 trên 46 trận tại giải, lập kỉ lục của giải đấu, qua đó tạo nền tảng cho việc trở lại hạng Hai của bóng đá Anh và chỉ còn cách Premier League đúng một lần thăng hạng nữa.

Tuy nhiên, đội bóng của Calderwood gặp khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống ở Championship trong mùa giải 2008-09, và sau khi không thể đưa Forest thoát khỏi khu vực xuống hạng, Calderwood bị sa thải בעקבות thất bại 2-4 vào đúng Boxing Day trước đội cuối bảng Championship là Doncaster Rovers.

Dưới quyền tạm thời của John Pemberton, Forest cuối cùng thoát khỏi khu vực xuống hạng sau khi đánh bại Norwich City 3-2. Billy Davies, người đã đưa đối thủ địa phương Derby County lên Premier League hai mùa giải trước đó, được xác nhận là huấn luyện viên trưởng mới vào ngày 1 tháng 1 năm 2009 và theo dõi đội bóng của Pemberton đánh bại Manchester City 3-0 trên sân khách ở Cúp FA, trước khi chính thức nắm quyền. Dưới thời Davies, Forest kéo dài chuỗi bất bại trên mọi đấu trường sau khi Calderwood ra đi lên thành sáu trận, trong đó có năm chiến thắng. Ông cũng giúp đội trụ hạng khi kết thúc Championship ở vị trí thứ 19, bảo đảm an toàn trước một vòng đấu.

Forest trải qua phần lớn mùa giải 2009-10 ở trong tốp 3, lập chuỗi 19 trận bất bại tại giải, thắng 12 trận sân nhà liên tiếp tại giải (kỉ lục câu lạc bộ về số trận thắng sân nhà liên tiếp trong một mùa giải), bất bại trên sân khách từ đầu mùa cho tới ngày 30 tháng 1 năm 2010 (chuỗi 13 trận), đồng thời có những chiến thắng đáng nhớ trên sân nhà trước các đối thủ địa phương Derby County và Leicester City. Câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba, lỡ suất thăng hạng trực tiếp, và ở trận bán kết play-off hai lượt đi về, họ bị Blackpool đánh bại, thua 1-2 trên sân khách rồi 3-4 ở trận lượt về trên sân nhà, đây cũng là thất bại sân nhà đầu tiên của câu lạc bộ kể từ khi thua chính Blackpool vào tháng 9 năm 2009.

Tập tin:Rob Earnshaw, Gareth McCleary and Forest teammates vs Cardif City, 20 tháng 11 năm 2010.jpg
Robert Earnshaw cùng những thành viên chủ chốt khác của đội hình vào play-off năm 2010

Ở mùa giải 2010-11, Forest kết thúc ở vị trí thứ sáu tại Championship với 75 điểm, qua đó bước vào chiến dịch play-off lần thứ tư chỉ trong vòng tám năm. Nhưng việc thăng hạng კვლავ tiếp tục lẩn tránh Forest, khi họ bị Swansea City – đội sau đó thắng trận chung kết play-off – đánh bại sau hai lượt trận. Sau khi hòa 0-0 ở lượt đi tại City Ground, cuối cùng họ thua 1-3 ở lượt về.

Vào tháng 6 năm 2011, hợp đồng của Billy Davies bị chấm dứt, và ông được thay thế trên cương vị huấn luyện viên trưởng bởi Steve McClaren, người ký hợp đồng ba năm. Forest khởi đầu mùa giải 2011-12 với nhiều kết quả nghèo nàn, và sau thất bại 1-5 trên sân khách trước Burnley, David Pleat cùng Bill Beswick rời ban huấn luyện của câu lạc bộ. Chưa đầy một tuần sau, sau thất bại trên sân nhà trước Birmingham City, McClaren từ chức, còn chủ tịch Nigel Doughty tuyên bố rằng ông có ý định rời chức vào cuối mùa giải. Vào tháng 10 năm 2011, Nottingham Forest trải qua nhiều thay đổi. Những thay đổi này gồm việc bổ nhiệm Frank Clark làm chủ tịch mới của câu lạc bộ, đồng thời bổ nhiệm Steve Cotterill thay thế Steve McClaren vừa rời đi gần đây.

Nigel Doughty: chủ sở hữu của Nottingham Forest giai đoạn 1999-2012

Nigel Doughty, chủ sở hữu và cựu chủ tịch của câu lạc bộ, qua đời vào ngày 4 tháng 2 năm 2012, sau khi gắn bó với câu lạc bộ từ cuối thập niên 1990, và nhiều người ước tính tổng đóng góp của ông vào khoảng 100 triệu bảng.

Kỉ nguyên Al-Hasawi (2012-2017)

Gia đình Al-Hasawi từ Kuwait mua lại câu lạc bộ vào tháng 7 năm 2012. Họ nói với báo chí rằng mình có một tầm nhìn dài hạn cho câu lạc bộ dựa trên kế hoạch 3-5 năm, và sau khi phỏng vấn một số ứng viên huấn luyện viên trưởng tiềm năng, họ đã bổ nhiệm Sean O'Driscoll, trước đó từng dẫn dắt Doncaster Rovers và Crawley Town, làm huấn luyện viên trưởng vào ngày 19 tháng 7 năm 2012. O'Driscoll được biết đến với phong cách bóng đá chuyền bóng hấp dẫn (điều từng giúp Doncaster Rovers lần đầu tiên lên hạng Hai kể từ thập niên 1950) và là kiểu bóng đá mà người hâm mộ thường xem là phong cách truyền thống của Forest. O'Driscoll đã có năm tháng tại City Ground với vai trò huấn luyện viên dưới quyền Steve Cotterill ở mùa giải 2011-12.

Đến ngày 15 tháng 12 năm 2012, sau trận hòa 0-0 trên sân của Brighton, Forest đứng ở vị trí thứ chín với 33 điểm, chỉ kém nhóm play-off ba điểm. Cũng trong cuối tuần đó, câu lạc bộ thông báo rằng Omar Al-Hasawi đã từ chức vì lí do cá nhân và Fawaz Al-Hasawi, cổ đông lớn nhất với 75% cổ phần, đã tiếp quản vị trí này, trong khi người em trai Abdulaziz Al-Hasawi nắm 20% cổ phần và người em họ Omar Al-Hasawi nắm 5%.

Ngày 26 tháng 12 năm 2012, O'Driscoll bị sa thải sau chiến thắng 4-2 trước Leeds United, với việc câu lạc bộ tuyên bố mong muốn thay đổi trước kì chuyển nhượng tháng 1 và hi vọng bổ nhiệm một huấn luyện viên trưởng có kinh nghiệm tại Premier League, và sau đó đã thuê Alex McLeish. Giám đốc điều hành Mark Arthur, cũng như tuyển trạch viên Keith Burt và đại sứ câu lạc bộ Frank Clark, đều bị sa thải vào tháng 1 năm 2013. Ngày 5 tháng 2 năm 2013, Forest và McLeish chia tay theo thỏa thuận chung sau 40 ngày hợp tác. Cả người hâm mộ Forest lẫn giới bình luận đều bày tỏ lo ngại về tình trạng của câu lạc bộ, còn nhà báo Pat Murphy mô tả tình hình là một "mớ hỗn độn".

Stuart Pearce trở lại làm huấn luyện viên trưởng vào năm 2014.

Hai ngày sau khi McLeish ra đi, câu lạc bộ tái bổ nhiệm Billy Davies làm huấn luyện viên trưởng, dù ông đã bị sa thải khỏi cương vị này hai mươi tháng trước đó. Trận đầu tiên của ông khi trở lại là một trận hòa, tiếp theo là chuỗi 10 trận bất bại. Vào tháng 3 năm 2014, câu lạc bộ chấm dứt hợp đồng với Davies sau thất bại 0-5 trước Derby County. Sau khi ban đầu từ chối công việc này vào tháng 3 năm 2014, người được người hâm mộ yêu mến Stuart Pearce được chọn làm người thay thế Billy Davies, tiếp quản từ huấn luyện viên trưởng tạm quyền Gary Brazil. Ông ký hợp đồng hai năm có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2014. Pearce giúp Forest khởi đầu mùa giải mà không thua trận nào, nhưng không thể duy trì phong độ đó. Ông bị sa thải vào tháng 2 năm 2015 và được thay thế bởi một cựu cầu thủ Forest khác là Dougie Freedman.

Một vị trí giữa bảng khác đồng nghĩa với việc Forest bước vào mùa giải 2015-16 khi vẫn ở Championship và lúc này đã là mùa giải thứ 17 liên tiếp xa rời Premier League. Ngày 13 tháng 3 năm 2016, Freedman bị sa thải sau thất bại 0-3 trên sân nhà trước Sheffield Wednesday, và Paul Williams sau đó được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng tạm thời. Cựu huấn luyện viên trưởng của Boulogne, Valenciennes, Real Sociedad và Rennes là Philippe Montanier được bổ nhiệm theo hợp đồng hai năm vào ngày 27 tháng 6 năm 2016, trở thành huấn luyện viên trưởng đầu tiên của câu lạc bộ đến từ bên ngoài Quần đảo Anh, nhưng ông bị sa thải sau chưa đầy bảy tháng cầm quân. Mark Warburton được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ vào ngày 14 tháng 3 năm 2017. Forest chỉ vừa đủ tránh xuống hạng ở ngày cuối cùng của mùa giải 2016-17, khi chiến thắng 3-0 trên sân nhà trước Ipswich Town bảo đảm cho họ trụ hạng, đồng thời đẩy Blackburn Rovers xuống hạng.

Evangelos Marinakis và sự trở lại Premier League (2017-nay)

Ngày 18 tháng 5 năm 2017, Evangelos Marinakis hoàn tất việc tiếp quản Nottingham Forest, chấm dứt thời kì Al-Hasawi nắm quyền sở hữu Forest. Huấn luyện viên trưởng đương nhiệm Mark Warburton bị sa thải vào ngày 31 tháng 12 năm 2017 sau thất bại 0-1 trên sân nhà trước đội đang gặp khó khăn là Sunderland, khi thành tích của ông chỉ là một chiến thắng trong bảy trận. Ông được thay thế bởi người Tây Ban Nha Aitor Karanka, người đến vào ngày 8 tháng 1 năm 2018, ngay sau khi huấn luyện viên trưởng tạm quyền Gary Brazil chỉ đạo chiến thắng 4-2 trên sân nhà trước đương kim vô địch Arsenal ở vòng Ba Cúp FA. Karanka thực hiện 10 bản hợp đồng mới trong kì chuyển nhượng tháng 1, và sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 17, ông tiếp tục mang về thêm 14 tân binh trong kì chuyển nhượng mùa hè, còn kết quả ở mùa giải sau đó được cải thiện. Dù đang có vị trí tốt tại giải, Karanka rời ghế vào ngày 11 tháng 1 năm 2019 sau khi yêu cầu được giải phóng khỏi hợp đồng. Ông được thay bằng cựu huấn luyện viên trưởng đội tuyển Cộng hòa Ireland Martin O'Neill bốn ngày sau đó. O'Neill bị sa thải vào tháng 6 sau khi được cho là mâu thuẫn với một số cầu thủ đội một kỳ cựu, và được thay bằng Sabri Lamouchi trong cùng ngày. Ở mùa giải đầu tiên dưới quyền Lamouchi, dù phần lớn thời gian mùa giải nằm trong nhóm play-off, Forest rơi xuống vị trí thứ bảy vào ngày cuối cùng. Ngày 6 tháng 10 năm 2020, Lamouchi bị câu lạc bộ sa thải sau khởi đầu tệ ở mùa giải 2020-21. Ông được thay thế bởi cựu huấn luyện viên trưởng Brighton là Chris Hughton. Sau quãng thời gian 11 tháng rốt cuộc không thành công, Hughton bị sa thải vào ngày 16 tháng 9 năm 2021 sau khi không thể thắng bất cứ trận nào trong bảy trận mở màn của câu lạc bộ ở mùa giải 2021-22.

Chủ tịch Forest Nicholas Randall ban đầu từng hứa rằng Forest có kế hoạch trở lại thi đấu ở châu Âu trong vòng năm mùa giải, nhưng những thương vụ chuyển nhượng yếu kém và bầu không khí độc hại trong câu lạc bộ khiến Forest vẫn còn ở Championship sau bốn năm dưới thời Marinakis. Vào mùa hè năm 2021, những thay đổi về cấu trúc được thực hiện tại câu lạc bộ nhằm sửa chữa các sai lầm trước đó. Forest bổ nhiệm Dane Murphy làm giám đốc điều hành, còn George Syrianos được đưa về làm trưởng bộ phận tuyển dụng để xây dựng một chính sách chuyển nhượng dựa trên phân tích dữ liệu nhiều hơn. Ban lãnh đạo Forest cam kết tránh lối làm việc "ngắn hạn" của các kì chuyển nhượng trước bằng cách không còn ký với các cầu thủ có mức lương hơn 18.000 bảng mỗi tuần, đồng thời chủ yếu nhắm tới những bản hợp đồng trẻ hơn có thể bán lại để thu lợi nhuận.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, Forest thông báo bổ nhiệm Steve Cooper làm huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ. Cooper tạo ra bước ngoặt về phong độ, khi ông đến lúc câu lạc bộ đang đứng bét bảng nhưng đưa đội lên vị trí thứ bảy vào dịp Giáng sinh, rồi lên tới vị trí thứ tư vào cuối mùa giải, qua đó giúp Forest giành quyền dự play-off lần đầu tiên kể từ mùa giải 2010-11. Ở bán kết play-off Championship 2022, Forest đánh bại Sheffield United trên chấm luân lưu để vào trận chung kết gặp Huddersfield Town, đội mà họ đánh bại 1-0 tại Wembley Stadium, qua đó thăng hạng lên Premier League lần đầu tiên kể từ mùa giải 1998-99. Bước vào Premier League với đội hình bị bào mòn sau khi thăng hạng, Forest đã ký 21 cầu thủ cho đội một trước mùa giải kế tiếp. Đây là kỉ lục chuyển nhượng của bóng đá Anh. Mức phí kỉ lục của câu lạc bộ cũng bị phá nhiều lần, và lần cuối cùng trong kì chuyển nhượng ấy là khi Morgan Gibbs-White gia nhập câu lạc bộ với giá 25 triệu bảng, có thể tăng lên thành 42 triệu bảng tùy theo thành tích thi đấu.

Nottingham Forest gặp Huddersfield Town trong Chung kết play-off EFL Championship 2022

Ngày 7 tháng 10 năm 2022, sau năm thất bại liên tiếp, câu lạc bộ thông báo Cooper đã ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm. Kết quả sau đó có cải thiện trong thời gian ngắn, nhưng đến đầu tháng 4, sau một chuỗi phong độ nghèo nàn khác bị ảnh hưởng bởi chấn thương, Marinakis lại buộc phải tuyên bố rằng ông vẫn tin tưởng huấn luyện viên trưởng. "Tất cả chúng tôi đều thất vọng với những màn trình diễn gần đây, và rất rõ ràng là còn rất nhiều việc phải làm để giải quyết điều này ngay lập tức. Kết quả và màn trình diễn phải được cải thiện ngay", ông nói trong một thông báo.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, khi câu lạc bộ đang nằm trong khu vực xuống hạng, giám đốc thể thao Filippo Giraldi bị sa thải sau sáu tháng tại vị.

Ngày 20 tháng 5 năm 2023, Nottingham Forest bảo đảm vị thế Premier League của mình cho mùa giải tiếp theo bằng chiến thắng 1-0 trên sân nhà trước Arsenal, đồng thời kết quả đó cũng xác nhận chức vô địch cho Manchester City. Forest giành được 11 điểm trong sáu trận cuối cùng.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, câu lạc bộ sa thải Cooper; ông được thay thế bởi cựu huấn luyện viên trưởng của Al-IttihadNuno Espírito Santo. Ngày 15 tháng 1 năm 2024, Nottingham Forest bị buộc tội vi phạm các quy định về lợi nhuận và tính bền vững của Premier League trong sổ sách tài chính mùa giải 2022-23. Ngày 18 tháng 3 năm 2024, câu lạc bộ bị trừ bốn điểm, đẩy họ vào các vị trí xuống hạng, sau khi một ủy ban độc lập kết luận khoản lỗ mùa giải 2022-23 của Forest đã vượt ngưỡng 61 triệu bảng thêm 34,5 triệu bảng. Câu lạc bộ đã kháng cáo án phạt này, nhưng kháng cáo của họ bị bác bỏ.

Nottingham Forest bảo đảm trụ hạng ở Premier League cho mùa giải 2023-24 bằng chiến thắng 2-1 trước Burnley tại Turf Moor vào ngày 19 tháng 5 năm 2024. Tổng số 32 điểm của họ tại giải là mức điểm thấp nhất của một đội trụ hạng thành công.

mùa giải 2024-25, Nottingham Forest chiếm giữ các vị trí dự UEFA Champions League trong phần lớn chiến dịch. Tuy nhiên, sự sa sút về phong độ khiến họ bỏ lỡ suất tham dự vào ngày cuối cùng sau thất bại 0-1 trên sân nhà trước Chelsea. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ bảy, đủ để giành quyền dự Conference League, lần đầu tiên câu lạc bộ trở lại đấu trường châu Âu sau 30 năm, tuy nhiên sau đó họ được đôn lên dự Europa League בעקבות việc đội vô địch Cúp FACrystal Palace bị giáng xuống do vi phạm các quy định về sở hữu đa câu lạc bộ.

Dù Espírito Santo thành công và đã ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm vào tháng 6, ông vẫn bị sa thải vào ngày 9 tháng 9 năm 2025 sau khi mối quan hệ giữa ông, Marinakis và giám đốc thể thao Edu xấu đi một cách công khai. Cuối ngày hôm đó, Ange Postecoglou, người gần nhất đã dẫn dắt Tottenham Hotspur tới chức vô địch Europa League 2024-25, được bổ nhiệm thay thế ông. Postecoglou bị sa thải vào ngày 18 tháng 10 năm 2025 chỉ sau tám trận trong 39 ngày – quãng thời gian cầm quân chính thức ngắn thứ hai trong lịch sử Premier League. Ông được thay thế bởi Sean Dyche, người đã rời Everton vào tháng 1 năm 2025. Dyche bị sa thải vào tháng 2 năm 2026 sau 114 ngày cầm quân và được thay bằng Vítor Pereira, qua đó biến Forest trở thành câu lạc bộ Premier League đầu tiên có bốn huấn luyện viên trưởng chính thức khác nhau chỉ trong một mùa giải.

Bản sắc câu lạc bộ

Huy hiệu và màu sắc

Jordan Lawrence-Gabriel trong áo đỏ của Forest, năm 2016

Nottingham Forest đã mặc màu đỏ kể từ khi câu lạc bộ được thành lập vào năm 1865. Tại cuộc họp ở Clinton Arms, nơi Nottingham Forest được thành lập như một câu lạc bộ bóng đá, ban chấp hành cũng thông qua nghị quyết rằng màu sắc của đội sẽ là 'đỏ Garibaldi'. Quyết định này được đưa ra để tôn vinh Giuseppe Garibaldi, người yêu nước Ý và là lãnh tụ của lực lượng tình nguyện Áo đỏ. Vào thời điểm đó, các câu lạc bộ được nhận diện nhiều hơn qua mũ đội đầu thay vì áo đấu, và đúng theo đó, mười hai chiếc mũ đỏ có tua đã được mua, khiến Forest trở thành câu lạc bộ đầu tiên "chính thức" mặc màu đỏ, một màu sau này đã được rất nhiều câu lạc bộ khác sử dụng. Bộ trang phục của Forest là lí do đứng sau việc Arsenal chọn màu đỏ, khi Forest đã tặng cho Arsenal một bộ trang phục đỏ hoàn chỉnh sau khi câu lạc bộ này được thành lập (dưới tên gọi Woolwich Arsenal) vào năm 1886. Chuyến du đấu Nam Mỹ của Forest năm 1905 đã truyền cảm hứng để câu lạc bộ Argentina Independiente chọn màu đỏ làm màu sắc câu lạc bộ, sau khi chủ tịch câu lạc bộ Arístides Langone mô tả các vị khách du đấu trông như diablos rojos ("những con quỷ đỏ"), về sau trở thành biệt danh của Independiente.

Huy hiệu câu lạc bộ đầu tiên mà Forest sử dụng là huy hiệu thành phố Nottingham, lần đầu tiên được dùng trên trang phục vào năm 1947. Huy hiệu câu lạc bộ hiện tại được giới thiệu vào năm 1974, sau một cuộc thi năm 1973 nhằm thiết kế một huy hiệu mới. Thiết kế chiến thắng thuộc về David Lewis, giảng viên thiết kế đồ họa của Trent Polytechnic (nay là Nottingham Trent University). Logo này từng bị đưa tin sai là do huấn luyện viên trưởng Brian Clough nghĩ ra, nhưng thực tế ông chỉ đến câu lạc bộ vào năm sau đó. Forest có hai ngôi sao phía trên huy hiệu câu lạc bộ để kỉ niệm hai chức vô địch Cúp C1 châu Âu vào các năm 1979 và 1980.

Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ chính trên áo đấu
1973-76 Umbro Không
1976-77 U-Win
1977-80 Adidas
1980-82 Panasonic
1982-84 Wrangler
1984-86 Skol
1986-87 Umbro Home Ales
1987-93 Shipstones
1993-97 Labatt's
1997-2003 Pinnacle
2003-09 Capital One
2009-12 Victor Chandler
2012-13 John Pye Auctions
2013-16 Adidas Fawaz International Refrigeration & Air Conditioning Company
2016-18 888sport
2018-19 Macron BetBright
2019-21 Football Index
2021-22 BOXT
2022-23 UNHCR
2023-25 Adidas Kaiyun
2025-26 Bally's

Tên gọi

Câu lạc bộ đã có nhiều biệt danh theo thời gian. Trong lịch sử, biệt danh "the Reds" được sử dụng, cũng như "Garibaldis". "The Forest" hay đơn giản hơn là "Forest" – như cách xuất hiện trên huy hiệu câu lạc bộ – cũng được dùng phổ biến. Một biệt danh khác, ít được dùng hơn, dành cho câu lạc bộ là "Tricky Trees".

Sân vận động

City Ground

City Ground bên bờ River Trent

Kể từ năm 1898, Nottingham Forest đã chơi các trận sân nhà tại City GroundWest Bridgford, bên bờ River Trent. Trước khi chuyển tới City Ground, Forest từng chơi sân nhà tại Forest Recreation Ground, rồi Trent Bridge, và cuối cùng là Town Ground được xây dựng chuyên dụng. Kể từ năm 1994, City Ground là sân toàn ghế ngồi, một sự chuẩn bị được hoàn tất kịp thời để sân trở thành một địa điểm tổ chức Euro 96, và hiện có sức chứa 31.042 chỗ.

City Ground nằm cách sân Meadow Lane của Notts County 300 yard ở phía đối diện sông Trent, nghĩa là đây là hai sân vận động của các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp gần nhau nhất về mặt địa lí tại Anh. Năm 1898, City Ground nằm trong ranh giới của Nottingham, nơi vừa được trao quy chế thành phố vào năm trước đó, và điều này đã tạo ra tên gọi của sân. Tuy nhiên, một lần thay đổi địa giới vào thập niên 1950 khiến City Ground nay nằm ngay bên ngoài ranh giới thành phố, trong thị trấn West Bridgford.

Năm 2019, Nottingham Forest công bố kế hoạch tái phát triển City Ground và khu vực xung quanh, bao gồm "việc tạo ra một khán đài Peter Taylor mới, đẳng cấp thế giới". Dự kiến điều này sẽ nâng sức chứa của sân lên 38.000 chỗ, biến nơi đây thành sân vận động bóng đá lớn nhất vùng East Midlands. Giấy phép quy hoạch cho khán đài Peter Taylor mới đã được ủy ban quy hoạch của Rushcliffe Borough Council phê duyệt vào năm 2022, còn sự chấp thuận cuối cùng được cấp vào năm 2025.

Vào tháng 11 năm 2025, Nottingham Forest công bố những kế hoạch mới tham vọng hơn nhằm nâng sức chứa của City Ground lên 52.500 chỗ vào năm 2033. Tại một sự kiện ra mắt có sự hiện diện của chủ tịch câu lạc bộ Nicholas Randall và thị trưởng vùng East Midlands Claire Ward, Nottingham Forest xác nhận ý định mở rộng sức chứa của khán đài Peter Taylor thêm khoảng 10.000 chỗ để đưa khán đài này lên 15.000 chỗ, đồng thời tăng sức chứa của khán đài Trent End thêm 5.000 chỗ nữa, nâng tổng sức chứa lên 45.000 như là Giai đoạn Một của dự án tái phát triển City Ground. Các kế hoạch dài hạn thuộc Giai đoạn Hai cũng sẽ tăng sức chứa của khán đài Brian Clough thêm 7.500 chỗ, cuối cùng đưa tổng sức chứa lên hơn 52.500.

Nottingham Forest đã nộp đơn xin cấp phép quy hoạch lên Rushcliffe Borough Council cho các kế hoạch thuộc Giai đoạn Một vào ngày 16 tháng 12 năm 2025, và hi vọng có thể bắt đầu các công việc chuẩn bị vào mùa hè năm 2026, tùy thuộc vào việc họ có giành được giấy phép quy hoạch hay không. Một đơn xin cấp phép sơ bộ cũng đã được nộp cho việc mở rộng khán đài Brian Clough song song với đơn chính dành cho Trent End và khán đài Peter Taylor. Có thông tin cho rằng Nottingham Forest vẫn chưa mua được quyền sở hữu đất vĩnh viễn đối với khu City Ground, và điều này còn phụ thuộc vào việc họ có được cấp phép quy hoạch cho các dự án của mình hay không.

Lịch sử sân đấu

Giai đoạn Sân đấu Địa điểm
1865-78 Forest Recreation Ground Forest Fields
1879-80 Castle Ground The Meadows
1880-82 Trent Bridge Cricket Ground Tây Bridgford
1882-85 Parkside Ground Lenton
1885-90 Gregory Ground Lenton
1890-98 Town Ground The Meadows
1898-98 City Ground The Meadows
1898- City Ground Tây Bridgford

Kình địch địa phương, các trận derby và cổ động viên

Notts County là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp gần Forest nhất về mặt địa lí, Forest vẫn luôn chơi ít nhất cao hơn họ một hạng kể từ mùa giải 1994-95, và mối kình địch gay gắt nhất của câu lạc bộ là với Derby County, đội bóng nằm cách đó 14 dặm. Mối kình địch này bắt nguồn từ Chung kết Cúp FA 1898, khi Forest tạo ra một cú sốc lớn bằng cách đánh bại Derby County, đội được đánh giá cao hơn hẳn, với tỉ số 3-1. Hai câu lạc bộ tranh tài trong trận derby East Midlands, một cặp đấu càng trở nên có ý nghĩa hơn kể từ khi chiếc Brian Clough Trophy ra đời vào năm 2007. Tính đến tháng 2 năm 2024, hai câu lạc bộ đã gặp nhau 111 lần, trong đó Forest thắng 43 trận, Derby thắng 38 trận và có 30 trận hòa.

Leicester City từng được xem rộng rãi là đối thủ lớn nhất của Forest tại East Midlands trước khi Brian Clough thành công tại cả Derby lẫn Forest. Hiện nay, sự kình địch này được cảm nhận mạnh nhất bởi những người hâm mộ sống quanh khu vực biên giới Leicestershire-Nottinghamshire.[cần dẫn nguồn]

Đối thủ trong vùng khác của Forest là Sheffield United, đội bóng có trụ sở tại hạt láng giềng South Yorkshire, một mối kình địch có gốc rễ từ cuộc đình công của thợ mỏ tại Vương quốc Liên hiệp Anh giai đoạn 1984-85, khi các thợ mỏ ở South Yorkshire đình công kéo dài còn một số thợ mỏ Nottinghamshire, những người khăng khăng đòi phải có bỏ phiếu, vẫn tiếp tục làm việc. Trận bán kết play-off Championship năm 2003 giữa hai câu lạc bộ, khi Sheffield United thắng với tổng tỉ số 5-4, cũng càng làm tăng thêm sự kình địch này.[cần dẫn nguồn] Hai đội gặp lại nhau ở vòng play-off năm 2022, và lần này Forest là đội giành phần thắng. Đến mùa giải 2023-24, họ đối đầu nhau tại Premier League lần đầu tiên kể từ năm 1993, với Forest thắng 2-1 trên sân nhà, và 3-1 trên sân khách.

Huấn luyện viên trưởng

Thông tin chính xác tính đến trận đấu diễn ra ngày 18 tháng 10 năm 2025. Chỉ tính các trận chính thức. [cần dẫn nguồn]

  • Các huấn luyện viên trưởng tạm quyền được in nghiêng.
Số thứ tự Huấn luyện viên trưởng Từ Đến Số trận Thắng Hòa Thua % thắng % hòa % thua Chú thích
1 Harry Radford 1 tháng 8 năm 1889 31 tháng 5 năm 1897 176 69 34 73 39.2% 19.3% 41.5%
2 Harry Hallam 1 tháng 8 năm 1897 31 tháng 5 năm 1909 462 188 104 170 40.7% 22.5% 36.8%
3 Anh Fred Earp 1 tháng 8 năm 1909 31 tháng 5 năm 1912 120 35 26 59 29.2% 21.7% 49.2%
4 Bob Masters 1 tháng 8 năm 1912 31 tháng 5 năm 1925 385 108 97 180 28.1% 25.2% 46.8%
5 John Baynes 1 tháng 8 năm 1925 31 tháng 5 năm 1929 182 69 47 66 37.9% 25.8% 36.3%
6 Anh Stan Hardy 1 tháng 8 năm 1930 31 tháng 5 năm 1931 43 14 9 20 32.6% 20.9% 46.5%
7 Noel Watson 1 tháng 8 năm 1931 31 tháng 5 năm 1936 223 79 57 87 35.4% 25.6% 39.0%
8 Anh Harold Wightman 1 tháng 8 năm 1936 31 tháng 5 năm 1939 119 33 27 59 27.7% 22.7% 49.6%
9 Anh Billy Walker 1 tháng 5 năm 1939 1 tháng 6 năm 1960 650 272 147 231 41.8% 22.6% 35.5%
10 Scotland Andy Beattie 1 tháng 9 năm 1960 1 tháng 7 năm 1963 140 52 30 58 37.1% 21.4% 41.4%
11 Cộng hòa Ireland Johnny Carey 1 tháng 7 năm 1963 31 tháng 12 năm 1968 267 99 65 93 38.5% 25.3% 36.2%
12 Scotland Matt Gillies 1 tháng 1 năm 1969 20 tháng 10 năm 1972 177 49 48 80 27.7% 27.1% 45.2%
13 Scotland Dave Mackay 2 tháng 11 năm 1972 23 tháng 10 năm 1973 44 13 14 17 29.5% 31.8% 38.6%
14 Scotland Allan Brown 19 tháng 11 năm 1973 29 tháng 12 năm 1974 57 20 17 20 35.1% 29.8% 35.1%
15 Anh Brian Clough 6 tháng 1 năm 1975 8 tháng 5 năm 1993 968 447 258 263 46.2% 26.7% 27.2%
16 Anh Frank Clark 13 tháng 5 năm 1993 19 tháng 12 năm 1996 180 73 59 48 40.5% 32.7% 26.6%
17 Anh Stuart Pearce 20 tháng 12 năm 1996 8 tháng 5 năm 1997 24 7 9 8 29.2% 37.5% 33.3%
18 Anh Dave Bassett 8 tháng 5 năm 1997 5 tháng 1 năm 1999 76 33 20 23 43.4% 26.3% 30.2%
19 Anh Micky Adams 5 tháng 1 năm 1999 11 tháng 1 năm 1999 1 0 0 1 0.0% 0.0% 100.0%
20 Anh Ron Atkinson 11 tháng 1 năm 1999 16 tháng 5 năm 1999 17 5 2 10 29.4% 11.8% 58.8%
21 Anh David Platt 1 tháng 7 năm 1999 12 tháng 7 năm 2001 103 37 25 41 35.9% 24.3% 39.8%
22 Anh Paul Hart 12 tháng 7 năm 2001 7 tháng 2 năm 2004 135 42 44 49 31.1% 32.6% 36.3%
23 Cộng hòa Ireland Joe Kinnear 10 tháng 2 năm 2004 16 tháng 12 năm 2004 44 15 15 14 34.1% 34.1% 31.8%
24 Anh Mick Harford 16 tháng 12 năm 2004 10 tháng 1 năm 2005 6 2 1 3 33.3% 16.7% 50.0%
25 Anh Gary Megson 10 tháng 1 năm 2005 16 tháng 2 năm 2006 59 17 18 24 28.8% 30.5% 40.7%
26 Anh Frank Barlow
Scotland Ian McParland
17 tháng 2 năm 2006 30 tháng 5 năm 2006 13 8 4 1 61.5% 30.8% 7.7%
27 Scotland Colin Calderwood 30 tháng 5 năm 2006 26 tháng 12 năm 2008 136 57 42 37 41.9% 30.9% 27.2%
28 Anh John Pemberton 27 tháng 12 năm 2008 4 tháng 1 năm 2009 2 2 0 0 100.0% 0.0% 0.0%
29 Scotland Billy Davies 4 tháng 1 năm 2009 12 tháng 6 năm 2011 126 53 36 37 42.1% 28.6% 29.4%
30 Anh Steve McClaren 13 tháng 6 năm 2011 2 tháng 10 năm 2011 13 3 3 7 23.1% 23.1% 53.8%
31 Anh Rob Kelly 2 tháng 10 năm 2011 15 tháng 10 năm 2011 1 0 0 1 0% 0% 100%
32 Anh Steve Cotterill 14 tháng 10 năm 2011 12 tháng 7 năm 2012 37 12 7 18 32.4% 18.9% 48.6%
33 Cộng hòa Ireland Sean O'Driscoll 20 tháng 7 năm 2012 26 tháng 12 năm 2012 26 10 9 7 38.5% 34.6% 26.9%'
34 Scotland Alex McLeish 27 tháng 12 năm 2012 5 tháng 2 năm 2013 7 1 2 4 14.3% 28.6% 57.1%
35 Anh Rob Kelly 5 tháng 2 năm 2013 9 tháng 2 năm 2013 1 0 0 1 0.0% 0.0% 100.0%
36 Scotland Billy Davies 7 tháng 2 năm 2013 24 tháng 3 năm 2014 59 25 21 13 42.3% 35.6% 22.0%
37 Anh Gary Brazil 24 tháng 3 năm 2014 3 tháng 5 năm 2014 9 2 2 5 22.2% 22.2% 55.6%
38 Anh Stuart Pearce 1 tháng 7 năm 2014 1 tháng 2 năm 2015 32 10 10 12 31.25% 31.25% 37.5%
39 Scotland Dougie Freedman 1 tháng 2 năm 2015 13 tháng 3 năm 2016 57 19 16 22 33.3% 28.1% 38.6%
40 Anh Paul Williams 13 tháng 3 năm 2016 12 tháng 5 năm 2016 10 2 4 4 20.0% 40.0% 40.0%
41 Pháp Philippe Montanier 27 tháng 6 năm 2016 14 tháng 1 năm 2017 30 9 6 15 30.0% 20.0% 50.0%
42 Anh Gary Brazil 14 tháng 1 năm 2017 14 tháng 3 năm 2017 11 4 1 6 36.4% 9.1% 54.5%
43 Anh Mark Warburton 14 tháng 3 năm 2017 31 tháng 12 năm 2017 37 15 3 19 40.5% 8.1% 51.4%
44 Anh Gary Brazil 31 tháng 12 năm 2017 8 tháng 1 năm 2018 2 1 1 0 50.0% 50.0% 0.0%
45 Tây Ban Nha Aitor Karanka 8 tháng 1 năm 2018 11 tháng 1 năm 2019 51 16 19 16 31.4% 37.2% 31.4%
46 Anh Simon Ireland 11 tháng 1 năm 2019 15 tháng 1 năm 2019 1 0 0 1 0.0% 0.0% 100.0%
47 Bắc Ireland Martin O'Neill 15 tháng 1 năm 2019 28 tháng 6 năm 2019 19 8 3 8 42.1% 15.8% 42.1%
48 Pháp Sabri Lamouchi 28 tháng 6 năm 2019 6 tháng 10 năm 2020 55 20 16 19 36.4% 29.1% 34.5%
49 Cộng hòa Ireland Chris Hughton 6 tháng 10 năm 2020 16 tháng 9 năm 2021 53 14 17 22 26.4% 32.1% 41.5%
50 Cộng hòa Ireland Steven Reid 16 tháng 9 năm 2021 21 tháng 9 năm 2021 1 1 0 0 100.0% 0.0% 0.0%
51 Wales Steve Cooper 21 tháng 9 năm 2021 19 tháng 12 năm 2023 108 42 27 39 43.3% 24.5% 32.2%
52 Bồ Đào Nha Nuno Espírito Santo 20 tháng 12 năm 2023 8 tháng 9 năm 2025 73 28 20 25 38.36% 27.40% 34.25%
53 Úc Ange Postecoglou 9 tháng 9 năm 2025 18 tháng 10 năm 2025 8 0 2 6 0.00% 25% 75%
54 Anh Sean Dyche 21 tháng 10 năm 2025 12 tháng 2 năm 2026 18 6 4 8 33.3% 22.2% 44.4%

Thành tích tại châu Âu

Giải đấu ST T H B BT BB HS
Cúp C1 châu Âu 20 12 4 4 32 14 +18
Cúp UEFA/Europa League 26 13 7 6 29 22 +7
Inter-Cities Fairs Cup 6 3 0 3 8 9 −1
Siêu cúp châu Âu 4 2 1 1 4 3 +1
Cúp Liên lục địa 1 0 0 1 0 1 −1
Tổng số 57 30 12 15 73 49 +24

Cầu thủ

Đội hình đội một

Tính đến 2 tháng 2 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
3 HV Wales Neco Williams
4 HV Brasil Morato
5 HV Brasil Murillo
6 TV Bờ Biển Ngà Ibrahim Sangaré
7 Anh Callum Hudson-Odoi
8 TV Anh Elliot Anderson
9 Nigeria Taiwo Awoniyi
10 TV Anh Morgan Gibbs-White (đội phó)
11 New Zealand Chris Wood
13 TM Brasil John Victor
14 Thụy Sĩ Dan Ndoye
16 TV Argentina Nicolás Domínguez
17 HV Đức Eric da Silva Moreira
18 TM Scotland Angus Gunn
19 Brasil Igor Jesus
Số VT Quốc gia Cầu thủ
20 Ý Lorenzo Lucca (mượn từ Napoli)
21 Anh Omari Hutchinson
22 TV Anh Ryan Yates (đội trưởng)
23 HV Brasil Jair Cunha
24 TV Anh James McAtee
25 HV Đức Luca Netz
26 TM Bỉ Matz Sels
27 TM Đức Stefan Ortega
29 Pháp Dilane Bakwa
30 HV Bờ Biển Ngà Willy Boly
31 HV Serbia Nikola Milenković
34 HV Nigeria Ola Aina
37 HV Ý Nicolò Savona
44 HV Anh Zach Abbott

Đội một được cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
15 Pháp Arnaud Kalimuendo (cho Eintracht Frankfurt mượn)
20 Bồ Đào Nha Jota Silva (cho Beşiktaş mượn)
27 HV Anh Omar Richards (cho Rio Ave mượn)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
33 HV Brasil Cuiabano (cho Vasco da Gama mượn)
36 HV Angola David Carmo (cho Real Oviedo mượn)
HV New Zealand Tyler Bindon (cho Sheffield United mượn)
Tính đến 2 tháng 2 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
45 Gambia Lamin Sillah
47 TM Anh Luke Campbell
51 TV Anh Archie Whitehall
57 TV Bắc Ireland Blaine McClure (mượn từ Rangers)
60 HV Scotland Jamie Newton
61 HV Anh Jimmy Sinclair
62 Latvia Danny Anisjko
63 TM Anh Aaron Bott
65 HV Wales Justin Hanks
67 TM Anh Keehan Willows
68 HV Zimbabwe Kristian Clarke
Số VT Quốc gia Cầu thủ
70 TV Anh Alfie Bradshaw
71 HV Anh David Modupe
73 TV Anh Fuad Smith
77 TV Anh Zyan Blake
93 TV Anh Chinaza Nwosu
96 Bắc Ireland Kalum Thompson
TM Anh George Murray-Jones
HV Bắc Ireland Matthew Orr
TV Úc Shae Cahill
TV Anh Frank Djamna
Anh Donnell McNeilly

Đội B được cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
46 TV Bénin Cherif Yaya (cho Hereford mượn)
58 HV Anh Jack Thompson (cho Barrow mượn)
64 HV Wales Ben Hammond (cho Northampton Town mượn)
72 TV Scotland Cormac Daly (cho Hereford mượn)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Anh Kyle McAdam (cho Northampton Town mượn)
HV Anh Josh Powell (cho Fleetwood Town mượn)
Cộng hòa Ireland Joe Gardner (cho Mansfield Town mượn)
Anh Esapa Osong (cho Fleetwood Town mượn)

Nhân sự câu lạc bộ

Ban huấn luyện

Nguồn:

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Bồ Đào Nha Vítor Pereira
Trợ lí huấn luyện viên trưởng Bồ Đào Nha Luís Miguel
Huấn luyện viên đội một Bồ Đào Nha Filipe Almeida
Anh Axl Rice
Huấn luyện viên thủ môn Đức Marco Knoop
Wales Wayne Hennessey
Huấn luyện viên thể lực Anh Adam Burrows
Huấn luyện viên điều hòa thể chất Bồ Đào Nha Bruno Moura
Chuyên viên phân tích trận đấu Anh Sam Astley

Ban điều hành

Chức vụ Tên
Chủ sở hữu đa số Hy Lạp Evangelos Marinakis
Chủ sở hữu thiểu số Hy Lạp Sokratis Kominakis
Chủ tịch Anh Nicholas Randall KC
Giám đốc không điều hành Anh Michael Dugher
Giám đốc không điều hành Anh Simon Forster
Giám đốc không điều hành Wales Jonny Owen
Giám đốc điều hành Hy Lạp Lina Souloukou
Trưởng bộ phận bóng đá toàn cầu Brasil Edu
Cố vấn thể thao quốc tế Slovenia Miran Pavlin
Giám đốc kĩ thuật toàn cầu Hy Lạp George Syrianos
Trưởng bộ phận quản trị bóng đá Anh Taymour Roushdi
Trưởng bộ phận vận hành bóng đá Anh Ed Henderson
Trưởng bộ phận tuyển trạch Bồ Đào Nha Pedro Ferreira
Quản lí vận hành tuyển trạch toàn cầu Anh Connor Barrett
Quản lí lộ trình cầu thủ Anh Chris Brass
Trưởng bộ phận tuyển trạch PDP và tài năng mới nổi Anh Dan Kelly
Trưởng bộ phận phát triển bóng đá Scotland Craig Mulholland
Trưởng học viện Anh Chris McGuane
Giám đốc vận hành Anh Paul Bell
Giám đốc tài chính Anh Tom Bonser
Giám đốc truyền thông Anh Wendy Taylor

Cựu cầu thủ đáng chú ý

Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải

Đội hình XI mọi thời đại

Đội hình một mọi thời đại của Nottingham Forest F.C.

Năm 1997 và 1998, trong khuôn khổ phát hành cuốn sách The Official History of Nottingham Forest, một cuộc bầu chọn đã được tổ chức để quyết định đội hình XI mọi thời đại chính thức của câu lạc bộ.

Vị trí Cầu thủ Những năm tại câu lạc bộ
GK Anh Peter Shilton 1977-82
RB Anh Viv Anderson 1974-84
RCB Anh Des Walker 1984-92; 2002-04
LCB Scotland Kenny Burns 1977-81
LB Anh Stuart Pearce 1985-97
RCM Bắc Ireland Martin O'Neill 1971-81
ACM Cộng hòa Ireland Roy Keane 1990-93
LCM Scotland Archie Gemmill 1977-79
RW Anh Ian Storey-Moore 1962-72
CF Anh Trevor Francis 1979-81
LW Scotland John Robertson 1970-83; 1985-86

Năm 2016, những người sở hữu vé mùa của Nottingham Forest đã bầu chọn đội hình vĩ đại nhất của câu lạc bộ để kỉ niệm 150 năm thành lập.

Đội hình một mọi thời đại của Nottingham Forest F.C.
Vị trí Cầu thủ Những năm tại câu lạc bộ
GK Anh Peter Shilton 1977-82
RB Anh Viv Anderson 1974-83
CB Scotland Kenny Burns 1977-81
CB Anh Des Walker 1983-04
LB Anh Stuart Pearce 1985-97
RW Bắc Ireland Martin O'Neill 1971-81
CM Cộng hòa Ireland Roy Keane 1990-93
CM Scotland John McGovern 1974-81
LW Scotland John Robertson 1970-83
ST Anh Stan Collymore 1993-95
ST Anh Ian Storey-Moore 1962-72

Cầu thủ quốc tế

Đại sảnh danh vọng Premier League

Đại sảnh danh vọng Premier League tôn vinh những cầu thủ bóng đá và huấn luyện viên trưởng hàng đầu từng thi đấu và dẫn dắt tại Premier League, hạng đấu cao nhất của hệ thống bóng đá Anh. Được khởi lập vào năm 2020 nhưng bị lùi lại một năm do đại dịch COVID-19, Đại sảnh danh vọng này nhằm công nhận và tôn vinh những cầu thủ và huấn luyện viên trưởng đã đạt thành công lớn và có đóng góp đáng kể cho giải đấu kể từ khi nó được thành lập vào năm 1992. Có bốn cựu cầu thủ/huấn luyện viên trưởng gắn với Forest được vinh danh trong Đại sảnh danh vọng Premier League.

Các thành viên của Đại sảnh danh vọng bóng đá Anh

Một số cựu cầu thủ/huấn luyện viên trưởng gắn với Nottingham Forest được vinh danh trong English Football Hall of Fame, nơi được thành lập vào năm 2002 để tôn vinh những người đã đạt tới đỉnh cao nhất của bóng đá Anh. Để được xem xét đưa vào Đại sảnh danh vọng, các cầu thủ/huấn luyện viên trưởng phải từ 30 tuổi trở lên và đã thi đấu/dẫn dắt ít nhất năm năm tại Anh.

100 huyền thoại của Football League

Football League 100 Legends là danh sách "100 cầu thủ bóng đá huyền thoại" do The Football League công bố vào năm 1998 để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá giải đấu. Có bốn cựu cầu thủ gắn với Forest góp mặt trong danh sách này.

Nguồn:

Kỉ lục và thống kê

  • Số lần ra sân nhiều nhất cho câu lạc bộ (trên mọi đấu trường): 692 – Bob McKinlay (1951-1970)
  • Số bàn thắng nhiều nhất cho câu lạc bộ (trên mọi đấu trường): 217 – Grenville Morris (1898-1913)
  • Lượng khán giả cao nhất: 49.946 người, gặp Manchester United, First Division, ngày 28 tháng 10 năm 1967
  • Lượng khán giả thấp nhất: 2.031 người, gặp Brentford, Football League Trophy, ngày 31 tháng 10 năm 2006
  • Chuỗi trận thắng dài nhất tại giải: 7 trận, đạt được bốn lần, gần nhất là vào năm 1979.
  • Chuỗi trận thua dài nhất tại giải: 14 trận thua, từ ngày 21 tháng 3 năm 1913 đến ngày 27 tháng 9 năm 1913
  • Chuỗi trận bất bại dài nhất tại giải: 42 trận, từ ngày 26 tháng 11 năm 1977 đến ngày 25 tháng 11 năm 1978
  • Chuỗi trận tại giải không thắng dài nhất: 19 trận, từ ngày 8 tháng 9 năm 1998 đến ngày 16 tháng 1 năm 1999
  • Chiến thắng đậm nhất (trên mọi đấu trường): 14-0, trước Clapton (sân khách), vòng Một Cúp FA, ngày 17 tháng 1 năm 1891
  • Thất bại đậm nhất (trên mọi đấu trường): 1-9, trước Blackburn Rovers, Second Division, ngày 10 tháng 4 năm 1937
  • Số điểm nhiều nhất tại giải trong một mùa giải
    • 2 điểm cho một chiến thắng (46 trận): 70, Third Division South, 1950-51
    • 2 điểm cho một chiến thắng (42 trận): 64, First Division, 1977-78
    • 3 điểm cho một chiến thắng: 94, First Division, 1997-98
  • Số bàn thắng nhiều nhất tại giải trong một mùa giải: 110, Third Division South, 1950-51
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn nhất tại giải trong một mùa giải: Wally Ardron, 36 bàn, Third Division South, 1950-51
  • Cầu thủ có số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất: Chris Wood, 84 lần cho New Zealand
  • Cầu thủ trẻ nhất ra sân tại giải: Craig Westcarr, 16 tuổi 257 ngày, gặp Burnley, ngày 13 tháng 10 năm 2001
  • Cầu thủ lớn tuổi nhất ra sân tại giải: Dave Beasant, 42 tuổi 47 ngày, gặp Tranmere Rovers, ngày 6 tháng 5 năm 2001
  • Mức phí chuyển nhượng cao nhất từng chi: 37.500.000 bảng Anh cho Ipswich Town để chiêu mộ Omari Hutchinson
  • Mức phí chuyển nhượng cao nhất từng thu về: 55.000.000 bảng Anh từ Newcastle United cho Anthony Elanga

Danh hiệu

nguồn:

Trong nước

Giải vô địch

Cúp

Châu Âu

Các danh hiệu nhỏ

Các đội khác của NFFC

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Những đội khác là Liverpool năm 1906, Everton năm 1932, Tottenham Hotspur năm 1951 và Ipswich Town năm 1962. Forest vẫn là câu lạc bộ duy nhất làm được điều này mà không thăng hạng với tư cách vô địch.
  2. ^ Ba người còn lại là Tom Watson, Herbert ChapmanKenny Dalglish.
  3. ^ Từ năm 1888 đến năm 1992, Football League First Division là hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Giải đấu này được thay thế bởi Premier League vào năm 1992.
  4. ^ Khi ra đời vào năm 1992, Premier League trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; First DivisionSecond Division sau đó lần lượt trở thành hạng Hai và hạng Ba. First Division hiện nay được biết đến với tên gọi EFL Championship còn Second Division hiện nay là EFL League One.

Tham khảo

Tài liệu được dẫn

Liên kết ngoài

Các trang web độc lập

Bản mẫu:Nottingham Forest F.C. Bản mẫu:Mùa giải Nottingham Forest F.C.

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0