Quay lại

Vykintas Slivka

Số áo #14

Midfielder

Quốc tịch Flag Lithuania
Tuổi 31
Chiều cao 6' 2"
Cân nặng 179 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Kauno Zalgiris

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Bóng đá Anh
Mùa giải2016-17
Bóng đá nam
Premier LeagueChelsea
ChampionshipNewcastle United
League OneSheffield United
League TwoPortsmouth
National LeagueLincoln City
Cúp FAArsenal
EFL TrophyCoventry City
Cúp EFLManchester United
Community ShieldManchester United
Bóng đá nữ
WSL 1Chelsea
WSL 2Everton
FA Women's Premier LeagueTottenham Hotspur
Women's FA CupManchester City
← 2015-16 Anh 2017-18 →

Mùa giải 2016-17 là mùa giải thi đấu bóng đá thứ 137 tại Anh.

Đội tuyển quốc gia

Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh

Lịch thi đấu và kết quả

2016
2017
Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 – Khu vực châu Âu (Bảng F)

Dưới đây là kết quả các trận đấu trong khuôn khổ bảng F – vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2018 khu vực châu Âu.

Bảng F bao gồm 6 đội: Anh, Slovakia, Scotland, Slovenia, Litva, Malta, thi đấu trong hai năm 2016 và 2017, theo thể thức lượt đi-lượt về, vòng tròn tính điểm, lấy đội đầu bảng tham gia vòng chung kết.

Bảng xếp hạng

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Anh 10 8 2 0 18 3 +15 26 Vượt qua vòng loại vào
FIFA World Cup 2018
— 2–1 3–0 1–0 2–0 2–0
2  Slovakia 10 6 0 4 17 7 +10 18 0–1 — 3–0 1–0 4–0 3–0
3  Scotland 10 5 3 2 17 12 +5 18 2–2 1–0 — 1–0 1–1 2–0
4  Slovenia 10 4 3 3 12 7 +5 15 0–0 1–0 2–2 — 4–0 2–0
5  Litva 10 1 3 6 7 20 −13 6 0–1 1–2 0–3 2–2 — 2–0
6  Malta 10 0 1 9 3 25 −22 1 0–4 1–3 1–5 0–1 1–1 —
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng loại

Các trận đấu

Lịch thi đấu của bảng F đã được quyết định sau cuộc họp tại Sankt-Peterburg, Nga vào ngày 26 tháng 7 năm 2015. Giờ địa phương là CET/CEST, như được liệt kê bởi UEFA (giờ địa phương trong ngoặc đơn).

Litva 2–2 Slovenia
Černych  32'
Slivka  34'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Krhin  77'
Cesar  90+3'
Slovakia 0–1 Anh
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Lallana  90+5'
Malta 1–5 Scotland
Effiong  14' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Snodgrass  10', 61' (ph.đ.), 84'
C. Martin  53'
S. Fletcher  78'

Anh 2–0 Malta
Sturridge  29'
Alli  38'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Scotland 1–1 Litva
McArthur  89' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Černych  59'
Khán giả: 35,966
Trọng tài: Tobias Stieler (Đức)
Slovenia 1–0 Slovakia
Kronaveter  74' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 10,492
Trọng tài: Nicola Rizzoli (Ý)

Litva 2–0 Malta
Černych  76'
Novikovas  84' (ph.đ.)
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Slovakia 3–0 Scotland
Mak  18', 56'
Nemec  68'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Slovenia 0–0 Anh
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 13,274
Trọng tài: Deniz Aytekin (Đức)

Anh 3–0 Scotland
Sturridge  24'
Lallana  50'
Cahill  61'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Malta 0–1 Slovenia
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Verbič  47'
Slovakia 4–0 Litva
Nemec  12'
Kucka  15'
Škrtel  36'
Hamšík  86'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)

Anh 2–0 Litva
Defoe  22'
Vardy  66'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 77,690
Trọng tài: Ruddy Buquet (Pháp)
Malta 1–3 Slovakia
Farrugia  14' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Weiss  2'
Greguš  41'
Nemec  84'
Scotland 1–0 Slovenia
C. Martin  88' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 20,435
Trọng tài: Björn Kuipers (Hà Lan)

Scotland 2–2 Anh
Griffiths  87', 90' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Oxlade-Chamberlain  70'
Kane  90+3'
Khán giả: 48,520
Trọng tài: Paolo Tagliavento (Ý)
Slovenia 2–0 Malta
Iličić  45+2'
Novaković  84'
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Litva 1–2 Slovakia
Šernas  90+3' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Weiss  32'
Hamšík  58'

Litva 0–3 Scotland
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Malta 0–4 Anh
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Slovakia 1–0 Slovenia
Nemec  81' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)

Anh 2–1 Slovakia
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Lobotka  3'
Khán giả: 67,823
Trọng tài: Clément Turpin (Pháp)
Scotland 2–0 Malta
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 26,371
Trọng tài: Jakob Kehlet (Đan Mạch)
Slovenia 4–0 Litva
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)

Anh 1–0 Slovenia
Kane  90+4' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 61,598
Trọng tài: Felix Zwayer (Đức)
Malta 1–1 Litva
Agius  23' Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Slivka  53'
Scotland 1–0 Slovakia
Škrtel  89' (l.n.) Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Khán giả: 46,773
Trọng tài: Milorad Mažić (Serbia)

Litva 0–1 Anh
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Kane  26' (ph.đ.)
Khán giả: 5,067
Trọng tài: Orel Grinfeeld (Israel)
Slovakia 3–0 Malta
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)
Slovenia 2–2 Scotland
Chi tiết (FIFA)
Chi tiết (UEFA)

Danh sách cầu thủ ghi bàn

5 bàn
4 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
Phản lưới nhà

Thẻ phạt

Cầu thủ Đội tuyển Trận bị thẻ phạt Treo giò
Mišo Brečko  Slovenia Thẻ đỏ v Ukraina ở vòng loại Euro 2016 (17 tháng 11 năm 2015) v Litva (4 tháng 9 năm 2016)
Martin Škrtel  Slovakia Thẻ vàng Thẻ vàng-đỏ (thẻ đỏ gián tiếp) v Anh (4 tháng 9 năm 2016) v Slovenia (8 tháng 10 năm 2016)
Jonathan Caruana  Malta Thẻ đỏ v Scotland (4 tháng 9 năm 2016) v Anh (8 tháng 10 năm 2016)
Luke Gambin  Malta Thẻ đỏ v Scotland (4 tháng 9 năm 2016) v Anh (8 tháng 10 năm 2016)
Tomáš Hubočan  Slovakia Thẻ vàng v Anh (4 tháng 9 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovenia (8 tháng 10 năm 2016)
v Scotland (11 tháng 10 năm 2016)
Jonathan Caruana  Malta Thẻ đỏ v Litva (11 tháng 10 năm 2016) v Slovenia (11 tháng 11 năm 2016)
Aljaž Struna  Slovenia Thẻ vàng v Slovakia (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Anh (11 tháng 10 năm 2016)
v Malta (11 tháng 11 năm 2016)
Gary Cahill  Anh Thẻ vàng v Slovenia (11 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Scotland (11 tháng 11 năm 2016)
v Litva (26 tháng 3 năm 2017)
Georgas Freidgeimas  Litva Thẻ vàng v Scotland (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovakia (11 tháng 11 năm 2016)
v Anh (26 tháng 3 năm 2017)
Andrei Agius  Malta Thẻ vàng v Litva (11 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovenia (11 tháng 11 năm 2016)
v Slovakia (26 tháng 3 năm 2017)
Egidijus Vaitkūnas  Litva Thẻ vàng v Scotland (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Anh (26 tháng 3 năm 2017)
v Slovakia (10 tháng 6 năm 2017)
Artūras Žulpa  Litva Thẻ vàng v Slovenia (4 tháng 9 năm 2016)
Thẻ vàng v Anh (26 tháng 3 năm 2017)
v Slovakia (10 tháng 6 năm 2017)
Jean Paul Farrugia  Malta Thẻ đỏ v Slovakia (26 tháng 3 năm 2017) v Slovenia (10 tháng 6 năm 2017)
Juraj Kucka  Slovakia Thẻ vàng v Slovenia (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Malta (26 tháng 3 năm 2017)
v Litva (10 tháng 6 năm 2017)
Adam Nemec  Slovakia Thẻ vàng Thẻ vàng-đỏ (thẻ đỏ gián tiếp) v Malta (26 tháng 3 năm 2017) v Litva (10 tháng 6 năm 2017)
Valter Birsa  Slovenia Thẻ vàng v Anh (11 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Scotland (26 tháng 3 năm 2017)
v Malta (10 tháng 6 năm 2017)
Boštjan Cesar  Slovenia Thẻ vàng v Slovakia (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Scotland (26 tháng 3 năm 2017)
v Malta (10 tháng 6 năm 2017)
Miral Samardžić  Slovenia Thẻ vàng v Litva (4 tháng 9 năm 2016)
Thẻ vàng v Scotland (26 tháng 3 năm 2017)
v Malta (10 tháng 6 năm 2017)
Eric Dier  Anh Thẻ vàng v Slovenia (11 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Scotland (10 tháng 6 năm 2017)
v Malta (1 tháng 9 năm 2017)
Alfred Effiong  Malta Thẻ vàng v Scotland (4 tháng 9 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovenia (10 tháng 6 năm 2017)
v Anh (1 tháng 9 năm 2017)
Paul Fenech  Malta Thẻ vàng v Scotland (4 tháng 9 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovenia (10 tháng 6 năm 2017)
v Anh (1 tháng 9 năm 2017)
Nerijus Valskis  Litva Thẻ vàng v Malta (11 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Slovakia (10 tháng 6 năm 2017)
v Scotland (1 tháng 9 năm 2017)
Ján Ďurica  Slovakia Thẻ vàng v Slovenia (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Litva (10 tháng 6 năm 2017)
v Slovenia (1 tháng 9 năm 2017)
Martin Škrtel  Slovakia Thẻ vàng v Malta (26 tháng 3 năm 2017)
Thẻ vàng v Litva (10 tháng 6 năm 2017)
v Slovenia (1 tháng 9 năm 2017)
Linas Klimavičius  Litva Thẻ vàng v Slovakia (10 tháng 6 năm 2017)
Thẻ vàng v Slovenia (1 tháng 9 năm 2017)
v Malta (5 tháng 10 năm 2017)
Darvydas Šernas  Litva Thẻ vàng v Slovakia (10 tháng 6 năm 2017)
Thẻ vàng v Slovenia (1 tháng 9 năm 2017)
v Malta (5 tháng 10 năm 2017)
Ryan Fenech  Malta Thẻ vàng v Slovenia (10 tháng 6 năm 2017)
Thẻ vàng v Scotland (4 tháng 9 năm 2017)
v Litva (5 tháng 10 năm 2017)
Milan Škriniar  Slovakia Thẻ vàng v Litva (10 tháng 6 năm 2017)
Thẻ vàng v Anh (4 tháng 9 năm 2017)
v Scotland (5 tháng 10 năm 2017)
Mantas Kuklys  Litva Thẻ vàng v Scotland (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Malta (5 tháng 10 năm 2017)
v Anh (8 tháng 10 năm 2017)
Zach Muscat  Malta Thẻ vàng v Slovenia (11 tháng 11 năm 2016)
Thẻ vàng v Litva (5 tháng 10 năm 2017)
v Slovakia (8 tháng 10 năm 2017)
Róbert Mak  Slovakia Thẻ vàng Thẻ vàng-đỏ (thẻ đỏ gián tiếp) v Scotland (5 tháng 10 năm 2017) v Malta (8 tháng 10 năm 2017)
Valter Birsa  Slovenia Thẻ vàng v Slovakia (1 tháng 9 năm 2017)
Thẻ vàng v Anh (5 tháng 10 năm 2017)
v Scotland (8 tháng 10 năm 2017)
Rene Krhin  Slovenia Thẻ vàng v Slovakia (8 tháng 10 năm 2016)
Thẻ vàng v Anh (5 tháng 10 năm 2017)
v Scotland (8 tháng 10 năm 2017)

Chú thích

Tham khảo

Liên kết ngoài

Bản mẫu:2018 FIFA World Cup qualification tiebreakers

Thay đổi huấn luyện viên

Huấn luyện viên ra đi Hình thức ra đi Ngày ra đi Huấn luyện viên đến Ngày bổ nhiệm
Anh Roy Hodgson Từ chức 27 tháng 6 năm 2016 Anh Sam Allardyce 27 tháng 6 năm 2016
Anh Sam Allardyce Resigned 26 tháng 9 năm 2016 Anh Gareth Southgate 30 tháng 11 năm 2016

Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Anh

Lịch thi đấu và kết quả

2016
2017

Vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2017 (Bảng 7)

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Anh 8 7 1 0 32 1 +31 22 Vòng chung kết — 1–1 7–0 1–0 5–0
2  Bỉ 8 5 2 1 27 5 +22 17 0–2 — 1–1 6–0 6–0
3  Serbia 8 3 1 4 10 21 −11 10 0–7 1–3 — 0–1 3–0
4  Bosna và Hercegovina 8 3 0 5 8 17 −9 9 0–1 0–5 2–4 — 4–0
5  Estonia 8 0 0 8 0 33 −33 0 0–8 0–5 0–1 0–1 —
Nguồn: UEFA

Giải đấu UEFA

UEFA Champions League

Vòng play-off

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Steaua București România 0-6 Anh Manchester City 0-5 0-1

Vòng bảng

Bảng A

Vòng bảng UEFA Champion League 2016-17 bắt đầu vào ngày 13 tháng 9 và kết thúc vào ngày 7 tháng 12 năm 2016. Tổng số 32 đội cạnh tranh trong giai đoạn này để chọn ra đội lọt vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Champions League 2016-17.

Lễ bốc thăm chia bảng

Lễ bốc thăm được tổ chức vào ngày 25 tháng 8 năm 2016, 18:00 giờ mùa hè Trung Âu, tại Grimaldi Forum, Monaco. 32 đội được phân thành các nhóm bốn đội, với quy tắc là các đội từ cùng một hiệp hội sẽ không cùng bảng với nhau. Các đội được chia thành bốn nhóm hạt giống vào bốn lọ bốc thăm dựa trên những nguyên tắc sau đây:

  • Lọ 1 chứa đội đương kim giữ cúp và những nhà vô địch của 7 giải đấu hàng đầu dựa trên hệ số  hệ số quốc gia UEFA năm 2015 của họ.
  • Lọ 2, 3 và 4 chứa các đội còn lại, được phân hạt giống dựa trên hệ số hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2016 của họ.

Thêm vào đó, lễ bốc thăm được kiểm soát sao cho các đội từ cùng một liên đoàn bóng đá quốc gia được chia đều thành hai nhóm bảng đấu (A–D, E–H) nhằm mục đích tối đa hóa việc phát sóng truyền hình.

Tại mỗi lượt trận, bốn bảng đấu thi đấu vào thứ ba, trong khi bốn bảng còn lại thi đấu vào thứ tư. Thứ tự thi đấu thay đổi xen kẽ giữa mỗi lượt trận. Có một số quy định khác: ví dụ, đội từ cùng một thành phố (ví dụ như, Real Madrid và Atlético Madrid) không chơi trên sân nhà trong cùng một lượt trận (UEFA cố gắng để tránh các đội từ cùng một thành phố chơi trên sân nhà trong cùng một ngày hoặc hai ngày liên tiếp, vì lý do hậu cần và kiểm soát cổ động viên), và đội thuộc một số quốc gia (ví dụ như Nga, Kazakhstan, Belarus) không đá trận sân nhà vào lượt trận cuối vòng bảng (do thời tiết giá lạnh và quy định tất cả các trận đấu diễn ra cùng giờ).

Ngày 17 tháng 7 năm 2014, UEFA quyết định rằng các câu lạc bộ Ukraina và Nga sẽ không được thi đấu với nhau "cho đến khi có thông báo" do tình trạng chính trị bất ổn giữa 2 quốc gia. Vì vậy, Dynamo Kiev (Nhóm 3) và CSKA Moskva (Nhóm 1) và Rostov (Nhóm 4) không thể nằm chung cùng một bảng.

Các đội

Dưới đây là các đội tham gia (với họ hệ số 2016 của đội bóng đó), được phân vào các bảng theo các nhóm hạt giống. Các đội này bao gồm 22 đội vào thẳng vòng bảng, và 10 đội chiến thắng của các vòng loại (5 đội thuộc Champinos Route, 5 đội thuộc League Route).

Chú thích màu sắc
Đội nhất và nhì bảng tiến vào vòng 1/16
Đội hạng ba tiến vào vòng 32 đội Europa League
Tất cả các đội khác bị loại
Nhóm 1 (theo hạng liên đoàn)
Đội Hệ số
Tây Ban Nha Real Madrid 176.142
Tây Ban Nha Barcelona 159.142
Anh Leicester City 15.256
Đức Bayern München 163.035
Ý Juventus 107.087
Bồ Đào Nha Benfica 116.616
Pháp Paris Saint-Germain 112.549
Nga CSKA Moskva 48.716
Nhóm 2
Đội Hệ số
Tây Ban Nha Atlético Madrid 144.142
Đức Borussia Dortmund 110.035
Anh Arsenal 105.256
Anh Manchester City 99.256
Tây Ban Nha Sevilla 95.642
Bồ Đào Nha Porto 92.616
Ý Napoli 90.087
Đức Bayer Leverkusen 89.035
Nhóm 3
Đội Hệ số
Thụy Sĩ Basel 87.755
Anh Tottenham Hotspur 74.256
Ukraina Dynamo Kiev 65.976
Pháp Lyon 63.049
Hà Lan PSV Eindhoven 57.112
Bồ Đào Nha Sporting CP 51.616
Bỉ Club Brugge 43.000
Đức Borussia Mönchengladbach 42.035
Nhóm 4
Đội Hệ số
Scotland Celtic 40.460
Pháp Monaco 36.549
Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş 34.920
Ba Lan Legia Warszawa 28.000
Croatia Dinamo Zagreb 25.775
Bulgaria Ludogorets Razgrad 25.625
Đan Mạch Copenhagen 24.720
Nga Rostov 11.716
Ghi chú

Thể thức

Tiêu chí xếp hạng

Các đội được xếp hạng theo điểm số (3 điểm cho một chiến thắng, 1 điểm cho một trận hòa, 0 điểm cho một trận thua). Nếu hai hay nhiều đội bằng điểm với nhau, các tiêu chí sau đây được áp dụng để xác định thứ hạng (điều 17.01):

  1. số điểm cao hơn trong các trận vòng bảng giữa hai đội
  2. hiệu số bàn thắng thua cao hơn trong các trận vòng bảng giữa hai đội
  3. số bàn thắng ghi được cao hơn trong các trận vòng bảng giữa hai đội
  4. sô bàn thắng sân khách cao hơn trong các trận vòng bảng giữa hai đội
  5. nếu sau khi việc áp dụng các tiêu chí 1 đến 4, các đội vẫn bằng nhau về thứ hạng, các tiêu chí 1 đến 4 được áp dụng dành riêng cho những trận đấu giữa các đội bóng liên quan để xác định thứ hạng chung cuộc. Nếu thủ tục này không thể phân định thứ hạng, áp dụng các tiêu chí 6 đến 12;
  6. hiệu số bàn thắng cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  7. số bàn thắng được ghi cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  8. số bàn thắng sân khách ghi được cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  9. số trận thắng cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  10. số trận thắng sân khách cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  11. tổng điểm kỷ luật thấp hơn dựa trên số thẻ vàng và đỏ phải nhận được trong tất cả các trận đấu vòng bảng (thẻ đỏ = 3 điểm, thẻ vàng = 1 điểm, bị truất quyền thi đấu do hai thẻ vàng = 3 điểm)
  12. hệ số câu lạc bộ cao hơn.

Các bảng đấu

Các lượt trận diễn ra vào các ngày 13–14 tháng 9, 27–28 tháng 9 năm 18–19 tháng 10, 1–2 tháng 11, 22 và 23 tháng mười một, và 6–7 tháng 12 năm 2016. Các trận đấu bắt đầu vào lúc 20:45 giờ CEST/CET, trừ trận đấu ở lượt trận thứ 5 tại Nga diễn ra vào lúc 18:00 CET.

Thời gian thi đấu tới ngày 29 tháng 10 năm 2016 (các lượt trận 1–3) tính theo giờ CEST (UTC+2), các trận về sau (lượt trận 4 đến 6) múi giờ là CET (UTC+1).

Group A

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Anh Arsenal 6 4 2 0 18 6 +12 14 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Pháp Paris Saint-Germain 6 3 3 0 13 7 +6 12
3 Bulgaria Ludogorets Razgrad 6 0 3 3 6 15 −9 3 Chuyển qua Europa League
4 Thụy Sĩ Basel 6 0 2 4 3 12 −9 2
Nguồn: UEFA
Paris Saint-Germain Pháp1–1Anh Arsenal
Cavani  1' Chi tiết Sánchez  78'
Basel Thụy Sĩ1–1Bulgaria Ludogorets Razgrad
Steffen  80' Chi tiết Jonathan Cafu  45'
Khán giả: 30,852
Trọng tài: Aleksei Kulbakov (Belarus)

Ludogorets Razgrad Bulgaria1–3Pháp Paris Saint-Germain
Natanael  16' Chi tiết Matuidi  41'
Cavani  56', 60'
Arsenal Anh2–0Thụy Sĩ Basel
Walcott  7', 26' Chi tiết
Khán giả: 59,993
Trọng tài: Danny Makkelie (Netherlands)

Arsenal Anh6–0Bulgaria Ludogorets Razgrad
Sánchez  13'
Walcott  42'
Chamberlain  46'
Özil  56', 83', 87'
Chi tiết
Khán giả: 59,944
Trọng tài: Artur Soares Dias (Portugal)
Paris Saint-Germain Pháp3–0Thụy Sĩ Basel
Di María  40'
Lucas  62'
Cavani  90+3' (ph.đ.)
Chi tiết

Ludogorets Razgrad Bulgaria2–3Anh Arsenal
Jonathan Cafu  12'
Keșerü  15'
Chi tiết Xhaka  20'
Giroud  42'
Özil  88'
Khán giả: 30,862
Trọng tài: Bas Nijhuis (Nethelands)
Basel Thụy Sĩ1–2Pháp Paris Saint-Germain
Zuffi  76' Chi tiết Matuidi  43'
Meunier  90'
Khán giả: 34,639
Trọng tài: Ovidiu Hațegan (Romania)

Arsenal Anh2–2Pháp Paris Saint-Germain
Giroud  45+1' (ph.đ.)
Verratti  60' (l.n.)
Chi tiết Cavani  18'
Iwobi  77' (l.n.)
Khán giả: 59,628
Trọng tài: Felix Brych (Germany)
Ludogorets Razgrad Bulgaria0–0Thụy Sĩ Basel
Chi tiết
Khán giả: 20,821
Trọng tài: Martin Atkinson (England)

Paris Saint-Germain Pháp2–2Bulgaria Ludogorets Razgrad
Cavani  61'
Di María  90+2'
Chi tiết Misidjan  15'
Wanderson  69'
Basel Thụy Sĩ1–4Anh Arsenal
Doumbia  78' Chi tiết Pérez  8', 16', 47'
Iwobi  53'
Khán giả: 36,000
Trọng tài: Jorge Sousa (Portugal)

Group B

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Ý Napoli 6 3 2 1 11 8 +3 11 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Bồ Đào Nha Benfica 6 2 2 2 10 10 0 8
3 Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş 6 1 4 1 9 14 −5 7 Chuyển qua Europa League
4 Ukraina Dynamo Kyiv 6 1 2 3 8 6 +2 5
Nguồn: UEFA
Dynamo Kyiv Ukraina1–2Ý Napoli
Harmash  26' Chi tiết Milik  36', 45+2'
Khán giả: 35,137
Trọng tài: Willie Collum (Scotland)
Benfica Bồ Đào Nha1–1Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş
Cervi  12' Chi tiết Talisca  90+3'
Khán giả: 42.126
Trọng tài: Milorad Mažić (Serbia)

Beşiktaş Thổ Nhĩ Kỳ1–1Ukraina Dynamo Kyiv
Quaresma  29' Chi tiết Tsyhankov  65'
Khán giả: 33,938
Trọng tài: Felix Zwayer (Germany)
Napoli Ý4–2Bồ Đào Nha Benfica
Hamšík  20'
Mertens  51', 58'
Milik  54' (ph.đ.)
Chi tiết Guedes  70'
Salvio  86'
Khán giả: 41.281
Trọng tài: Felix Brych (Germany)

Napoli Ý2–3Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş
Mertens  30'
Gabbiadini  69' (ph.đ.)
Chi tiết Adriano  12'
Aboubakar  38', 86'
Khán giả: 28.502
Trọng tài: Sergei Karasev (Russia)
Dynamo Kyiv Ukraina0–2Bồ Đào Nha Benfica
Chi tiết Salvio  9' (ph.đ.)
Cervi  55'
Khán giả: 25,991

Beşiktaş Thổ Nhĩ Kỳ1–1Ý Napoli
Quaresma  79' (ph.đ.) Chi tiết Hamšík  82'
Khán giả: 35,552
Trọng tài: Mark Clattenburg (England)
Benfica Bồ Đào Nha1–0Ukraina Dynamo Kyiv
Salvio  45+2' (ph.đ.) Chi tiết
Khán giả: 51.641
Trọng tài: Clément Turpin (France)

Beşiktaş Thổ Nhĩ Kỳ3–3Bồ Đào Nha Benfica
Tosun  58'
Quaresma  83' (ph.đ.)
Aboubakar  89'
Chi tiết Guedes  10'
Semedo  25'
Fejsa  31'
Khán giả: 36,063
Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia)
Napoli Ý0–0Ukraina Dynamo Kyiv
Chi tiết
Khán giả: 33.736
Trọng tài: Ovidiu Hațegan (Romania)

Dynamo Kyiv Ukraina6–0Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş
Besyedin  9'
Yarmolenko  30' (ph.đ.)
Buyalskyi  32'
González  45+3'
Sydorchuk  60'
Júnior Moraes  77'
Chi tiết
Khán giả: 14,036
Trọng tài: Craig Thomson (Scotland)
Benfica Bồ Đào Nha1–2Ý Napoli
Jiménez  87' Chi tiết Callejón  60'
Mertens  79'

Group C

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Tây Ban Nha Barcelona 6 5 0 1 20 4 +16 15 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Anh Manchester City 6 2 3 1 12 10 +2 9
3 Đức Borussia Mönchengladbach 6 1 2 3 5 12 −7 5 Chuyển qua Europa League
4 Scotland Celtic 6 0 3 3 5 16 −11 3
Nguồn: UEFA
Barcelona Tây Ban Nha7–0Scotland Celtic
Messi  3', 27', 60'
Neymar  50'
Iniesta  59'
Suárez  75', 88'
Chi tiết
Khán giả: 73,290
Trọng tài: Ovidiu Hațegan (Romania)
Manchester City Anh4–0Đức Borussia Mönchengladbach
Agüero  9', 28' (ph.đ.), 77'
Iheanacho  90+1'
Chi tiết

Borussia Mönchengladbach Đức1–2Tây Ban Nha Barcelona
Hazard  34' Chi tiết Turan  65'
Piqué  74'
Khán giả: 46,283
Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia)
Celtic Scotland3–3Anh Manchester City
Dembélé  3', 47'
Sterling  20' (l.n.)
Chi tiết Fernandinho  12'
Sterling  28'
Nolito  55'
Khán giả: 57,592
Trọng tài: Nicola Rizzoli (Italy)

Celtic Scotland0–2Đức Borussia Mönchengladbach
Chi tiết Stindl  57'
Hahn  77'
Khán giả: 57,814
Barcelona Tây Ban Nha4–0Anh Manchester City
Messi  17', 61', 69'
Neymar  89'
Chi tiết
Khán giả: 96,290
Trọng tài: Milorad Mažić (Serbia)

Borussia Mönchengladbach Đức1–1Scotland Celtic
Stindl  32' Chi tiết Dembélé  76' (ph.đ.)
Khán giả: 46,283
Trọng tài: Jorge Sousa (Portugal)
Manchester City Anh3–1Tây Ban Nha Barcelona
Gündoğan  39', 74'
De Bruyne  51'
Chi tiết Messi  21'
Khán giả: 53,340
Trọng tài: Viktor Kassai (Hungary)

Celtic Scotland0–2Tây Ban Nha Barcelona
Chi tiết Messi  24', 56' (ph.đ.)
Khán giả: 57,937
Trọng tài: Daniele Orsato (Italy)
Borussia Mönchengladbach Đức1–1Anh Manchester City
Raffael  23' Chi tiết Silva  45+1'
Khán giả: 45,921
Trọng tài: Cüneyt Çakır (Turkey)

Barcelona Tây Ban Nha4–0Đức Borussia Mönchengladbach
Messi  16'
Turan  50', 53', 67'
Chi tiết
Khán giả: 67,157
Trọng tài: Sergei Karasev (Russia)
Manchester City Anh1–1Scotland Celtic
Iheanacho  8' Chi tiết Roberts  4'

Bảng D

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Tây Ban Nha Atlético Madrid 6 5 0 1 7 2 +5 15 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Đức Bayern Munich 6 4 0 2 14 6 +8 12
3 Nga Rostov 6 1 2 3 6 12 −6 5 Chuyển qua Europa League
4 Hà Lan PSV Eindhoven 6 0 2 4 4 11 −7 2
Nguồn: UEFA
Bayern München Đức5–0Nga Rostov
Lewandowski  28' (ph.đ.)
Müller  45+2'
Kimmich  53', 60'
Bernat  90'
Chi tiết
Khán giả: 70,000
Trọng tài: Anthony Taylor (England)
Bayern München
Rostov
PSV Eindhoven Hà Lan0–1Tây Ban Nha Atlético Madrid
Chi tiết Saúl  43'
Khán giả: 33,989
Trọng tài: Martin Atkinson (England)
PSV Eindhoven
Atlético Madrid

Atlético Madrid Tây Ban Nha1–0Đức Bayern München
Carrasco  35' Chi tiết
Khán giả: 48,242
Trọng tài: Szymon Marciniak (Poland)
Atlético Madrid
Bayern München
Rostov Nga2–2Hà Lan PSV Eindhoven
Poloz  9', 38' Chi tiết Pröpper  14'
L. de Jong  45+1'
Khán giả: 12,646
Trọng tài: Clément Turpin (France)
Rostov
PSV Eindhoven

Bayern München Đức4–1Hà Lan PSV Eindhoven
Müller  13'
Kimmich  21'
Lewandowski  59'
Robben  84'
Chi tiết Narsingh  41'
Khán giả: 70,000
Trọng tài: Willie Collum (Scotland)
Bayern München
PSV Eindhoven
Rostov Nga0–1Tây Ban Nha Atlético Madrid
Chi tiết Carrasco  62'
Khán giả: 15,400
Trọng tài: Daniele Orsato (Italy)
Rostov
Atlético Madrid

PSV Eindhoven Hà Lan1–2Đức Bayern München
Arias  14' Chi tiết Lewandowski  34' (ph.đ.), 74'
Khán giả: 35,000
Trọng tài: Gianluca Rocchi (Italy)
PSV Eindhoven
Bayern München
Atlético Madrid Tây Ban Nha2–1Nga Rostov
Griezmann  28', 90+3' Chi tiết Azmoun  30'
Khán giả: 40,392
Trọng tài: Craig Thomson (Scotland)
Atlético Madrid
Rostov

Rostov NgavĐức Bayern München
Chi tiết
Atlético Madrid Tây Ban NhavHà Lan PSV Eindhoven
Chi tiết

Bayern München ĐứcvTây Ban Nha Atlético Madrid
Chi tiết
PSV Eindhoven Hà LanvNga Rostov
Chi tiết

Bảng E

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Pháp Monaco 6 3 2 1 9 7 +2 11 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Đức Bayer Leverkusen 6 2 4 0 8 4 +4 10
3 Anh Tottenham Hotspur 6 2 1 3 6 6 0 7 Chuyển qua Europa League
4 Nga CSKA Moscow 6 0 3 3 5 11 −6 3
Nguồn: UEFA
Tottenham Hotspur Anh1–2Pháp AS Monaco
Alderweireld  45' Chi tiết Silva  16'
Lemar  31'
Khán giả: 85,011
Trọng tài: Gianluca Rocchi (Italy)
Bayer Leverkusen Đức2–2Nga CSKA Moscow
Mehmedi  9'
Çalhanoğlu  15'
Chi tiết Dzagoev  36'
Eremenko  38'
Khán giả: 23,459
Trọng tài: Daniele Orsato (Italy)

CSKA Moscow Nga0–1Anh Tottenham Hotspur
Chi tiết Son Heung-min  71'
Khán giả: 26,153
Trọng tài: Antonio Mateu Lahoz (Spain)
AS Monaco Pháp1–1Đức Bayer Leverkusen
Glik  90+4' Chi tiết Hernández  73'
Khán giả: 8,100

CSKA Moscow Nga1–1Pháp AS Monaco
Traoré  34' Chi tiết Silva  87'
Khán giả: 24,125
Bayer Leverkusen Đức0–0Anh Tottenham Hotspur
Chi tiết
Khán giả: 28,887
Trọng tài: Cüneyt Çakır (Turkey)

Tottenham Hotspur Anh0–1Đức Bayer Leverkusen
Chi tiết Kampl  65'
Khán giả: 85,512
Trọng tài: Jonas Eriksson (Sweden)
AS Monaco Pháp3–0Nga CSKA Moscow
Germain  13'
Falcao  29', 41'
Chi tiết
Khán giả: 10,029
Trọng tài: Matej Jug (Slovenia)

CSKA Moscow NgavĐức Bayer Leverkusen
Chi tiết
AS Monaco PhápvAnh Tottenham Hotspur
Chi tiết

Bayer Leverkusen ĐứcvPháp AS Monaco
Chi tiết
Tottenham Hotspur AnhvNga CSKA Moscow
Chi tiết
Notes
  1. ^ a b c
    Tottenham Hotspur play their home matches at Wembley Stadium, London instead of their regular stadium, White Hart Lane, London, due to renovation.

Bảng F

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự DOR RM LEG SPO
1 Đức Borussia Dortmund 6 4 2 0 21 9 +12 14 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp — 2–2 8–4 1–0
2 Tây Ban Nha Real Madrid 6 3 3 0 16 10 +6 12 2–2 — 5–1 2–1
3 Ba Lan Legia Warsaw 6 1 1 4 9 24 −15 4 Chuyển qua Europa League 0–6 3–3 — 1–0
4 Bồ Đào Nha Sporting CP 6 1 0 5 5 8 −3 3 1–2 1–2 2–0 —
Nguồn: UEFA
Real Madrid Tây Ban Nha2–1Bồ Đào Nha Sporting CP
Ronaldo  89'
Morata  90+4'
Chi tiết Bruno César  48'
Khán giả: 72,179
Trọng tài: Paolo Tagliavento (Italy)
Legia Warsaw Ba Lan0–6Đức Borussia Dortmund
Chi tiết Götze  7'
Papastathopoulos  15'
Bartra  17'
Raphaël Guerreiro  51'
Castro  76'
Aubameyang  87'
Khán giả: 27,304
Trọng tài: Sergei Karasev (Russia)

Sporting CP Bồ Đào Nha2–0Ba Lan Legia Warsaw
B. Ruiz  28'
Dost  37'
Chi tiết
Khán giả: 40,094
Trọng tài: Michael Oliver (England)
Borussia Dortmund Đức2–2Tây Ban Nha Real Madrid
Aubameyang  43'
Schürrle  87'
Chi tiết Ronaldo  17'
Varane  68'
Khán giả: 65,849
Trọng tài: Mark Clattenburg (England)

Sporting CP Bồ Đào Nha1–2Đức Borussia Dortmund
Bruno César  67' Chi tiết Aubameyang  9'
Weigl  43'
Khán giả: 46,609
Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia)
Real Madrid Tây Ban Nha5–1Ba Lan Legia Warsaw
Bale  16'
Jodłowiec  20' (l.n.)
Asensio  37'
Vázquez  68'
Morata  85'
Chi tiết Radović  22' (ph.đ.)
Khán giả: 70,251
Trọng tài: Ruddy Buquet (France)

Borussia Dortmund Đức1–0Bồ Đào Nha Sporting CP
Ramos  12' Chi tiết
Khán giả: 65,849
Trọng tài: Danny Makkelie (Netherlands)
Legia Warsaw Ba Lan3–3Tây Ban Nha Real Madrid
Odjidja-Ofoe  40'
Radović  58'
Moulin  83'
Chi tiết Bale  1'
Benzema  35'
Kovačić  85'

Sporting CP Bồ Đào Nha1–2Tây Ban Nha Real Madrid
Chi tiết
Borussia Dortmund Đức8–4Ba Lan Legia Warsaw
Kagawa  17', 18'
Nuri Şahin  20'
Dembélé  29'
Reus  32', 52', 90+2'
Passlack  81'
Chi tiết Prijović  10', 24'
Kucharczyk  57'
Nikolić  83'

Real Madrid Tây Ban NhavĐức Borussia Dortmund
Chi tiết
Legia Warsaw Ba LanvBồ Đào Nha Sporting CP
Chi tiết
Notes
  1. ^
    The Legia Warsaw v Real Madrid match will be played behind closed doors due to punishment by UEFA.

Group G

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Anh Leicester City 6 4 1 1 7 6 +1 13 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Bồ Đào Nha Porto 6 3 2 1 9 3 +6 11
3 Đan Mạch Copenhagen 6 2 3 1 7 2 +5 9 Chuyển qua Europa League
4 Bỉ Club Brugge 6 0 0 6 2 14 −12 0
Nguồn: UEFA
Club Brugge Bỉ0–3Anh Leicester City
Chi tiết Albrighton  5'
Mahrez  29', 61' (ph.đ.)
Khán giả: 20,970
Porto Bồ Đào Nha1–1Đan Mạch København
Otávio  13' Chi tiết Cornelius  52'
Khán giả: 34,325
Trọng tài: Matej Jug (Slovenia)

København Đan Mạch4–0Bỉ Club Brugge
Denswil  53' (l.n.)
Delaney  64'
Santander  69'
Jørgensen  90+2'
Chi tiết
Khán giả: 25,605
Trọng tài: Craig Thomson (Scotland)
Leicester City Anh1–0Bồ Đào Nha Porto
Slimani  25' Chi tiết
Khán giả: 31,805
Trọng tài: Cüneyt Çakır (Turkey)

Leicester City Anh1–0Đan Mạch København
Mahrez  40' Chi tiết
Khán giả: 31,037
Trọng tài: Nicola Rizzoli (Italy)
Club Brugge Bỉ1–2Bồ Đào Nha Porto
Vossen  12' Chi tiết Layún  68'
Silva  90+3' (ph.đ.)
Khán giả: 23,325
Trọng tài: Paolo Tagliavento (Italy)

København Đan MạchvAnh Leicester City
Chi tiết
Porto Bồ Đào NhavBỉ Club Brugge
Chi tiết

Leicester City AnhvBỉ Club Brugge
Chi tiết
København Đan MạchvBồ Đào Nha Porto
Chi tiết

Club Brugge BỉvĐan Mạch København
Chi tiết
Porto Bồ Đào NhavAnh Leicester City
Chi tiết

Group H

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 Ý Juventus 6 4 2 0 11 2 +9 14 Đi tiếp vào vòng loại trực tiếp
2 Tây Ban Nha Sevilla 6 3 2 1 7 3 +4 11
3 Pháp Lyon 6 2 2 2 5 3 +2 8 Chuyển qua Europa League
4 Croatia Dinamo Zagreb 6 0 0 6 0 15 −15 0
Nguồn: UEFA
Lyon Pháp3–0Croatia Dinamo Zagreb
Tolisso  13'
Ferri  49'
Cornet  57'
Chi tiết
Juventus Ý0–0Tây Ban Nha Sevilla
Chi tiết
Khán giả: 33,261
Trọng tài: Deniz Aytekin (Germany)

Sevilla Tây Ban Nha1–0Pháp Lyon
Ben Yedder  52' Chi tiết
Khán giả: 36,741
Trọng tài: Bas Nijhuis (Nethelands)
Dinamo Zagreb Croatia0–4Ý Juventus
Chi tiết Pjanić  24'
Higuaín  31'
Dybala  57'
Šemper  85' (l.n.)
Khán giả: 23,875
Trọng tài: Jorge Sousa (Portugal)

Dinamo Zagreb Croatia0–1Tây Ban Nha Sevilla
Chi tiết Nasri  37'
Khán giả: 6,021
Lyon Pháp0–1Ý Juventus
Chi tiết Cuadrado  76'

Sevilla Tây Ban NhavCroatia Dinamo Zagreb
Chi tiết
Juventus ÝvPháp Lyon
Chi tiết

Dinamo Zagreb CroatiavPháp Lyon
Chi tiết
Sevilla Tây Ban NhavÝ Juventus
Chi tiết

Lyon PhápvTây Ban Nha Sevilla
Chi tiết
Juventus ÝvCroatia Dinamo Zagreb
Chi tiết

Chú thích

  1. ^ a b c Ludogorets Razgrad played their home matches at Vasil Levski National Stadium, Sofia instead of their regular stadium, Ludogorets Arena, Razgrad.
  2. ^ The Manchester City v Borussia Mönchengladbach match, originally scheduled on ngày 13 tháng 9 năm 2016, 20:45 CEST, was postponed to the following day due to adverse weather conditions.
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Tottenham Hotspur"
  4. ^ The Legia Warsaw v Real Madrid match was played behind closed doors due to punishment by UEFA.

Tham khảo

Bảng C

Vòng bảng UEFA Champions League 2016-17

Bảng E

Vòng bảng UEFA Champions League 2016-17

Bảng G

Vòng bảng UEFA Champions League 2016-17

Vòng đấu loại trực tiếp

Bản mẫu:Chính

Vòng 16 đội

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult Bản mẫu:TwoLegResult Bản mẫu:TwoLegResult |}

Tứ kết

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

UEFA Europa League

Bản mẫu:Chính

Vòng loại

Bản mẫu:Chính

Vòng loại thứ ba

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Vòng play-off

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Vòng bảng

Bản mẫu:Chính

Bảng A

Vòng bảng UEFA Europa League 2016-17

Bảng K

Vòng bảng UEFA Europa League 2016-17

Vòng đấu loại trực tiếp

Bản mẫu:Chính

Vòng 32 đội

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult Bản mẫu:TwoLegResult |}

Vòng 16 đội

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Tứ kết

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Bán kết

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Chung kếts

Bản mẫu:Chính Chung kết UEFA Europa League 2017

UEFA Youth League

Bản mẫu:Chính

UEFA Women's Champions League

Bản mẫu:Chính

Vòng đấu loại trực tiếp

Bản mẫu:Chính

Vòng 32 đội

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult Bản mẫu:TwoLegResult |}

Vòng 16 đội

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Tứ kết

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Bán kết

Bản mẫu:TwoLegStart Bản mẫu:TwoLegResult |}

Bóng đá nam

Mùa giải vô địch

Thăng hạng và xuống hạng

Hạng đấu Thăng hang Bản mẫu:Rise Xuống hạng Bản mẫu:Fall
Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
Championship
League One
League Two
National League Premier

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Bản mẫu:Chính Antonio Conte đã có khởi đầu thành công trên cương vị huấn luyện viên của Chelsea khi giành chức vô địch ngay trong mùa giải đầu tiên dẫn dắt đội bóng, đồng thời giúp câu lạc bộ lập kỉ lục về số trận thắng nhiều nhất trong một mùa giải vô địch quốc gia; chỉ có phong độ kém trong giai đoạn đầu mùa mới khiến Chelsea không thể thiết lập thêm một kỉ lục mới về tổng số điểm. Tottenham Hotspur đã gạt sang một bên chiến dịch UEFA Champions League đáng thất vọng để bám đuổi Chelsea quyết liệt trong cuộc đua vô địch, dù cuối cùng vẫn lỡ hẹn; tuy nhiên, đội bóng này khép lại mùa giải với hàng công và hàng thủ đều tốt nhất giải, trong khi tiền đạo Harry Kane một lần nữa giành danh hiệu Chiếc giày vàng, còn Tottenham cũng bất bại trên sân nhà trong mùa giải cuối cùng tại White Hart Lane. Manchester City cải thiện vị trí thêm một bậc so với mùa giải trước trong mùa giải đầu tiên Pep Guardiola nắm quyền, nhưng rốt cuộc vẫn trắng tay, dù sở hữu hàng công tốt thứ ba giải đấu và lọt vào bán kết Cúp FA. Liverpool giành vé dự UEFA Champions League lần đầu tiên sau ba năm trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Jürgen Klopp, song không thể kết thúc cao hơn vị trí thứ tư do khởi đầu thiếu ổn định trong năm 2017; nguyên nhân đến từ việc mất bản hợp đồng trị giá 35 triệu bảng Sadio Mané vì nghĩa vụ quốc tế trong tháng Một và tháng Hai, đồng thời còn đánh rơi nhiều điểm trước các đội nửa dưới bảng xếp hạng, bất chấp việc bất bại suốt mùa giải trước phần còn lại của tốp bảy.

Dù thắng bảy trong tám trận cuối cùng, Arsenal vẫn chỉ đứng thứ năm và không thể giành vé dự UEFA Champions League lần đầu tiên kể từ năm 1997, trong bối cảnh sức ép từ người hâm mộ gia tăng đối với cả huấn luyện viên Arsène Wenger lẫn đồng chủ sở hữu Stan Kroenke. Dù vậy, đội bóng vẫn vô địch Cúp FA lần thứ ba trong bốn mùa giải, giúp Wenger trở thành huấn luyện viên thành công nhất trong lịch sử giải đấu này, nhưng họ cũng tiếp tục trải qua một chiến dịch UEFA Champions League thảm hại khác khi bị loại ở vòng 16 đội trong năm thứ bảy liên tiếp. Manchester United đứng thứ sáu, thấp hơn một bậc so với mùa giải trước, trong mùa giải đầu tiên của José Mourinho, khi việc không thể biến bất kì trận hòa nào trong số 15 trận hòa thành chiến thắng đã khiến đội bóng trả giá; tuy nhiên, họ vẫn giành Cúp EFL và vô địch chung kết UEFA Europa League, qua đó lần đầu tiên đăng quang ở giải đấu này và giành quyền dự UEFA Champions League. Chỉ trong mùa giải thứ hai trong lịch sử ở hạng đấu cao nhất, AFC Bournemouth tiếp nối thành công của mùa giải trước khi kết thúc ở vị trí thứ chín và ghi được 55 bàn thắng, bất chấp những ý kiến cho rằng đội bóng sẽ sa sút vì "hội chứng mùa giải thứ hai". Tương tự Chelsea ở mùa giải trước, Leicester City có màn bảo vệ chức vô địch kém thuyết phục, dù lại có hành trình UEFA Champions League tốt nhất trong số các đội bóng Anh mùa này khi vào đến tứ kết. Khi đội bóng rơi vào khủng hoảng, huấn luyện viên Claudio Ranieri bị sa thải vào tháng Hai và được thay thế bởi huấn luyện viên Craig Shakespeare, người đã đưa câu lạc bộ lên vị trí thứ 12; đó vẫn là thứ hạng thấp nhất của một đương kim vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, nhưng đủ để trụ hạng một cách thoải mái.

Crystal Palace từng đối mặt nguy cơ xuống hạng nghiêm trọng ở giai đoạn đầu mùa, nhưng màn hồi sinh sau khi Sam Allardyce tiếp quản đã giúp đội bóng trụ hạng an toàn, đồng thời thiết lập kỉ lục câu lạc bộ với mùa giải thứ năm liên tiếp ở hạng đấu cao nhất. Swansea City cũng từng bị xem như đã hết hi vọng sau giai đoạn đầu khó khăn dưới thời Phápsco Guidolin rồi chuỗi trận thảm họa cùng Bob Bradley trên cương vị huấn luyện viên, nhưng cuối cùng vẫn được cứu nhờ sự khởi sắc muộn màng dưới sự dẫn dắt của Paul Clement. Burnley là đội chơi tốt nhất trong số các đội mới thăng hạng; chỉ có phong độ sân khách quá tệ mới ngăn đội bóng này kết thúc ở vị trí cao hơn, trong khi Turf Moor trở thành một trong những sân đấu khó giành điểm nhất giải, và Burnley cũng bảo đảm mùa giải thứ hai liên tiếp ở hạng đấu cao nhất lần đầu tiên sau 40 năm. Watford, trong chiến dịch liên tiếp đầu tiên ở hạng đấu cao nhất sau 30 năm, đã thành công trong việc giành mùa giải thứ ba liên tiếp tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh; tuy nhiên, do phong độ sân khách yếu kém, giai đoạn cuối mùa giải sa sút và nhiều thời điểm thi đấu thiếu ổn định xuyên suốt mùa giải, "Ong bắp cày" không thể tạo ra bước tiến thực sự so với mùa giải trước, dù giành được những chiến thắng đầu tiên tại giải trước Manchester United và trên sân Arsenal kể từ thập niên 1980.

Sau nhiều mùa giải liên tiếp thoát hiểm, sức chống chịu của Sunderland cuối cùng cũng sụp đổ và đội bóng rớt xuống Championship sau một thập kỉ, gần như dành cả mùa giải ở đáy bảng xếp hạng; việc David Moyes trở thành huấn luyện viên đầu tiên dẫn dắt trọn vẹn một mùa giải của "Mèo đen" kể từ năm 2011 rốt cuộc cũng không đem lại kết quả nào. Middlesbrough cũng gặp khó khăn xuyên suốt mùa giải đầu tiên trở lại hạng đấu cao nhất sau tám năm; giai đoạn cuối mùa yếu kém, thành tích ghi bàn tệ nhất giải và việc không thể biến bất kì trận hòa nào trong số 13 trận hòa thành chiến thắng đã khiến đội bóng này phải trả giá. Hull City là đội xuống hạng cuối cùng, không bao giờ thực sự hồi phục sau giai đoạn tiền mùa giải thảm họa khi huấn luyện viên Steve Bruce từ chức và gần như không có cầu thủ mới nào được chiêu mộ; dù có khởi đầu mùa giải đáng khích lệ dưới thời Mike Phelan, chuỗi trận tệ hại vào mùa đông khiến ông bị sa thải và thay bằng Marco Silva, người giúp đội bóng chơi tốt hơn nhiều trong nửa sau mùa giải, nhưng rốt cuộc vẫn là quá ít và quá muộn. Premier League 2016-17

Championship

Bản mẫu:Chính Newcastle United và Brighton & Hove Albion dẫn đầu phần lớn mùa giải, và cuối cùng giành hai suất thăng hạng trực tiếp. Newcastle, giống như lần trước còn chơi ở hạng Hai, đã lập tức trở lại hạng đấu cao nhất với tư cách nhà vô địch dù có cú chững lại ở cuối mùa khi chỉ còn ba trận nữa là kết thúc (và do cả Sunderland lẫn Middlesbrough đều xuống hạng, đây sẽ là lần đầu tiên kể từ năm 1998 "Chích chòe" trở thành đội duy nhất của vùng Đông Bắc góp mặt ở hạng đấu cao nhất), trong khi Brighton — trớ trêu thay, do Chris Hughton, người từng giúp Newcastle thăng hạng trong giai đoạn trước ở Championship, dẫn dắt — đã để vuột chức vô địch ở ngày cuối cùng sau khi không thắng cả 3 trận cuối. Dù vậy, đến thời điểm đó, họ đã giành quyền lên chơi ở hạng đấu cao nhất mới chỉ lần thứ hai trong lịch sử, và là lần đầu tiên kể từ năm 1983, sau khi mùa trước lỡ cơ hội trước Middlesbrough vì kém hiệu số bàn thắng bại trong ngày hạ màn. Đội giành suất cuối cùng qua vòng play-off là Huddersfield Town, đội thăng hạng lên hạng đấu cao nhất lần đầu tiên sau 45 năm và cũng là trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên của huấn luyện viên David Wagner; dù có giai đoạn cuối mùa nghèo nàn và kết thúc với hiệu số bàn thắng bại âm, "Bầy chó săn" vẫn từ từ vượt qua các trận bán kết play-off trước Sheffield Wednesday rồi đánh bại Reading trên chấm luân lưu trong trận chung kết tại Wembley.

Leeds United tạo ra cuộc đua thăng hạng đầu tiên sau sáu năm và chỉ có lần thứ ba kết thúc trong nửa trên bảng xếp hạng Championship kể từ khi rớt khỏi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh năm 2004, nhưng những chuỗi trận sa sút ở cả đầu lẫn cuối mùa, cùng với màn bứt tốc ấn tượng cuối mùa của Fulham, khiến đội bóng không thể lọt vào play-off. Mùa giải đầu tiên của Aston Villa bên ngoài hạng đấu cao nhất kể từ năm 1988 diễn ra đầy biến động khi đội bóng thay huấn luyện viên chỉ sau mười một trận; dù không bao giờ thực sự có nguy cơ xuống hạng, việc không thể biến các trận hòa thành chiến thắng cũng khiến đội bóng không thể tạo ra bất kì điều gì giống như một cuộc đua thăng hạng, bất chấp tiền đạo Jonathan Kodjia ghi tới 19 bàn. Mùa giải của Birmingham City gây bất ngờ theo cách tệ hại nhất khi đội bóng gây tranh cãi lớn vì sa thải huấn luyện viên Gary Rowett để bổ nhiệm Gianfranco Zola vào tháng Mười Hai dù khi đó chỉ đứng ngoài nhóm play-off trong khoảng cách rất sít sao; phong độ sau đó sụp đổ hoàn toàn ở nửa sau mùa giải, buộc họ phải nhờ đến sự cải thiện muộn màng sau khi Zola bị thay bởi Harry Redknapp, rồi một chiến thắng ở ngày cuối trên sân Bristol City mới có thể trụ hạng.

Sau hai mùa giải liên tiếp vật lộn với cuộc chiến trụ hạng, Rotherham United đứng cuối bảng trong một chiến dịch tệ hại thực sự, trải qua ba huấn luyện viên trước khi tháng Mười Một khép lại và ghi nhận số điểm thấp nhất ở hạng Hai kể từ khi luật 3 điểm cho một trận thắng được áp dụng vào năm 1981; chỉ có chuỗi ba trận bất bại ở cuối mùa mới giúp đội bóng tránh khỏi việc thủng lưới 100 bàn. Wigan Athletic lập tức xuống hạng trở lại League One, không bao giờ thực sự thích nghi trở lại với cuộc sống ở Championship và cuối cùng phải trả giá đắt vì giai đoạn cuối mùa nghèo nàn, cũng như việc không thắng trận sân nhà nào từ tháng Mười đến tháng Một. Blackburn Rovers chiếm vị trí xuống hạng còn lại trong một mùa giải bị phủ bóng bởi những cuộc biểu tình ngày càng gia tăng của cổ động viên nhằm vào giới chủ; dù màn hồi sinh cuối mùa dưới thời Tony Mowbray giúp họ kéo cuộc chiến trụ hạng tới ngày cuối cùng, các kết quả khác cuối cùng vẫn chống lại đội bóng và đẩy họ xuống hạng Ba lần đầu tiên kể từ năm 1980; điều này cũng khiến Blackburn trở thành nhà cựu vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh đầu tiên rớt xuống hạng Ba (Leicester City và Manchester City từng chơi ở hạng Ba kể từ khi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh ra đời, nhưng chưa vô địch giải trước giai đoạn đó). Trong mùa giải đầu tiên trong lịch sử tại Championship, Burton Albion nhiều lần lâm nguy trong cuộc chiến trụ hạng nhưng cuối cùng đã tự tách khỏi nhóm ba đội cuối bảng để bảo đảm mùa giải đầu tiên ở hạng Hai không phải cũng là mùa cuối cùng. EFL Championship 2016-17

League One

Bản mẫu:Chính

Sau năm mùa giải liên tiếp lỡ hẹn đầy cay đắng và thất bại ở play-off, Sheffield United cuối cùng đã chấm dứt quãng thời gian vắng bóng khỏi Championship và trở lại hạng Hai lần đầu tiên kể từ năm 2011, thăng hạng với tư cách nhà vô địch và cán mốc hơn 100 điểm; dù khởi đầu chậm chạp, "Những lưỡi dao" dần leo lên bảng xếp hạng và vào tốp hai, giúp cựu cầu thủ Chris Wilder giành quyền thăng hạng ngay trong mùa giải đầu tiên làm huấn luyện viên của câu lạc bộ, đồng thời là lần thăng hạng thứ hai liên tiếp của ông chỉ trong một năm. Đứng thứ hai trong cuộc cạnh tranh kéo dài đến ngày cuối cùng, Bolton Wanderers giành quyền trở lại Championship ngay ở cơ hội đầu tiên và trong mùa giải đầu tiên huấn luyện viên Phil Parkinson nắm quyền, chưa từng có lúc nào thực sự trông như sẽ văng khỏi tốp sáu. Suất cuối cùng qua play-off thuộc về Millwall, đội bóng đã gạt bỏ nỗi thất vọng vì thua ở trận chung kết mùa trước bằng cách chen chân vào tốp sáu ở những vòng đấu cuối rồi vượt qua Bradford City trong trận chung kết tại Wembley, qua đó trở lại hạng Hai sau hai năm.

Fleetwood Town trải qua mùa giải hay nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi giành vị trí thứ tư đầy bất ngờ, bỏ lỡ suất thăng hạng trực tiếp ở ngày cuối cùng trước khi chỉ vừa bị Bradford City loại ở bán kết play-off. Trong mùa giải đầu tiên ở cấp độ này, AFC Wimbledon khiến giới chỉ trích bất ngờ khi sớm tham gia cuộc đua thăng hạng; dù việc đánh rơi điểm số liên tiếp cùng chuỗi sáu trận cuối không thắng đã đẩy đội bóng trở lại khu vực giữa bảng và xếp dưới đối thủ Milton Keynes Dons (đội từng trông như sẽ xuống hạng hai mùa liên tiếp trước khi sự xuất hiện của huấn luyện viên Hearts Robbie Neilson giúp họ tránh xa nhóm xuống hạng), câu lạc bộ chưa một lần rơi vào nguy cơ phải lập tức trở lại League Two và bảo đảm quãng thời gian chơi ở hạng Ba kéo dài hơn một mùa giải. Mùa giải đầu tiên của Northampton Town tại League One kể từ năm 2009 khởi đầu đầy mạnh mẽ khi đội bóng tiếp tục chuỗi bất bại ấn tượng, nhưng sự sa sút mạnh vào những tháng mùa đông đã kéo họ vào cuộc chiến trụ hạng, trước khi chuỗi phong độ tích cực cuối mùa giúp đội bóng leo lên trở lại. Mùa giải thứ hai liên tiếp, John Sheridan trở lại Oldham Athletic để đạo diễn cuộc đào thoát ngoạn mục khỏi nhóm xuống hạng của đội bóng, bất chấp thành tích ghi bàn tệ hại khiến họ ghi ít bàn hơn cả bốn đội xuống hạng.

Ở cuối bảng xếp hạng, quãng thời gian ba năm của Chesterfield tại League One khép lại khi sự sa sút phong độ sau khi mất huấn luyện viên Paul Cook vào tay Portsmouth cuối cùng đã để lại hậu quả. Coventry City cũng chẳng khá hơn là bao khi chạm đáy và rớt xuống hạng thấp nhất của Football League lần đầu tiên kể từ năm 1959, chỉ 16 năm sau khi còn hiện diện ở hạng đấu cao nhất; ngay cả chức vô địch Football League Trophy cùng chuỗi kết quả tích cực muộn màng sau khi huấn luyện viên thành công trước đây Mark Robins trở lại cũng không đủ cứu vãn, trong bối cảnh các cuộc biểu tình của cổ động viên nhằm vào giới chủ ngày càng gia tăng, đẩy "Sky Blues" vào một tương lai ảm đạm. Chỉ hai năm sau khi suýt giành quyền lên Championship, Swindon Town rớt xuống League Two lần đầu tiên kể từ năm 2012 khi nhiều kết quả nghèo nàn trở nên quá đắt giá, bất chấp việc bất ngờ bổ nhiệm cựu huấn luyện viên Tottenham Tim Sherwood làm giám đốc bóng đá. Đội chiếm suất xuống hạng cuối cùng là Port Vale, đội từng trông như sẽ vượt qua được việc mất huấn luyện viên Rob Page vào tay Northampton Town; tuy nhiên, sự sụp đổ hoàn toàn về phong độ trong giai đoạn mùa đông khiến họ rơi vào nhóm xuống hạng, và đội bóng chính thức rớt hạng ở ngày cuối sau trận hòa trên sân Fleetwood, trong khi sau này hóa ra chỉ cần một chiến thắng là đủ để cứu họ. EFL League One 2016-17

League Two

Bản mẫu:Chính

Sau khi thua ở play-off chỉ một năm trước đó, Portsmouth đã gạt bỏ nỗi đau để giành quyền thăng hạng lên League One lần đầu tiên kể từ năm 2013 và cũng là lần thăng hạng đầu tiên sau 14 năm; dù từng có vẻ như sẽ lại phải dự play-off, cú tăng tốc mạnh mẽ từ tháng Một trở đi đã đưa đội bóng vào tốp ba và giành chức vô địch ở ngày cuối cùng. Đứng thứ hai là Plymouth Argyle, đội cũng gạt sang một bên thất bại ở play-off mùa trước và chấm dứt quãng thời gian sáu năm xa cách hạng Ba, chỉ lỡ chức vô địch vì kém hiệu số bàn thắng bại. Doncaster Rovers giành suất thăng hạng trực tiếp còn lại, bảo đảm lập tức trở lại League One; trớ trêu thay, họ từng là câu lạc bộ đầu tiên giành quyền thăng hạng, nhưng việc không thắng trong năm trận cuối đã đẩy đội bóng xuống vị trí thứ ba. Tấm vé cuối cùng qua play-off thuộc về Blackpool, đội cũng bảo đảm trở lại League One ngay lập tức khi đánh bại Exeter City tại Wembley, đồng thời giúp câu lạc bộ có lần thăng hạng đầu tiên kể từ năm 2010 sau ba lần xuống hạng trong năm năm.

Dù mất huấn luyện viên vào tay Shrewsbury Town rồi sa thải người kế nhiệm chỉ sau năm tháng, mùa giải đầu tiên của Grimsby Town tại Football League sau sáu năm vẫn chứng kiến đội bóng chưa từng bị đe dọa xuống hạng và thoải mái bảo toàn vị thế tại Football League. Crewe Alexandra trải qua một mùa giải đầy biến động cả trong lẫn ngoài sân cỏ khi khởi đầu mạnh mẽ dần tắt lịm và họ bị cuốn vào cuộc chiến trụ hạng, dẫn đến việc huấn luyện viên Steve Davis bị sa thải; hành động này bị nhiều cổ động viên xem là quá muộn sau nhiều tháng biểu tình phản đối giới chủ và yêu cầu sa thải ông. Tuy nhiên, sau khi cựu cầu thủ David Artell được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, "The Railwaymen" đã chiến đấu để leo trở lại trên bảng xếp hạng và kết thúc mùa giải một cách khá an toàn, cách xa hai vị trí cuối.

Ở cuối bảng xếp hạng, sau 112 năm góp mặt tại Football League và chỉ ba năm sau khi suýt giành quyền thăng hạng lên Championship, Leyton Orient cuối cùng cũng rơi xuống đáy và xuống hạng Năm trong một mùa giải mà đội bóng thay huấn luyện viên tới năm lần, đồng thời bị phủ bóng bởi các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng của cổ động viên phản đối giới chủ câu lạc bộ; một trong số đó thậm chí dẫn tới việc phần cuối của trận sân nhà cuối cùng phải diễn ra trong sân không khán giả. Đội chiếm suất xuống hạng còn lại ở ngày cuối cùng là Hartlepool United, đội cuối cùng cũng chứng kiến quãng thời gian 96 năm tại Football League chấm dứt theo cách tệ hại nhất; họ từng trông có vẻ an toàn vào thời điểm bước sang năm mới, nhưng sự sụp đổ về phong độ cùng việc không thể đạt kết quả tốt hơn đội xếp trên trong trận cuối cùng đã khiến đội bóng mất vị thế. Sau khi dành phần lớn mùa giải bị bỏ lại trong nhóm xuống hạng, cú bứt tốc muộn màng đã giúp Newport County vật lộn trụ hạng thành công trong gang tấc — với bàn thắng ở phút cuối của cầu thủ Mark O'Brien vào lưới Notts County ở ngày cuối cùng mang ý nghĩa quyết định. EFL League Two 2016-17

National League Top Division

Bản mẫu:Chính

Sáu năm sau khi xuống hạng từ League Two, Lincoln City đã trở lại Football League trong một mùa giải vừa thành công chưa từng có vừa nhuốm màu bi kịch ngoài sân cỏ — không chỉ thăng hạng với tư cách nhà vô địch và suýt cán mốc 100 điểm, đội bóng còn trở thành đội ngoài hệ thống Football League đầu tiên trong hơn 100 năm vào tới tứ kết Cúp FA, thậm chí còn đánh bại Burnley, một đội bóng hạng đấu cao nhất, trên hành trình ấy, như một cách tri ân đẹp nhất tới cựu cầu thủ kiêm huấn luyện viên Graham Taylor, người đột ngột qua đời vào tháng Một. Đội thăng hạng qua play-off là Forest Green Rovers, đội đã trả món nợ thất bại trong trận chung kết play-off mùa trước bằng chiến thắng khá dễ dàng trước Tranmere Rovers tại Wembley trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên huấn luyện viên Mark Cooper nắm quyền; với lần thăng hạng này, câu lạc bộ không chỉ lần đầu tiên trong lịch sử giành chỗ đứng tại Football League mà còn giúp quê nhà Nailsworth trở thành khu dân cư nhỏ nhất từng có một câu lạc bộ thi đấu tại Football League.

Ở cuối bảng xếp hạng, mùa giải đầu tiên trong lịch sử của North Ferriby United tại hạng Năm khép lại trong thảm họa khi đội bóng đứng bét bảng, gục ngã vì khả năng ghi bàn yếu kém và hàng thủ tệ thứ hai giải. Southport cũng chẳng khá hơn bao nhiêu khi chuỗi bảy mùa giải liên tiếp ở hạng Năm của đội bóng cuối cùng khép lại theo cách tồi tệ nhất, với gần 100 bàn thua và việc phải trải qua không chỉ ba huấn luyện viên mà thậm chí còn mất cả chủ tịch câu lạc bộ trong quá trình đó. Braintree Town chiếm vị trí xuống hạng thứ ba ở ngày cuối cùng của mùa giải, chỉ một mùa sau khi đứng thứ ba chung cuộc và thua đội sau này thăng hạng là Grimsby Town sau hai lượt trận — chỉ cần một chiến thắng trong ba trận cuối là đủ để họ tránh khỏi xuống hạng. Dù giành Cúp FA Trophy, York City lại chiếm suất xuống hạng cuối cùng ở ngày kết thúc mùa giải, phải chịu nỗi ê chề của hai mùa xuống hạng liên tiếp và trở thành câu lạc bộ đầu tiên rớt liên tiếp từ Football League xuống hạng Sáu; dù phong độ từ tháng Một đến tháng Tư từng mang lại cơ hội trụ hạng rõ rệt, nửa đầu mùa giải quá tệ cuối cùng vẫn trở nên quá đắt giá cho hi vọng của đội bóng, cũng như việc có tới năm kết quả khác đồng loạt chống lại họ ở ngày hạ màn mùa giải. National League 2016-17

Play-off League

Play-off Football League

Bản mẫu:Chính

EFL Championship

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết play-off EFL Championship 2017

EFL League One

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết play-off EFL League One 2017

EFL League Two

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết play-off EFL League Two 2017

Play-off National League

Bản mẫu:Chính

National League
Chung kết

Bản mẫu:Football box

National League North
Chung kết

Bản mẫu:Football box

National League South
Chung kết

Bản mẫu:Football box

Giải đấu cúp

Cúp FA

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết Cúp FA 2017

Cúp EFL

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết Cúp EFL 2017

Community Shield

Bản mẫu:Chính FA Community Shield 2016

EFL Trophy

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết EFL Trophy 2017

FA Trophy

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính Chung kết FA Trophy 2017

Bóng đá nữ

Mùa giải vô địch

FA WSL Spring Series

Bản mẫu:Chính

WSL Spring Series League 1

Bản mẫu:Chính FA WSL Spring Series

WSL Spring Series League 2

Bản mẫu:Chính FA WSL 2 Spring Series

Giải đấu cúp

FA Women's Cup

Bản mẫu:Chính

Chung kết

Bản mẫu:Chính

Bản mẫu:Football box

Thay đổi huấn luyện viên

Đây là danh sách những sự thay đổi huấn luyện viên trong hệ thống giải vô địch bóng đá Anh:

Đội bóng Huấn luyện viên ra đi Hình thức ra đi Ngày ra đi Vị trí trên bảng xếp hạng Huấn luyện viên đến Ngày bổ nhiệm
Blackburn Rovers Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 7 tháng 5 năm 2016 Tiền mùa giải Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 2 tháng 6 năm 2016
Cardiff City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Được thăng chức làm giám đốc bóng đá 8 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 18 tháng 5 năm 2016
Nottingham Forest Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 12 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 27 tháng 6 năm 2016
Northampton Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name Kí hợp đồng với Sheffield United 12 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 19 tháng 5 năm 2016
Sheffield United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name Bị sa thải 12 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name 12 tháng 5 năm 2016
Rotherham United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Hết hạn hợp đồng 18 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 1 tháng 6 năm 2016
Blackpool Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 18 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 1 tháng 6 năm 2016
Port Vale Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Kí hợp đồng với Northampton Town 19 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 20 tháng 6 năm 2016
Manchester United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Bị sa thải 23 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name 27 tháng 5 năm 2016
Reading Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 27 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 13 tháng 6 năm 2016
Derby County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Hết hạn hợp đồng 27 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 27 tháng 5 năm 2016
Oldham Athletic Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name Kí hợp đồng với Notts County 29 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 9 tháng 7 năm 2016
Leeds United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Bị sa thải 31 tháng 5 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 2 tháng 6 năm 2016
Aston Villa Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname Kết thúc thời gian làm huấn luyện viên tạm quyền 2 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sortname 2 tháng 6 năm 2016
Bradford City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name Kí hợp đồng với Bolton Wanderers 10 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name 20 tháng 6 năm 2016
Southampton Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name Kí hợp đồng với Everton 14 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name 30 tháng 6 năm 2016
Chelsea Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kết thúc thời gian làm huấn luyện viên tạm quyền 30 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 1 tháng 7 năm 2016
Manchester City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 30 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 1 tháng 7 năm 2016
Watford Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 30 tháng 6 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 1 tháng 7 năm 2016
Hull City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 22 tháng 7 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 22 tháng 7 năm 2016
Sunderland Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kí hợp đồng với đội tuyển Anh 22 tháng 7 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 23 tháng 7 năm 2016
Fleetwood Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 26 tháng 7 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 30 tháng 7 năm 2016
Wolverhampton Wanderers Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 30 tháng 7 năm 2016 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 30 tháng 7 năm 2016
Leyton Orient Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 26 tháng 9 năm 2016 14 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 2 tháng 10 năm 2016
Newport County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 28 tháng 9 năm 2016 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 7 tháng 10 năm 2016
Coventry City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 29 tháng 9 năm 2016 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 21 tháng 12 năm 2016
Aston Villa Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 3 tháng 10 năm 2016 19 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 10 năm 2016
Swansea City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 3 tháng 10 năm 2016 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 3 tháng 10 năm 2016
Cardiff City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 4 tháng 10 năm 2016 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 10 năm 2016
Shrewsbury Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kí hợp đồng với Tranmere Rovers 6 tháng 10 năm 2016 22 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 24 tháng 10 năm 2016
Derby County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 8 tháng 10 năm 2016 20 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 10 năm 2016
Rotherham United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 19 tháng 10 năm 2016 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 21 tháng 10 năm 2016
Milton Keynes Dons Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 23 tháng 10 năm 2016 19 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 3 tháng 12 năm 2016
Grimsby Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kí hợp đồng với Shrewsbury Town 24 tháng 10 năm 2016 8 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 7 tháng 11 năm 2016
Wolverhampton Wanderers Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 25 tháng 10 năm 2016 18 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 11 năm 2016
Wigan Athletic Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 25 tháng 10 năm 2016 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 2 tháng 11 năm 2016
Queens Park Rangers Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 6 tháng 11 năm 2016 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 11 tháng 11 năm 2016
Charlton Athletic Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 11 năm 2016 15 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 24 tháng 11 năm 2016
Mansfield Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 14 tháng 11 năm 2016 18 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 16 tháng 11 năm 2016
Bury Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 16 tháng 11 năm 2016 16 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 15 tháng 12 năm 2016
Leyton Orient Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 23 tháng 11 năm 2016 22 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 23 tháng 11 năm 2016
Rotherham United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 29 tháng 11 năm 2016 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 1 năm 2017
Barnet Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kí hợp đồng với Eastleigh 1 tháng 12 năm 2016 8 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 16 tháng 2 năm 2016
Birmingham City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 14 tháng 12 năm 2016 7 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 12 năm 2016
Crystal Palace Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 22 tháng 12 năm 2016 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 23 tháng 12 năm 2016
Port Vale Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 26 tháng 12 năm 2016 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 26 tháng 12 năm 2016
Swansea City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 27 tháng 12 năm 2016 19 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 2 tháng 1 năm 2017
Notts County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 2 tháng 1 năm 2017 22 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 1 năm 2017
Gillingham Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 3 tháng 1 năm 2017 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 4 tháng 1 năm 2017
Hull City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 3 tháng 1 năm 2017 20 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 1 năm 2017
Crewe Alexandra Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 8 tháng 1 năm 2017 18 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 8 tháng 1 năm 2017
Chesterfield Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 8 tháng 1 năm 2017 22 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 17 tháng 1 năm 2017
Northampton Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 9 tháng 1 năm 2017 16 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 13 tháng 1 năm 2017
Oldham Athletic Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 1 năm 2017 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort name 12 tháng 1 năm 2017
Nottingham Forest Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 1 năm 2017 20 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 9 tháng 2 năm 2017
Hartlepool United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 15 tháng 1 năm 2017 19 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 18 tháng 1 năm 2017
Leyton Orient Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 29 tháng 1 năm 2017 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 29 tháng 1 năm 2017
Bury Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kết thúc vai trò tạm quyền 15 tháng 2 năm 2017 21 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 15 tháng 2 năm 2017
Blackburn Rovers Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 21 tháng 2 năm 2017 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 22 tháng 2 năm 2017
Leicester City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 23 tháng 2 năm 2017 17 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 3 năm 2017
Coventry City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 3 năm 2017 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 6 tháng 3 năm 2017
Newport County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 9 tháng 3 năm 2017 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 9 tháng 3 năm 2017
Norwich City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 10 tháng 3 năm 2017 8 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 10 tháng 3 năm 2017
Derby County Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 3 năm 2017 10 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 3 năm 2017
Wigan Athletic Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 13 tháng 3 năm 2017 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 13 tháng 3 năm 2017
Nottingham Forest Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Kết thúc vai trò tạm quyền 14 tháng 3 năm 2017 20 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 14 tháng 3 năm 2017
Middlesbrough Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 16 tháng 3 năm 2017 19 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 16 tháng 3 năm 2017
Leyton Orient Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 30 tháng 3 năm 2017 24 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 30 tháng 3 năm 2017
Grimsby Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Bị sa thải 10 tháng 4 năm 2017 14 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 12 tháng 4 năm 2017
Barnet Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 15 tháng 4 năm 2017 16 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 19 tháng 5 năm 2017
Birmingham City Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Từ chức 17 tháng 4 năm 2017 20 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 18 tháng 4 năm 2017
Hartlepool United Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort Đồng thuận chấm dứt hợp đồng 24 tháng 4 năm 2017 23 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 26 tháng 5 năm 2017
Crawley Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 4 tháng 5 năm 2017 21 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 23 tháng 5 năm 2017
Swindon Town Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 5 năm 2017 22 Bản mẫu:Flagicon Bản mẫu:Sort 5 tháng 6 năm 2017

Nhật kí mùa giải

  • 8 tháng 8: Manchester United hoàn tất việc chiêu mộ tiền vệ người Pháp Paul Pogba với mức phí kỉ lục thế giới 89 triệu bảng. Pogba trở lại câu lạc bộ sau quãng thời gian thành công tại Juventus.
  • 9 tháng 8: Sau khi dành phần lớn kì chuyển nhượng mùa hè trước để từ chối các lời đề nghị từ Chelsea, John Stones chuyển đến Manchester City với giá 47,5 triệu bảng, qua đó trở thành hậu vệ đắt giá nhất trong lịch sử Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.
  • 13 tháng 8: Mùa giải mới của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh khởi tranh với việc tân binh Hull City đánh bại nhà đương kim vô địch Leicester City với tỉ số 2-1 tại Sân vận động KCOM. Pep Guardiola giành chiến thắng trong trận đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên của Manchester City, với tỉ số 2-1 trước Sunderland.
  • 14 tháng 8: José Mourinho giành chiến thắng trong trận đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên của Manchester United, với tỉ số 3-1 trước AFC Bournemouth tại Dean Court. Arsenal bị Liverpool đánh bại 4-3 tại Sân vận động Emirates.
  • 15 tháng 8: Antonio Conte giành chiến thắng trong trận đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên của Chelsea, với tỉ số 2-1 trước West Ham United tại Stamford Bridge.
  • 20 tháng 8: Crystal Palace phá kỉ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ lần thứ hai trong kì chuyển nhượng này khi chiêu mộ Christian Benteke từ Liverpool. Tiền đạo người Bỉ có giá 27 triệu bảng, chỉ một mùa giải sau khi gia nhập The Reds.
  • 31 tháng 8: Tháng đầu tiên của mùa giải mới khép lại với việc Manchester City, Chelsea và Manchester United — đều dưới sự dẫn dắt của các huấn luyện viên mới — cùng đồng dẫn đầu với ba trận toàn thắng. Hai đội mới thăng hạng là Hull City và Middlesbrough có màn khởi đầu đầy hứa hẹn trong lần trở lại hạng đấu cao nhất, lần lượt đứng thứ năm và thứ sáu, xếp giữa Everton và Tottenham Hotspur. Watford (thứ 18), AFC Bournemouth và Stoke City cùng đứng cuối bảng với một điểm, trong khi Sunderland và Crystal Palace cũng có một điểm nhưng thủng lưới ít hơn. Sau năm vòng đấu, EFL Championship do Huddersfield Town và Fulham dẫn đầu, dù cả hai đều gặp khó khăn ở mùa giải trước. Tân binh Barnsley dẫn đầu nhóm play-off — gồm Newcastle United, Queens Park Rangers và Bristol City — nhờ phong độ ghi bàn ấn tượng, giúp họ trở thành đội ghi nhiều bàn thắng thứ hai trong toàn bộ English Football League. Blackburn Rovers đứng cuối bảng với một điểm, cùng nằm trong nhóm xuống hạng với Preston North End và Rotherham United; Wigan Athletic và Leeds United đứng ngoài nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại.
  • 27 tháng 9: Sam Allardyce buộc phải từ chức huấn luyện viên trưởng đội tuyển Anh sau chưa đầy ba tháng, sau khi bị các phóng viên bí mật của The Daily Telegraph ghi lại cảnh ông nhận lời làm diễn giả với giá 400.000 bảng, xúc phạm cựu huấn luyện viên đội tuyển Anh Roy Hodgson, đồng thời chỉ trích và gợi ý cách lách lệnh cấm của The Football Association đối với quyền sở hữu cầu thủ bởi bên thứ ba. Huấn luyện viên đội U-21 Anh Gareth Southgate được công bố là huấn luyện viên tạm quyền của đội tuyển.
  • 30 tháng 9: Manchester City đứng đầu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi thắng cả sáu trận đầu tiên, tạo khoảng cách bốn điểm với Spurs và Everton. Arsenal và Liverpool cùng xếp thứ tư, còn Manchester United và Crystal Palace bám sát phía sau. Sunderland rơi xuống cuối bảng, Stoke vẫn nằm trong nhóm xuống hạng và West Ham nay cũng góp mặt sau chuỗi phong độ kém cỏi. Huddersfield tiếp tục dẫn đầu Championship, với Norwich City vươn lên thứ hai. Newcastle và Bristol City vẫn nằm trong tốp sáu, kẹp giữa Brighton & Hove Albion và Brentford, còn Birmingham City, Sheffield Wednesday và Reading bị đẩy ra ngoài tốp sáu vì hiệu số bàn thắng bại. Rotherham nay đứng cuối Championship, còn Cardiff City và Blackburn chỉ hơn The Millers hai điểm; hiệu số bàn thắng bại tốt hơn giúp Wigan Athletic thoát khỏi nhóm ba đội cuối bảng.
  • 23 tháng 10: Manchester City hòa 1-1 với Southampton tại Sân vận động City of Manchester. Kình địch cùng thành phố của họ là United bị Chelsea — câu lạc bộ cũ của huấn luyện viên José Mourinho — đè bẹp 4-0 tại Stamford Bridge. Đây là thất bại nặng nề nhất của Mourinho tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, là trận thua sân khách đậm nhất của United kể từ tháng 10 năm 1999 (khi họ cũng thua chính đối thủ này với cách biệt hơn bốn bàn sau khi lọt lưới năm bàn), đồng thời là lần đầu tiên United thua với cách biệt từ bốn bàn trở lên kể từ trận thua West Ham tại Cúp Liên đoàn vào tháng 11 năm 2010.
  • 31 tháng 10: Manchester City vẫn giữ ngôi đầu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, nhưng chỉ thắng một trong bốn trận trong tháng khiến khoảng cách giữa họ với Arsenal và Liverpool chỉ còn là hiệu số bàn thắng bại. Chelsea, đang hồi sinh mạnh mẽ, đã vượt qua Spurs vẫn còn bất bại để chiếm vị trí cuối cùng trong nhóm dự UEFA Champions League, trong khi Everton, Watford và Manchester United bị bỏ lại một khoảng so với tốp bốn. Sunderland chỉ giành được 2 điểm sau 10 trận mở màn, phá kỉ lục khởi đầu tệ nhất lịch sử Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vốn do Manchester City nắm giữ, và vẫn chôn chân ở đáy bảng xếp hạng. Swansea City và Hull nay đã rơi vào nhóm xuống hạng, còn Middlesbrough, West Bromwich Albion và West Ham hiện hơn vị trí thứ 18 ba điểm. Tại Championship, phong độ tệ hại trong tháng 10 của Huddersfield và Norwich — khép lại bằng các thất bại 0-5 trên sân khách trước Fulham và Brighton trong trận cuối tháng của họ — khiến hai đội này rơi xuống thứ ba và thứ tư, trong khi Newcastle tạo khoảng cách ba điểm với Brighton ở ngôi đầu. Reading leo lên thứ năm; Bristol City vẫn giữ vị trí thứ sáu, nhưng Birmingham và Sheffield Wednesday tiếp tục bám sát phía sau. Rotherham vẫn đứng cuối bảng và kém nhóm an toàn tám điểm, còn Blackburn vẫn đứng thứ 23. Việc Cardiff thay huấn luyện viên — với Neil Warnock thay thế Paul Trollope — đã giúp Bluebirds vươn lên thứ 21, nhưng dù Wigan cũng sa thải huấn luyện viên, đội bóng này vẫn nằm trong nhóm ba đội cuối bảng.
  • 1 tháng 11: Arsenal trở thành đội bóng Anh đầu tiên giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Champions League mùa này sau khi đánh bại Ludogorets Razgrad với tỉ số 3-2.
  • 22 tháng 11: Leicester City giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Champions League sau khi đánh bại Club Brugge 2-1. Tuy nhiên, Tottenham Hotspur kém may mắn hơn khi bị loại sau thất bại 1-2 trước Monaco, buộc họ phải tránh thua trên sân CSKA Moscow ở trận cuối nếu còn muốn giành "phần thưởng an ủi" là suất xuống chơi tại UEFA Europa League.
  • 23 tháng 11: Manchester City chính thức giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp UEFA Champions League sau trận hòa 1-1 với Borussia Mönchengladbach.
  • 30 tháng 11: Chelsea nay dẫn đầu cuộc đua vô địch vốn đã trở nên cực kì cạnh tranh, hơn Liverpool đúng một điểm, còn Liverpool chỉ hơn Manchester City đúng một bàn thắng. Arsenal kém City hai điểm, và tạo khoảng cách bốn điểm với đối thủ Tottenham Hotspur. Sunderland, Swansea và Hull vẫn chiếm ba vị trí xuống hạng, nhưng sự cải thiện lớn về phong độ của Sunderland khiến đội bóng này chỉ còn kém nhóm an toàn ba điểm và đứng cuối bảng chỉ vì ít hơn một điểm. Newcastle United và Brighton tiếp tục dẫn đầu Championship, lần lượt hơn đội xếp thứ ba là Reading sáu và bốn điểm. Birmingham City và Leeds United nay đã lọt vào nhóm play-off, còn Huddersfield chỉ vừa đủ bám trụ trong nhóm này. Ở cuối bảng, Rotherham United đã kém nhóm an toàn tới mười một điểm và thậm chí đã phải tìm huấn luyện viên thứ ba trong mùa giải sau khi Kenny Jackett bất ngờ từ chức. Cardiff City rơi trở lại nhóm xuống hạng vì hiệu số bàn thắng bại, còn Wigan Athletic vẫn ở đó. Wolves chỉ đứng ngoài nhóm xuống hạng nhờ hiệu số, với Blackburn Rovers và tân binh hạng Hai Burton Albion cũng chỉ hơn thêm một điểm. Gareth Southgate được xác nhận là huấn luyện viên tiếp theo của đội tuyển Anh.
  • 7 tháng 12: Tottenham Hotspur tiếp tục hiện diện tại cúp châu Âu sau khi đánh bại CSKA Moscow, đồng nghĩa với việc họ đứng thứ ba ở bảng đấu UEFA Champions League và qua đó giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp của UEFA Europa League.
  • 8 tháng 12: Manchester United giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp UEFA Europa League sau chiến thắng 2-0 trước Zorya Luhansk, nhưng việc Southampton không thể đánh bại Hapoel Be'er Sheva khiến đội bóng này bị loại.
  • 23 tháng 12: Sam Allardyce trở lại với bóng đá sau chưa đầy ba tháng, tiếp quản Crystal Palace đang vật lộn ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, sau khi đội bóng này sa thải Alan Pardew một ngày trước đó.
  • 31 tháng 12: Năm 2016 khép lại với việc Chelsea đã bứt hẳn khỏi nhóm bám đuổi, hiện hơn Liverpool sáu điểm. Manchester City kém Liverpool bốn điểm sau thất bại 0-1 tại Anfield trước đó trong ngày, còn Arsenal kém City hai điểm nhưng đá ít hơn một trận. Tottenham Hotspur vẫn đứng thứ năm, kém Arsenal một điểm và cũng còn một trận chưa đấu so với City. Swansea City nay đã rơi xuống đáy bảng và đang tìm huấn luyện viên thứ ba trong mùa giải sau triều đại thất bại của Bob Bradley tại đội bóng xứ Wales, còn Hull City chỉ hơn họ một điểm. Sự cải thiện liên tục của Sunderland đã đưa đội bóng này lên vị trí thứ 18 từ dưới lên, dù họ vẫn kém Crystal Palace hai điểm và đã chơi nhiều hơn một trận. Newcastle United và Brighton nay đã bỏ xa phần còn lại ở ngôi đầu Championship, còn Reading dẫn đầu cuộc đua play-off cực kì căng thẳng, theo sau là Huddersfield Town, Leeds United và Sheffield Wednesday, với Derby County đang hồi sinh chỉ kém Wednesday một điểm. Dù có tiến bộ gần đây, Rotherham United vẫn lún sâu ở cuối bảng, kém nhóm an toàn mười một điểm. Wigan Athletic còn sa lầy hơn nữa khi kém nhóm an toàn năm điểm, còn Blackburn Rovers trở lại nhóm xuống hạng, kém Cardiff City ba điểm trong khi đối thủ xứ Wales này còn một trận chưa đấu.
  • 7 tháng 1: Vòng Ba Cúp FA chứng kiến ba đội Giải bóng đá Ngoại hạng Anh bị loại bởi các đối thủ hạng dưới, khi Bournemouth bị đội EFL League One là Millwall đánh bại, còn Stoke City và West Bromwich Albion lần lượt gục ngã trước các đội Championship là Wolverhampton Wanderers và Derby County. Đội National League là Lincoln City cũng buộc đội Championship là Ipswich Town phải đá lại trận đá lại.
  • 12 tháng 1: Cựu huấn luyện viên đội tuyển Anh Graham Taylor qua đời vì đau tim, hưởng thọ 72 tuổi.
  • 17 tháng 1: Các trận đá lại vòng Ba Cúp FA tạo ra hai bất ngờ đáng chú ý, khi đội đầu bảng National League là Lincoln City loại Ipswich Town, còn đại diện National League khác là Sutton United loại AFC Wimbledon, qua đó thiết lập cuộc đối đầu ở vòng Bốn với đội Championship đang có phong độ cao là Leeds United.
  • 18 tháng 1: Chỉ bốn ngày sau khi hợp đồng cho mượn từ Burnley bị cắt ngắn, Patrick Bamford trở lại Middlesbrough từ Chelsea, lần này theo dạng chuyển nhượng chính thức với mức phí được cho là chưa tới 6 triệu bảng. Bamford từng ghi 19 bàn cho Boro hai mùa giải trước, trong mùa giải mà anh được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất Championship.
  • 28 tháng 1: Vòng Bốn Cúp FA tiếp tục chứng kiến đội đầu bảng National League là Lincoln City tạo địa chấn khi đánh bại đội đầu bảng Championship là Brighton & Hove Albion với tỉ số 3-1, trở thành đội ngoài hệ thống Football League thứ tám kể từ sau chiến tranh vào tới vòng Năm. Liverpool cũng bị đội Championship là Wolverhampton Wanderers loại, trong khi Newcastle United, đội đang đứng thứ hai tại Championship, bị đại diện League One là Oxford United đánh bại. Tottenham Hotspur cũng suýt bị loại bởi Wycombe Wanderers của EFL League Two, khi phải cần tới hai bàn thắng trong năm phút cuối mới giành quyền đi tiếp.
  • 29 tháng 1: Đội có thứ hạng thấp nhất còn lại tại Cúp FA là Sutton United cùng Lincoln City tiến vào vòng Năm sau khi đánh bại Leeds United 1-0, trở thành đội ngoài hệ thống Football League thứ chín kể từ sau chiến tranh vào tới vòng Năm, đồng thời bảo đảm rằng có hai đội ngoài hệ thống Football League góp mặt ở vòng 16 đội lần đầu tiên kể từ khi thể thức hiện tại của Cúp FA ra đời.
  • 31 tháng 1: Dù chuỗi thắng của Chelsea đã bị Tottenham và Liverpool chặn đứng, khoảng cách của họ ở ngôi đầu bảng vẫn được nới rộng lên chín điểm. Spurs vươn lên thứ hai, đứng trên Arsenal nhờ hiệu số bàn thắng bại. Chuỗi phong độ tệ hại khiến Liverpool tụt xuống thứ tư, nhưng đây lại là đội duy nhất trong nhóm đua vé châu Âu không bị phân tâm bởi các giải cúp quốc nội và châu Âu trong phần còn lại của mùa giải. Manchester City, Manchester United và Everton hoàn tất tốp bảy, trong đó cả ba đều còn một trận chưa đấu. Phong độ của Swansea cải thiện dưới thời Paul Clement và đội bóng này hiện đứng thứ 17, bằng điểm với Middlesbrough và Leicester. Crystal Palace rơi xuống nhóm xuống hạng, trong khi Hull và Sunderland kém Swansea năm điểm. Brighton hơn Newcastle hai điểm ở Championship; Reading kém Newcastle ba điểm nhưng đã chơi nhiều hơn hai trận. Leeds và Huddersfield đổi chỗ cho nhau ở vị trí thứ tư và thứ năm, còn Derby nay đã vào tốp sáu nhờ hiệu số bàn thắng bại. Nhóm xuống hạng không thay đổi, nhưng Blackburn và Wigan hiện kém Bristol City và Burton ba điểm, trong khi hai đội sau đều đá nhiều hơn một trận.
  • 18 tháng 2: Đội đầu bảng National League là Lincoln City làm nên lịch sử khi trở thành đội non-league đầu tiên lọt vào tứ kết Cúp FA kể từ năm 1912.
  • 20 tháng 2: Sutton United cuối cùng cũng dừng bước tại Cúp FA sau khi thua 0-2 trước nhà vô địch sau đó là Arsenal.
  • 23 tháng 2: Claudio Ranieri bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên Leicester City chưa đầy một năm sau chức vô địch gây sốc của đội bóng, trong bối cảnh câu lạc bộ vẫn còn thi đấu tại UEFA Champions League nhưng chỉ hơn nhóm xuống hạng một điểm. Tối cùng ngày, Tottenham Hotspur cũng bị loại khỏi UEFA Europa League sau khi chỉ hòa 2-2 trước Gent, qua đó bị loại với tổng tỉ số 2-3.
  • 25 tháng 2: Trận East Anglian derby giữa Ipswich và Norwich kết thúc với tỉ số 1-1, trong khi tại League One, hai pha cản phá phạt đền của Connor Ripley ở các phút 90 và 95 là đủ để Oldham Athletic, đội đang đối mặt nguy cơ xuống hạng, cầm hòa Millwall 0-0.
  • 26 tháng 2: Manchester United giành danh hiệu đầu tiên của mùa giải quốc nội khi đánh bại Southampton 3-2 nhờ bàn thắng muộn của Zlatan Ibrahimović.
  • 28 tháng 2: Khi mùa giải còn 12 trận đấu nữa, có vẻ như chức vô địch là của Chelsea nếu họ tự đánh mất, bởi đội bóng này đang hơn Spurs xếp thứ hai mười điểm. Manchester City đã vươn lên thứ ba, còn Arsenal vẫn đứng thứ tư. Chuỗi phong độ tệ của Liverpool trong năm 2017 khiến họ khép lại tháng 2 ở vị trí thứ năm, còn Manchester United vẫn đứng thứ sáu nhưng đá ít hơn một trận. Everton vẫn đứng thứ bảy — tùy thuộc vào đội vô địch Cúp FA (Liverpool là đội duy nhất trong tốp sáu đã bị loại cho tới lúc đó), suất cuối cùng của Anh tại UEFA Europa League có thể thuộc về đội bóng vùng Merseyside hoặc West Bromwich Albion, đội chỉ kém tám điểm. Nhóm xuống hạng vẫn như trong tháng 1, nhưng cuộc chiến trụ hạng ngày càng nóng khi chỉ có ba điểm cách biệt giữa Middlesbrough (thứ 17) và Sunderland (thứ 20). Tình hình có vẻ sáng sủa hơn với đối thủ vùng Đông Bắc của Sunderland là Newcastle, đội nay hơn Brighton hai điểm ở ngôi đầu Championship và hơn đội xếp thứ ba là Huddersfield tám điểm dù đã chơi nhiều hơn một trận. Leeds vẫn đứng thứ tư, Reading tụt xuống thứ năm, còn Sheffield Wednesday leo lên thứ sáu. Nhóm xuống hạng tại Championship không thay đổi trong tháng thứ hai liên tiếp.
  • 7 tháng 3: Arsenal bị loại nặng nề khỏi UEFA Champions League sau khi tiếp tục thua Bayern Munich 1-5, qua đó nhận thất bại chung cuộc 2-10. Dù huấn luyện viên Arsène Wenger cho rằng chiếc thẻ đỏ dành cho Laurent Koscielny đầu hiệp hai là nguyên nhân dẫn đến thất bại, mức độ nặng nề của trận thua càng làm dấy lên nhiều đồn đoán về tương lai của Wenger tại câu lạc bộ.
  • 11 tháng 3: Josh Wright ghi hat-trick từ chấm phạt đền chỉ trong chín phút cho Gillingham trong trận gặp câu lạc bộ cũ Scunthorpe United tại League One.
  • 14 tháng 3: Leicester City giành quyền vào tứ kết UEFA Champions League sau khi đánh bại Sevilla 2-0 tại Sân vận động King Power và thắng chung cuộc 3-2, trong đó pha cản phá phạt đền muộn của Kasper Schmeichel mang ý nghĩa quyết định.
  • 15 tháng 3: Manchester City bị loại khỏi UEFA Champions League sau khi thủng lưới muộn trong thất bại 1-3 trước Monaco, qua đó thua theo luật bàn thắng sân khách sau tổng tỉ số 6-6. Điều này cũng khiến City trở thành đội bóng Anh thứ hai bị Monaco loại trong mùa giải đó, sau Tottenham Hotspur ở vòng bảng, và để Leicester City trở thành đại diện Anh duy nhất còn lại tại giải đấu.
  • 16 tháng 3: Gareth Southgate triệu tập bốn cầu thủ chưa từng khoác áo đội tuyển — Michael Keane của Burnley, Michail Antonio của West Ham, cùng bộ đôi Nathan Redmond và James Ward-Prowse của Southampton — vào danh sách đội tuyển Anh chuẩn bị gặp Đức và Litva, đồng thời gọi lại sau quãng thời gian dài vắng mặt Jake Livermore và Jermain Defoe, những người lần gần nhất được triệu tập lần lượt là năm 2012 và 2013.
  • 17 tháng 3: Các đội bóng Anh còn sống sót ở cúp châu Âu tái ngộ những đối thủ cũ khi lễ bốc thăm đưa Leicester tại UEFA Champions League chạm trán Atlético Madrid, đội từng loại họ tại 1997-98 UEFA Cup, còn Manchester United tại UEFA Europa League gặp Anderlecht, đối thủ của họ ở UEFA Champions League 2000-01.
  • 31 tháng 3: Chelsea tiếp tục dẫn đầu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và nắm giữ khoảng cách mười điểm ngày càng khó bị san lấp với đội bám đuổi gần nhất là Tottenham Hotspur. Manchester City và Liverpool lần lượt kém Spurs hai và ba điểm, còn Liverpool hơn Manchester United thêm bốn điểm khi đội bóng này cuối cùng đã thoát khỏi vị trí thứ sáu, đẩy Arsenal xuống dưới. Sunderland vẫn đứng cuối bảng, trong khi Middlesbrough nay đã rơi vào nhóm xuống hạng, xếp sau Hull City. Newcastle United tiếp tục dẫn đầu Championship, hơn Brighton & Hove Albion bốn điểm. Sự chững lại của đội bóng bờ biển phía nam giúp Huddersfield Town áp sát trong khoảng cách ba điểm, còn Leeds United, Reading và Sheffield Wednesday tiếp tục chiếm giữ các vị trí play-off. Ở nửa dưới bảng xếp hạng, Rotherham United gần như chắc chắn xuống hạng, bởi đội bóng này cần thắng tất cả các trận còn lại đồng thời san lấp khoảng cách 40 bàn thắng để trụ hạng. Wigan Athletic cũng ngày càng có khả năng theo chân họ, khi kém nhóm an toàn bảy điểm. Blackburn Rovers vẫn ở trong nhóm xuống hạng nhưng nay chỉ còn kém ba đội phía trên đúng một điểm.
  • 1 tháng 4: Rotherham United trở thành đội bóng thuộc hệ thống giải chuyên nghiệp đầu tiên xuống hạng trong năm đó, sau khi thất bại trước Fulham khiến hi vọng trụ hạng của đội bóng chính thức chấm dứt.
  • 8 tháng 4: Sheffield United và Doncaster Rovers lần lượt giành quyền thăng hạng từ League One và League Two, trở thành những đội đầu tiên trong hệ thống giải chuyên nghiệp được thăng hạng ở mùa giải đó. Doncaster chỉ mới xuống hạng từ League One mùa trước, còn Sheffield United chấm dứt sáu năm vắng bóng tại Championship.
  • 14 tháng 4: Coventry City xuống hạng xuống League Two sau khi không thể đánh bại Charlton Athletic, trong một trận đấu bị phủ bóng bởi các cuộc biểu tình lặp đi lặp lại của cổ động viên hai đội nhằm vào chủ sở hữu tương ứng của mỗi câu lạc bộ, khiến trận đấu có lúc bị gián đoạn. Chesterfield, đội xếp ngay trên Coventry, cũng gần như chắc chắn xuống hạng sau thất bại trước Southend United, khiến The Spireites phải thắng toàn bộ các trận còn lại và bù đắp cách biệt 17 bàn để sống sót. Tại National League, cựu đội bóng thuộc Football League là Southport xuống hạng Sáu của bóng đá Anh sau khi The Sandgrounders không thể đánh bại Dover Athletic, qua đó chính thức nhận án xuống hạng khi mùa giải còn ba trận.
  • 15 tháng 4: Sheffield United trở thành nhà vô địch cấp giải đầu tiên của mùa giải mà không cần phải thi đấu, sau khi Bolton Wanderers không thể đánh bại Oldham Athletic, qua đó trao chức vô địch League One cho The Blades.
  • 17 tháng 4: Plymouth Argyle và Portsmouth giành quyền thăng hạng lên League One lần đầu tiên kể từ các năm 2011 và 2013. Chesterfield xuống hạng xuống League Two sau khi thua 1-3 trước Scunthorpe United tại Glanford Park. Cùng ngày, Brighton & Hove Albion bảo đảm trở lại hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1983 sau khi đánh bại Wigan Athletic và hưởng lợi từ việc Huddersfield Town không thể thắng Derby County trong trận đấu được truyền hình trực tiếp. Kết quả đó cũng đồng nghĩa đội bóng bờ biển phía nam chắc chắn thăng hạng, bởi đối thủ bám đuổi gần nhất là Newcastle United cần thắng cả ba trận còn lại mới có thể vượt qua họ.
  • 18 tháng 4: Leicester City, đại diện Anh cuối cùng còn lại tại UEFA Champions League, bị Atlético Madrid loại với tổng tỉ số 1-2 sau khi chỉ có thể hòa 1-1 trên sân nhà trước đại diện Tây Ban Nha.
  • 20 tháng 4: Manchester United giành quyền vào bán kết UEFA Europa League sau khi đánh bại Anderlecht bằng bàn thắng trong hiệp phụ tại Old Trafford, đánh dấu lần đầu tiên đội bóng tiến xa đến vậy ở giải đấu này.
  • 21 tháng 4: Trong bối cảnh Brighton & Hove Albion cần thắng trên sân Norwich City để đăng quang Championship, thủ môn David Stockdale lại phản lưới nhà tới hai lần theo cách hết sức kì lạ, khiến câu lạc bộ phải trì hoãn việc giành chức vô địch thêm một thời gian nữa.
  • 22 tháng 4: Leyton Orient, câu lạc bộ đang khủng hoảng tài chính, xuống hạng khỏi Football League lần đầu tiên trong lịch sử sau thất bại trước đối thủ cạnh tranh trụ hạng Crewe Alexandra. Theo chiều ngược lại là Lincoln City, đội bảo đảm trở lại Football League sau sáu năm vắng bóng nhờ chiến thắng trước Macclesfield Town.
  • 25 tháng 4: Huddersfield Town bảo đảm vị trí của mình trong 2017 Football League play-offs bằng chiến thắng trước Wolves.
  • 26 tháng 4: Tiền vệ Joey Barton của Burnley bị treo giò 18 tháng sau khi thừa nhận các vi phạm liên quan đến cá cược; cầu thủ này đã kháng cáo về thời hạn án phạt, vốn được đưa ra để đáp lại việc anh thực hiện "hơn 1.200" vụ cá cược bóng đá.
  • 27 tháng 4: Trận derby Manchester diễn ra vào tối thứ Năm tại Sân vận động City of Manchester kết thúc mà không có bàn thắng nào, còn cầu thủ bên phía đội khách là Marouane Fellaini bị truất quyền thi đấu.
  • 28 tháng 4: Tottenham Hotspur công bố rằng sau khi rời White Hart Lane vào tháng sau, đội bóng sẽ chơi các trận sân nhà của mùa giải tiếp theo tại Sân vận động Wembley, trước khi chuyển tới sân mới thuộc Northumberland Development Project, được xây dựng trên chính khu đất của sân vận động cũ.
  • 29 tháng 4: York City, đội từng thi đấu trong hệ thống giải vô địch từ năm 1930 đến năm 2004 và từ năm 2012 đến năm 2016, xuống hạng mùa giải thứ hai liên tiếp, trở thành đội đầu tiên từng bị rớt khỏi Football League rồi tiếp tục rớt khỏi hạng Năm trong hai mùa giải liên tiếp. Cùng ngày, Sunderland rớt khỏi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh lần đầu tiên kể từ năm 2006 sau khi thua AFC Bournemouth 0-1 tại Sân vận động Ánh sáng, còn Wigan Athletic phải nhận suất xuống hạng trở lại League One ngay lập tức sau thất bại 0-1 trước Reading tại Sân vận động Madejski. Trận sân nhà cuối cùng của mùa giải của Leyton Orient bị hoãn hai giờ và rốt cuộc phải hoàn tất trong sân không khán giả, sau khi cổ động viên của đội bóng đã xuống hạng tràn vào sân để phản đối cách điều hành câu lạc bộ của chủ sở hữu Francesco Becchetti.
  • 30 tháng 4: Bolton Wanderers trở lại Championship chỉ sau một mùa giải, sau chiến thắng 3-0 trước Peterborough United tại Sân vận động Macron. Ở chiều ngược lại của bảng xếp hạng League One, Port Vale xuống hạng sau trận hòa không bàn thắng trên sân Fleetwood Town, còn Fleetwood cùng với Scunthorpe United, Bradford City và Millwall giành quyền vào play-off.
  • 5 tháng 5: Tottenham, đội xếp thứ hai, bị West Ham đánh bại 1-0 tại Olympic, nơi họ từng hi vọng sẽ sử dụng làm sân nhà, qua đó bỏ lỡ cơ hội rút ngắn cách biệt với Chelsea ở ngôi đầu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh xuống còn một điểm; đây là kết quả được NBC Sports mô tả là "đêm mà nỗ lực vô địch mới nhất của Tottenham khép lại".
  • 8 tháng 5: Middlesbrough xuống hạng Championship sau thất bại 0-3 trên sân Chelsea, đội khi đó chỉ còn cần thêm một chiến thắng ở trận kế tiếp để vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.
  • 12 tháng 5: Chelsea chính thức trở thành nhà vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau chiến thắng 1-0 trên sân West Bromwich Albion. Bàn thắng quyết định được ghi bởi Michy Batshuayi.
  • 14 tháng 5: Hull City trở thành đội cuối cùng xuống hạng khỏi Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi bị Crystal Palace vùi dập 0-4 trên sân khách; chiến thắng đó cũng đồng thời bảo đảm vị thế ở hạng đấu cao nhất cho Crystal Palace ở mùa giải tiếp theo. Kết quả này cũng giúp Swansea City trụ hạng, sau khi đội bóng này đã đánh bại Sunderland 2-0 tại Sân vận động Ánh sáng vào ngày hôm trước.

Qua đời

Giải nghệ

Tham khảo

Bản mẫu:Tham khảo

Bản mẫu:Mùa giải bóng đá Anh Bản mẫu:Bóng đá nam Anh 2016–17 Bản mẫu:Bóng đá nữ Anh 2016–17 Bản mẫu:Bóng đá châu Âu (UEFA) 2016–17 Bản mẫu:Bóng đá nữ châu Âu (UEFA) 2016–17
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "[[:#switch: lower-alpha]]'"`UNIQ--item-14674--QINU`"'", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="[[:#switch: lower-alpha]]'"`UNIQ--item-14674--QINU`"'"/> tương ứng
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "[[:#switch: lower-alpha]]'"`UNIQ--item-14678--QINU`"'", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="[[:#switch: lower-alpha]]'"`UNIQ--item-14678--QINU`"'"/> tương ứng
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
17 GIỜ : 57 PHÚT : 51 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL