Quay lại

Tony Yogane

Số áo #7

Forward

Quốc tịch Flag England
Tuổi 20
Chiều cao 5' 10"
Cân nặng 150 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Aberdeen

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Brentford
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Brentford
Biệt danhThe Bees
Tên ngắn gọnBrentford
Thành lập10 tháng 10 năm 1889; 136 năm trước (1889-10-10)
SânSân vận động Cộng đồng Brentford
Sức chứa17.250
Chủ sở hữuMatthew Benham
Chủ tịch điều hànhCliff Crown
Huấn luyện viên trưởngKeith Andrews
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2025–26Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, hạng 9 trên 20
Websitebrentfordfc.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Brentford (tiếng Anh: Brentford Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Brentford, Tây London, Anh. Đội thi đấu tại Premier League, hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Có biệt danh là "The Bees", câu lạc bộ được thành lập vào năm 1889 và đã thi đấu các trận sân nhà tại Griffin Park từ năm 1904 trước khi chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford vào năm 2020.

Brentford ban đầu thi đấu nghiệp dư trước khi gia nhập London League vào năm 1896 và lần lượt kết thúc ở vị trí á quân của Second Division rồi First Division để giành quyền được bầu vào Southern League năm 1898. Đội vô địch Southern League Second Division mùa giải 1900-01 và được bầu vào Football League năm 1920. Brentford vô địch Third Division South mùa giải 1932-33 và vô địch Second Division mùa giải 1934-35. Câu lạc bộ trải qua một giai đoạn thành công ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, đạt đỉnh với vị trí thứ năm tại First Division ở mùa giải 1935-36, thành tích cao nhất của họ tại giải vô địch, trước khi ba lần xuống hạng liên tiếp đẩy đội xuống Fourth Division vào năm 1962. Họ lên ngôi vô địch Fourth Division mùa giải 1962-63, nhưng lại xuống hạng vào năm 1966 và một lần nữa vào năm 1973 sau khi giành quyền thăng hạng ở mùa giải 1971-72. Brentford trải qua 14 mùa giải tại Third Division sau khi thăng hạng ở mùa giải 1977-78 và tiếp tục vô địch Third Division mùa giải 1991-92, dù sau đó lại xuống hạng vào năm 1993.

Brentford xuống hạng xuống cấp độ thứ tư vào năm 1998 và giành quyền thăng hạng với tư cách đội vô địch ở mùa giải 1998-99. Câu lạc bộ xuống hạng vào năm 2007 và giành quyền thăng hạng với tư cách vô địch League Two mùa giải 2008-09, sau đó tiếp tục thăng hạng từ League One ở mùa giải 2013-14. Họ có những chiến dịch play-off Championship không thành công vào các năm 2015 và 2020. Brentford có thành tích không tốt ở các trận chung kết, khi kết thúc với vị trí á quân ở ba trận chung kết Associate Members' Cup/Football League Trophy (1985, 20012011) và thua bốn trận chung kết play-off (trận chung kết Second Division 1997, trận chung kết Second Division 2002, trận chung kết League One 2013 và trận chung kết Championship 2020). Tuy vậy, Brentford đã giành chiến thắng ở trận chung kết Championship 2021 để thăng hạng lên cấp độ cao nhất lần đầu tiên kể từ mùa giải 1946-47. Các đối thủ chính của đội là những câu lạc bộ cùng khu vực West London như FulhamQueens Park Rangers. Đội có liên kết với câu lạc bộ nữ Brentford Women.

Lịch sử

Vị trí của Brentford tại giải vô địch kể từ mùa giải 1920-21 của Football League.

1889-1920: Thành lập và những năm đầu

Năm 1889, thị trấn Brentford, Middlesex, là nơi đặt trụ sở của Brentford Rowing Club và Boston Park Cricket Club. Những nỗ lực thành lập các câu lạc bộ bóng đárugby trong thị trấn đều không thành cho tới khi một sân giải trí mới được mở cửa vào ngày 17 tháng 10 năm 1889. Bảy ngày trước đó, một cuộc họp đã diễn ra tại quán rượu Oxford & Cambridge gần Kew Bridge, trong đó các thành viên của câu lạc bộ chèo thuyền và câu lạc bộ cricket đã cố gắng quyết định cách sử dụng tốt nhất sân giải trí mới. Ngày 16 tháng 10 năm 1889, các thành viên câu lạc bộ chèo thuyền lại gặp nhau tại quán Oxford & Cambridge và bỏ phiếu quyết định rằng câu lạc bộ mới sẽ chơi bóng đá, đồng thời mang tên "Brentford Football Club".

Ngày 26 tháng 10 năm 1889, câu lạc bộ tổ chức trận đấu tập đầu tiên, còn ngày 23 tháng 11 là trận đấu chính thức đầu tiên của câu lạc bộ trước Kew, kết thúc với tỉ số hòa 1-1. Ở mùa giải 1892-93, Brentford lần đầu tiên tham dự một giải đấu — West London Alliance. Mùa giải 1894-95 là thời điểm Brentford lần đầu có biệt danh The Bees. Một nhóm người từ Borough Road College đã tới xem một trận đấu để cổ vũ người bạn của họ là Joseph Gettins, lúc đó đang chơi cho Brentford. Họ hô vang khẩu hiệu của trường là 'Buck up Bs!', nhưng truyền thông lại nghe thành 'Buck up bees!', và cái tên này gắn liền với câu lạc bộ từ đó.

Brentford tiếp tục chủ yếu chơi các trận cúp và giao hữu cho tới năm 1896, khi câu lạc bộ được bầu vào Second Division của London League. The Bees kết thúc ở vị trí thứ hai để giành quyền thăng hạng lên First Division. Những thành tích của Brentford tại London League và việc đội đã trở thành một trong những câu lạc bộ nghiệp dư hàng đầu ở London đã giúp câu lạc bộ được bầu vào Second Division (khu vực London) của Southern League cho mùa giải 1898-99. Câu lạc bộ trở thành một đội bóng chuyên nghiệp ở mùa giải 1899-1900 và giành được một suất ở hạng đấu cao nhất vào tháng 7 năm 1901 sau khi Gravesend United rút khỏi Southern League.

Brentford chuyển tới Griffin Park, sân nhà cố định đầu tiên của câu lạc bộ, kịp cho thời điểm bắt đầu của mùa giải 1904-05. The Bees lần đầu tiên lọt vào vòng Một chính thức của FA Cup ở mùa giải 1905-06, tiến tới vòng Ba trước khi dừng bước trước Liverpool tại Anfield. Dù phong độ ban đầu có cải thiện, 9 thất bại trong 11 trận cuối cùng của mùa giải 1912-13 khiến Brentford xuống hạng sau quãng thời gian 11 mùa giải ở First Division.

Vào tháng 7 năm 1915, Southern League hủy giải đấu của mình trong suốt thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất. Brentford thi đấu tại London Combination trong thời gian chiến tranh. Đội hình bị suy yếu nghiêm trọng vì nhiều cầu thủ được gọi nhập ngũ hoặc tham gia công việc phục vụ chiến tranh. Brentford vô địch London Combination mùa giải 1918-19, hơn đội xếp ngay sau là Arsenal bốn điểm. Brentford từ chối cơ hội nộp đơn xin được bầu vào Football League cho mùa giải 1919-20 và thay vào đó nộp đơn xin một suất ở First Division của Southern League, nơi đội được chấp thuận và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 15.

1920-1954: Khẳng định vị thế tại Football League và những năm tháng huy hoàng

Vào tháng 5 năm 1920, Brentford và 20 câu lạc bộ khác của Southern League First Division được bầu vào Football League với tư cách là những thành viên sáng lập của Third Division cho mùa giải 1920-21. 11 cầu thủ mới được kí hợp đồng và trận đấu đầu tiên của The Bees tại Football League diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1920 trên sân St James Park của Exeter City, với kết quả là thất bại 0-3. Dù Harry King ghi được 18 bàn, việc thiếu bàn thắng từ những vị trí khác trong đội khiến Brentford chỉ kết thúc ở vị trí thứ 21, nhưng câu lạc bộ vẫn được bầu lại vào giải mà không cần bỏ phiếu.

Tập tin:Harry Curtis, (huấn luyện viên bóng đá), 1926.jpg
Harry Curtis, được biết đến với biệt danh "The Guv'nor", là huấn luyện viên tại vị lâu nhất và thành công nhất của Brentford.

Mọi thứ thay đổi tại Griffin Park trong giai đoạn nghỉ giữa các mùa giải năm 1926, khi cựu huấn luyện viên GillinghamHarry Curtis được bổ nhiệm làm huấn luyện viên. Chỉ có 9 thành viên của đội hình mùa trước được giữ lại, nhưng dù Brentford chỉ kết thúc ở giữa bảng trong ba mùa giải tiếp theo, Curtis vẫn từ từ xây dựng lại đội hình. Mùa giải 1929-30 tại Third Division South đã đặt nền móng cho thành công sau này của The Bees, dù câu lạc bộ không thể giành quyền thăng hạng khi về sau Plymouth Argyle. The Bees băng băng tới chức vô địch Third Division South mùa giải 1932-33, với Jack Holliday ghi kỉ lục 39 bàn cho câu lạc bộ.

Sau khi đứng đầu bảng lần thứ ba trong mùa giải 1934-35 vào ngày 2 tháng 3 năm 1935, The Bees không còn đánh mất ngôi đầu nữa, thẳng tiến tới chức vô địch và giành quyền thăng hạng lên First Division lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Brentford cũng hoàn tất cú đúp độc đáo khi giành London Challenge Cup. Sau khi đi từ hạng Ba lên hạng Nhất chỉ trong ba mùa giải, huấn luyện viên Harry Curtis quyết định giữ nguyên đội hình cho mùa giải 1935-36 tại First Division. Việc mở rộng khu khán đài New Road terrace giúp sức chứa của Griffin Park tăng thêm 4.000 chỗ, qua đó tạo ra nguồn thu bổ sung. Sau 15 trận đấu, Brentford trông có vẻ chắc chắn sẽ xuống hạng, nhưng câu lạc bộ đã tạo ra một màn lội ngược dòng đáng kinh ngạc khi The Bees chỉ thua hai trong 23 trận cuối cùng và kết thúc ở vị trí thứ 5, thành tích cao nhất mọi thời đại của câu lạc bộ tại giải vô địch. Brentford tiếp tục thi đấu vượt xa kỳ vọng ở các mùa giải 1936-371937-38, khi cùng kết thúc ở vị trí thứ 6 trong cả hai mùa giải và lần đầu tiên lọt vào vòng Sáu của FA Cup ở mùa giải sau. Câu lạc bộ đạt tới đỉnh cao trong giai đoạn từ tháng 10 năm 1937 tới tháng 2 năm 1938, khi giữ ngôi đầu First Division trong 17 trận liên tiếp.

Mùa giải 1938-39 đánh dấu khởi đầu cho hồi kết của thời kì đỉnh cao của Brentford; đội chỉ vừa đủ tránh xuống hạng. Mùa giải 1939-40 chỉ kéo dài ba trận trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai khiến bóng đá thi đấu chính thức bị đình chỉ. Brentford thi đấu tại Football League South và London War League trong những năm chiến tranh, với phần lớn đội hình được bổ sung bằng các cầu thủ khách mời và những cầu thủ nghiệp dư trẻ, dù bộ khung của đội trước chiến tranh vẫn tiếp tục góp mặt trong phần lớn các trận đấu của câu lạc bộ. Ngày 30 tháng 5 năm 1942, The Bees giành chiến thắng 2-0 trước Portsmouth trong trận chung kết London War Cup tại Wembley Stadium.

Đội hình Brentford của mùa giải 1946-47, mùa giải thi đấu chính thức đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, được chống đỡ bởi bộ khung đã già nua của đội hình trước chiến tranh 1939-40, và điều đó dẫn tới việc The Bees xuống hạng khỏi First Division. Sau khi chỉ vừa đủ tránh được lần xuống hạng thứ hai liên tiếp ở mùa giải 1947-48, huấn luyện viên Harry Curtis thông báo rằng mùa giải 1948-49 sẽ là mùa giải cuối cùng của ông trên cương vị huấn luyện viên sau gần 23 năm nắm quyền. Mùa giải kết thúc với vị trí thứ 18 đáng thất vọng, dù đáng chú ý trận đấu vòng Sáu FA Cup trên sân nhà với Leicester City đã lập kỉ lục mới về số khán giả tới sân của câu lạc bộ với 38.678 người. Ở mùa giải 1953-54, việc Brentford xuống hạng xuống Third Division South được xác nhận ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải sau thất bại 1-3 trước Leicester City tại Griffin Park.

1954-1986: Sa sút và khó khăn tài chính

Việc xuống hạng xuống Third Division South vào cuối mùa giải 1953-54 đồng nghĩa mùa giải 1954-55 sẽ là mùa giải đầu tiên của Brentford ở hạng đấu thấp nhất sau 21 năm. Sau ba lần liên tiếp kết thúc trong tốp 6, sự sa sút bắt đầu ở mùa giải 1960-61, khi phong độ yếu kém trên sân cỏ đi kèm với tin tức từ phòng họp rằng câu lạc bộ đang gánh khoản nợ 50.000 bảng (tương đương £1.300.000 vào năm 2026).

Sau khi bán đi một số cầu thủ chủ chốt, The Bees kết thúc mùa giải 1961-62 ở vị trí áp chót của Third Division và xuống hạng, mở đầu cho những năm tháng lên xuống liên tục giữa Third Division và Fourth Division. Dù chỉ thắng bảy trong 14 trận cuối cùng của mùa giải, Brentford vẫn kết thúc mùa giải 1962-63 với tư cách nhà vô địch Fourth Division. Tuy vậy, ở mùa giải 1965-66, Billy Gray không thể ngăn đội xuống hạng trở lại Fourth Division. Vào tháng 12 năm 1966, chủ tịch Dunnett tiết lộ tại đại hội cổ đông thường niên của Brentford rằng câu lạc bộ đã lỗ 20.000 bảng trong năm tài chính trước đó và ông sẽ bán cổ phần của mình trong câu lạc bộ. Trước đó trong cùng tháng, các đội láng giềng Queens Park Rangers đã tiếp cận Brentford, đề xuất hai câu lạc bộ cùng sử dụng Griffin Park. Ngày 19 tháng 1 năm 1967, tin tức bùng nổ rằng Dunnett và người đồng cấp bên phía QPR là Jim Gregory đã đạt được thỏa thuận theo đó đối thủ của Brentford sẽ chuyển tới Griffin Park, sân Loftus Road của Rangers sẽ được tái phát triển thành khu nhà ở, còn Brentford, với tư cách một câu lạc bộ, sẽ không còn tồn tại.

Sau một tháng căng thẳng với các cuộc phản đối của người hâm mộ, những cuộc đàm phán và các khoản quyên góp lên tới 8.500 bảng (tương đương £180.000 vào năm 2026), một liên danh gồm sáu người do cựu chủ tịch Plymouth Argyle là Ron Blindell đứng đầu đã tiếp quản cổ phần của Dunnett vào ngày 23 tháng 2 năm 1967 và bảo đảm một khoản vay bắc cầu 104.000 bảng trong 12 tháng. Ngày hôm sau, với tư cách chủ tịch, Blindell tiếp quản quyền kiểm soát câu lạc bộ. Sau đó, người ta phát hiện rằng chủ tịch QPR Jim Gregory đã khơi lại sự quan tâm của mình đối với Griffin Park và đề nghị 250.000 bảng để sử dụng sân đấu này, số tiền đủ để xóa ngay khoản nợ 135.000 bảng của Brentford nếu câu lạc bộ chuyển tới Hillingdon. Tên gọi "Brentford Borough FC" thậm chí đã được chọn cho câu lạc bộ mới có trụ sở tại Hillingdon, nhưng một lần nữa Brentford được cứu vào phút chót, khi cựu giám đốc Walter Wheatley cho câu lạc bộ vay 69.000 bảng không tính lãi, hoàn trả trong vòng 12 tháng.

Dưới sự dẫn dắt của Frank Blunstone, Brentford giành quyền thăng hạng trở lại Third Division khi mùa giải vẫn còn hai trận. Tuy vậy, The Bees lại xuống hạng ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải 1972-73. Sau một giai đoạn củng cố lực lượng, Bill Dodgin Jr. đã đưa Brentford kết thúc ở vị trí thứ tư và giành quyền thăng hạng lên Third Division ở mùa giải 1977-78. Brentford vào tới trận chung kết cúp lớn đầu tiên trong lịch sử thi đấu chính thức ở mùa giải 1984-85, nhưng thua Wigan Athletic 1-3 trong trận chung kết Football League Trophy 1985 tại Wembley Stadium. Ở mùa giải 1988-89, The Bees lọt vào vòng Sáu FA Cup, nơi hành trình của họ kết thúc sau thất bại 0-4 trước Liverpool tại Anfield.

1986-2014: Câu lạc bộ lên xuống giữa các hạng đấu thấp

mùa giải 1991-92, sáu chiến thắng trong sáu trận cuối cùng giúp Brentford bứt lên để vô địch Third Division ở ngày thi đấu cuối cùng và giành quyền chơi bóng ở hạng Hai lần đầu tiên kể từ mùa giải 1953-54. Tuy vậy, Brentford lập tức trở lại hạng Ba. Năm 1996-97, Brentford lỡ suất thăng hạng khi thua Crewe Alexandratrận chung kết play-off. Ở mùa giải 1997-98, Brentford xuống hạng xuống Third Division ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải.

Vào tháng 6 năm 1998, cựu chủ tịch Crystal Palace là Ron Noades tiếp quản quyền sở hữu Brentford và tiến hành những thay đổi toàn diện trong toàn câu lạc bộ, đồng thời tự bổ nhiệm mình làm chủ tịch kiêm huấn luyện viên. The Bees vô địch Third Division mùa giải 1998-99 ở ngày thi đấu cuối cùng, sau khi đánh bại Cambridge United 1-0 trong trận “đội thắng giành tất cả” tại Abbey Stadium. Brentford lọt vào trận chung kết Football League Trophy 2001, nhưng thua Port Vale 1-2. Vào cuối mùa giải 2001-02, Brentford chỉ thiếu chút nữa là giành suất thăng hạng trực tiếp trước Reading ở ngày thi đấu cuối cùng. The Bees chỉ có thể giành một trận hòa trong trận đấu buộc phải thắng, trước khi sau đó thua Stoke City 0-2 ở trận chung kết play-off 2002.

Sau sự sụp đổ của ITV Digital, những ràng buộc tài chính mà Noades đặt lên câu lạc bộ khiến tân huấn luyện viên Wally Downes chỉ có trong tay một đội hình non kinh nghiệm, và việc rơi vào quản trị tài chính chỉ vừa được tránh khỏi vào tháng 8 năm 2002. Noades rời câu lạc bộ và trao quyền kiểm soát cho hội cổ động viên Bees United. Brentford chỉ vừa đủ tránh xuống hạng vào cuối mùa giải 2003-04. Ở cả mùa giải 2004-052005-06, Brentford đều lọt vào vòng Năm Cúp FA và vòng bán kết play-off. Năm 2006, Matthew Benham lần đầu tiên có liên hệ với Brentford khi quyên góp 500.000 bảng. Ông ẩn danh và được biết tới với biệt danh “Nhà đầu tư bí ẩn”. Dù khởi đầu tốt ở mùa giải 2006-07, Brentford chính thức xuống hạng vào ngày 9 tháng 4 năm 2007, và cuối cùng đứng cuối bảng. Mặc dù xuống hạng, tình hình tài chính của câu lạc bộ đã được cải thiện sau khi Matthew Benham chi gần 3 triệu bảng để tiếp quản một phần các khoản nợ của câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2007.

Vào tháng 7 năm 2009, Benham và Bees United đạt được một thỏa thuận dưới mật danh ‘Gecko’, theo đó ông đồng ý cấp 1 triệu bảng mỗi năm trong 5 năm, đổi lại việc nâng tỉ lệ cổ phần của mình lên 35% và có quyền lựa chọn trở thành chủ sở hữu của Brentford vào năm 2014. Dưới sự dẫn dắt của Andy Scott, The Bees vô địch League Two sau chiến thắng ở trận áp chót của mùa giải 2009-10. Mùa giải 2010-11 trở nên đáng nhớ nhờ hành trình cúp của Brentford, khi đội vào tới vòng Bốn League Cup và lọt vào trận chung kết Football League Trophy 2011, nơi họ thua Carlisle United 0-1. Vào tháng 6 năm 2012, Benham mua lại toàn bộ câu lạc bộ từ Bees United. Tuy nhiên, Bees United vẫn giữ một vị trí trong ban lãnh đạo câu lạc bộ. Brentford chỉ còn cách suất thăng hạng trực tiếp lên Championship đúng một quả phạt đền ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải 2012-13, khi thua Doncaster Rovers 0-1 tại Griffin Park, đội bóng chỉ cần một trận hòa để giành suất thăng hạng trực tiếp. Cuối cùng, The Bees lại để thua Yeovil Town trong trận chung kết play-off 2013. Dù khởi đầu mùa giải không tốt, Mark Warburton đã đưa The Bees giành quyền thăng hạng trực tiếp lên Championship vào ngày 18 tháng 4 năm 2014, điều được xác nhận bằng trận sân nhà gặp Preston North End.

2014-nay: Thăng tiến tới Premier League và khẳng định vị thế ở hạng đấu cao nhất

Tập tin:Sân vận động Cộng đồng Brentford 2020.jpg
Câu lạc bộ rời Griffin Park và chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford vào tháng 8 năm 2020.

Trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng Hai kể từ năm 1993, Brentford kết thúc ở vị trí thứ 5 nhưng thua Middlesbrough ở vòng bán kết play-off. Dưới sự dẫn dắt của Dean Smith, Brentford trở thành một đội bóng ổn định tại Championship. Người kế nhiệm Smith, Thomas Frank, đã đưa Brentford vào tới trận chung kết play-off Championship 2020 sau khi đứng thứ ba tại giải, nhưng lại thua 1-2 trước đối thủ cùng khu Tây London là Fulham. Trong giai đoạn nghỉ giữa các mùa giải năm 2020, câu lạc bộ rời Griffin Park (sân nhà của họ trong 116 năm) và chuyển tới Sân vận động Cộng đồng Brentford, một sân vận động toàn chỗ ngồi có sức chứa 17.250 chỗ. Brentford cuối cùng cũng phá được lời nguyền play-off sau khi trước đó đã thua 9 trong 9 chiến dịch play-off, khi đó là một kỉ lục quốc gia, và làm tốt hơn nữa ở vòng play-off năm 2021, giành quyền thăng hạng lên Premier League bằng chiến thắng 2-0 trước Swansea City trong trận chung kết play-off Championship 2021.

Brentford chơi ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh lần đầu tiên sau 74 năm. Frank đã đưa đội bóng của mình kết thúc ở các vị trí thứ 13, thứ 9, thứ 16 và thứ 10 trong bốn mùa giải đầu tiên của Brentford tại Premier League, trước khi cuối cùng rời câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2025 để dẫn dắt Tottenham Hotspur. Keith Andrews sau đó được công bố là người kế nhiệm ông vào cuối tháng đó.

Vào tháng 2 năm 2026, đạo diễn điện ảnh người Anh Sir Matthew Vaughn đã tăng gấp đôi khoản đầu tư của mình vào Brentford FC, bơm thêm 40 triệu bảng để tăng cường sức mạnh cho câu lạc bộ trong bối cảnh đội hướng tới mục tiêu giành quyền dự cúp châu Âu.

Các sân đấu hiện tại và trước đây

  • Clifden Road (1889-1891)
  • Benn's Field (1891-1895)
  • Shotter's Field (1895-1898)
  • Cross Roads (1898-1900)
  • York Road (1900-1904)
  • Griffin Park (1904-2020)
  • Gtech Community Stadium (2020-nay)

Cầu thủ

Đội một

Tính đến 3 tháng 2 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Cộng hòa Ireland Caoimhín Kelleher
2 HV Scotland Aaron Hickey
3 HV Jamaica Rico Henry
4 HV Hà Lan Sepp van den Berg
5 HV Jamaica Ethan Pinnock
7 Đức Kevin Schade
8 TV Đan Mạch Mathias Jensen
9 Brasil Igor Thiago
10 TV Anh Josh Dasilva
11 Anh Reiss Nelson (mượn từ Arsenal)
12 TM Iceland Hákon Valdimarsson
14 TV Bồ Đào Nha Fábio Carvalho
Số VT Quốc gia Cầu thủ
17 TV Hà Lan Antoni Milambo
18 TV Ukraina Yehor Yarmolyuk
19 Burkina Faso Dango Ouattara
20 HV Na Uy Kristoffer Ajer
22 HV Cộng hòa Ireland Nathan Collins (đội trưởng)
23 TV Anh Keane Lewis-Potter
24 TV Đan Mạch Mikkel Damsgaard
27 TV Đức Vitaly Janelt
31 TM Anh Ellery Balcombe
33 HV Ý Michael Kayode
41 TM Hoa Kỳ Julian Eyestone
45 Anh Romelle Donovan
47 Bỉ Kaye Furo

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
13 TM Anh Matthew Cox (tại Shrewsbury Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
15 TV Nigeria Frank Onyeka (tại Coventry City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
26 TV Thổ Nhĩ Kỳ Yunus Emre Konak (tại Oxford United tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
21 HV Anh Jayden Meghoma (tại Rangers tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
28 TV Anh Ryan Trevitt (tại Wigan tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
36 HV Hàn Quốc Kim Ji-soo (tại Kaiserslautern tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
39 Brasil Gustavo Nunes (tại Swansea City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
43 Anh Benjamin Arthur (tại Celtic tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Brentford B

Tính đến 16 tháng 1 năm 2026

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
48 TV Bỉ Luka Bentt
49 HV Anh Ollie Shield
50 HV Anh Josh Stephenson
TM Anh Reggie Rose
TM Zimbabwe Marley Tavaziva
TM Đức Connor Wolfheimer
HV Cộng hòa Ireland Val Adedokun
HV Anh Gregory Asemokhai
HV Anh Caelan Avenell
HV Litva Matas Klimas
HV Anh Maxwell McKnight
Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Cộng hòa Ireland Conor McManus
HV Anh Luca Picotto
TV Anh Andre Grey
TV Anh Theo Mawene
TV Anh Riley Owen
TV Anh Kyrie Pierre
Bénin Michel Boni
Anh Isaac Holland
Scotland Ethan Laidlaw
Anh Michael McSorley

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Nigeria Benjamin Fredrick (tại Dender tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TV Anh Ethan Brierley (tại Exeter City tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Wales Iwan Morgan (tại Shrewsbury Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
Anh Michael Olakigbe (tại Swindon Town tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
TV Anh Ben Krauhaus (tại Bromley tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Anh Tony Yogane (tại Dundee tới ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Ban huấn luyện

Tính đến 9 tháng 9 năm 2025

Đội một

Tên Vai trò
Cộng hòa Ireland Keith Andrews Huấn luyện viên trưởng
Cộng hòa Ireland Kevin O'Connor Trợ lí huấn luyện viên
Scotland Neil MacFarlane Trợ lí huấn luyện viên đội một
Thổ Nhĩ Kỳ Mehmet Ali Trợ lí huấn luyện viên đội một
Anh Jack Lester Trợ lí huấn luyện viên đội một
Tây Ban Nha Manu Sotelo Huấn luyện viên thủ môn
Cộng hòa Ireland Stephen Rice Huấn luyện viên bóng chết
Anh Ben Ryan Giám đốc hiệu suất
Anh Josh Kirk Trưởng bộ phận phân tích
Anh Luke Stopforth Trưởng bộ phận dữ liệu và công nghệ
Anh Bob Oteng Quản lí hậu cần trang phục
Anh Dr. Stephen Thompson Trưởng bộ phận y tế
Wales Rhys Weston Trưởng bộ phận hoạt động bóng đá

Brentford B

Tên Vai trò
Anh Sam Saunders Huấn luyện viên trưởng
Phần Lan Jani Viander Huấn luyện viên thủ môn
Cameron Tucker-White Huấn luyện viên thể lực
Alex Davis Huấn luyện viên hiệu suất
Anh Haydee Agras Chuyên viên phân tích
Anh Jordan Marley Quản lí trang phục

Ban quản lí

Tính đến 30 tháng 1 năm 2025
Tên Vai trò
Matthew Benham Chủ sở hữu
Cliff Crown Chủ tịch
Jon Varney Giám đốc điều hành,
thành viên điều hành
Lisa Skelhorn Thư kí câu lạc bộ
Roger Crook
Phil Giles Giám đốc bóng đá,
thành viên điều hành
Lee Dykes Giám đốc kĩ thuật
Nity Raj Cố vấn pháp lí tổng quát,
thành viên điều hành
Deji Davies Thành viên không điều hành
Stuart Hatcher
Preeti Shetty
Marcus Gayle Đại sứ câu lạc bộ
Peter Gilham

Biệt danh

Biệt danh của Brentford là "The Bees". Biệt danh này được tạo ra một cách tình cờ bởi các sinh viên của Borough Road College vào thập niên 1890, khi họ tới xem một trận đấu và hô vang khẩu hiệu của trường là “buck up Bs” để cổ vũ cho người bạn của họ, cũng là cầu thủ Brentford khi đó, Joseph Gettins. Các tờ báo địa phương nghe nhầm thành “Buck up Bees”, và biệt danh này gắn với câu lạc bộ từ đó.

Màu sắc và huy hiệu

Màu sân nhà chủ đạo của Brentford là áo sọc đỏ-trắng, quần đen và tất đỏ hoặc đen. Đây là những màu sân nhà chủ đạo của câu lạc bộ kể từ mùa giải 1925-26, ngoại trừ một mùa giải là 1960-61 khi màu vàng (gold) và xanh được sử dụng nhưng không thành công. Màu áo khi gia nhập Football League, ở mùa giải 1920-21, là áo trắng, quần xanh navy và tất xanh navy. Trang phục sân khách thay đổi qua nhiều năm, với màu hiện tại là áo và tất hồng nhạt, quần tím, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử câu lạc bộ. Bộ trang phục này có chi tiết cài cúc với cổ áo gân nổi. Huy hiệu Brentford xuất hiện với màu tím và tay áo có cổ tay in sọc.

Brentford đã sử dụng nhiều huy hiệu khác nhau trên áo đấu kể từ khi được thành lập vào năm 1889. Huy hiệu đầu tiên, vào năm 1893, là một tấm khiên trắng, có chữ ‘BFC’ màu xanh và một đường lượn sóng màu xanh, được cho là tượng trưng cho dòng sông và câu lạc bộ chèo thuyền, đơn vị đã sáng lập câu lạc bộ bóng đá. Huy hiệu được biết tới tiếp theo là huy hiệu của hạt Middlesex, xuất hiện trên các áo đấu do một cổ động viên của câu lạc bộ tặng vào năm 1909. Huy hiệu Brentford and Chiswick chỉ được sử dụng trong một mùa giải, ở mùa giải 1938-39. Huy hiệu tiếp theo xuất hiện ở mùa giải 1971-72, là một tấm khiên chia thành bốn ô, trong đó một ô có tổ ong và ong, một ô khác có ba thanh kiếm seax, còn hai ô còn lại là các sọc đỏ và trắng. Năm 1972, câu lạc bộ tổ chức một cuộc thi thiết kế huy hiệu mới, và phương án chiến thắng thuộc về ông B. G. Spencer, với thiết kế hình tròn có một con ong, các sọc và năm thành lập là 1888. Huy hiệu này được đưa vào sử dụng năm 1973 và tồn tại tới tháng 5 năm 1975, khi Graham Haynes thông báo cho câu lạc bộ rằng câu lạc bộ được thành lập năm 1889 chứ không phải 1888. Vì vậy, một huy hiệu mới, được cho là do Dan Tana – chủ tịch câu lạc bộ khi đó – thiết kế, đã được đưa vào sử dụng cho mùa giải 1975-76 và kéo dài tới năm 1994, khi huy hiệu hiện tại được giới thiệu. Năm 2011, Russell Grant tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn với BBC rằng mình là người thiết kế huy hiệu này; tuy nhiên, trên thực tế huy hiệu này được cổ động viên Andrew Henning thiết kế vào năm 1993 cho hai mẫu vé mùa giải, theo đề nghị của Keith Loring, giám đốc điều hành khi đó. Năm 2017, câu lạc bộ thiết kế lại huy hiệu theo phong cách hiện đại hơn, gọn hơn, với khả năng sử dụng linh hoạt trong in hai màu. Thiết kế là một vòng tròn kép với tên câu lạc bộ và năm thành lập màu trắng trên nền đỏ, cùng một con ong lớn ở trung tâm.

Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu

Giai đoạn Nhà cung cấp trang phục Nhà tài trợ áo đấu (mặt trước) Nhà tài trợ tay áo Nhà tài trợ sau lưng Nhà tài trợ quần
1975-1976 Umbro Không có Không có Không có Không có
1977-1980 Bukta
1980-1981 Adidas
1981-1984 Osca DHL
1984-1986 KLM
1986-1988 Spall
1988-1990 Hobott
1990-1992 Chad
1992-1995 Hummel
1995-1996 Core Ericsson
1996-1998 Cobra
1998-2000 Super League GMB
2000-2002 Patrick
2002-2003 TFG
2003-2004 St. George PLC
2004-2005 UK Packaging UK Packaging
2005-2006 Lonsdale
2006-2007 Samvo Group
2007-2008 Puma
2008-2009 Hertings (Home) & MKT Computers (Away) Intermode Shipping (Home) & Cardiac Risk in the Young (Away) MKT Computers (Home)
2009-2010 SPIT Tools (Home) & Cardiac Risk in the Young (Away) Reliable Networks
2010-2011 Hertings (Home) & Bathwise (Away) Reliable Networks Thames Valley University
2011-2012 Không có Không có
2012-2013 SkyEx.co.uk Reliable Networks
2013-2014 Adidas Reliable Networks (Home)
2014-2015 Matchbook.com Matchbook.com
2015-2016 Matchbook.com Không có
2016-2017 888sport
2017-2019 LeoVegas
2019-2020 Umbro EcoWorld London
2020-2021 Utilita Hollywoodbets Hollywoodbets
2021-2023 Hollywoodbets SafetyCulture Không có
2023-2025 PensionBee
2025-nay Joma Cazoo

Kình địch

Các đối thủ chính của Brentford là Fulham, ChelseaQueens Park Rangers. Câu lạc bộ có mối kình địch lâu đời với Fulham. Trong quá khứ, cặp đấu này từng bị vấy bẩn bởi bạo lực đám đông. Mối kình địch giữa Brentford và Queens Park Rangers trở nên gay gắt hơn vào năm 1967, khi Rangers thất bại trong nỗ lực thâu tóm The Bees, một động thái mà nếu thành công sẽ khiến Rangers chuyển tới Griffin Park còn Brentford rời khỏi Football League. Cũng như ở các mối kình địch với Fulham và Chelsea, cặp đấu này luôn khiến cảm xúc dâng cao trong cả hai nhóm cổ động viên khi niềm tự hào địa phương bị đặt lên bàn cân.

Liên kết quốc tế

Vào tháng 2 năm 2013, có thông báo rằng Brentford đã thiết lập quan hệ hợp tác với câu lạc bộ UMF Selfoss của giải 1. deild karla tại Iceland, qua đó cho phép Brentford gửi các cầu thủ trẻ và đội phát triển sang Iceland để tích lũy kinh nghiệm. Sự hợp tác này cũng giúp hai câu lạc bộ trao đổi triết lí huấn luyện và cho phép Brentford tận dụng mạng lưới tuyển trạch của UMF Selfoss. Vào tháng 5 năm 2013, đội ngũ Brentford thiết lập liên kết với câu lạc bộ hạng dưới của UgandaGulu United trong khuôn khổ dự án “United for United”, nhằm xây dựng trại huấn luyện trẻ đầu tiên của khu vực và phát hiện các cầu thủ tài năng. Chủ sở hữu Brentford là Matthew Benham trở thành cổ đông chi phối của câu lạc bộ Đan Mạch FC Midtjylland vào năm 2014, và đội ngũ nhân sự của hai câu lạc bộ đã chia sẻ ý tưởng với nhau. Năm 2023, Benham bán FC Midtjylland cho tỉ phú Đan Mạch Anders Holch Povlsen, vì vậy hiện hai đội không còn là các câu lạc bộ chị em nữa. Vào tháng 4 năm 2025, có thông báo rằng công ty mẹ của Brentford FC, Best Intentions Analytics, đang mua lại 100% quyền sở hữu đội bóng Tây Ban Nha Asociación Deportiva Mérida (Mérida AD). Tương tự như những mối liên kết quốc tế trước đây, động thái này giúp việc tiếp cận thị trường Tây Ban Nha và các mạng lưới tuyển trạch trở nên dễ dàng hơn.

Các câu lạc bộ liên kết

Trong văn hóa đại chúng

  • Câu lạc bộ thường xuyên được nhắc tới trong loạt phim hài của BBC People Just Do Nothing. Nhân vật DJ Beats thường mặc áo khoác Brentford, còn phòng của Angel đầy những vật kỉ niệm về Brentford.
  • Diễn viên kiêm danh hài Bradley Walsh từng là cầu thủ chuyên nghiệp của câu lạc bộ vào cuối thập niên 1970, nhưng chưa bao giờ có tên trong đội hình đội một.
  • Dan Tana, diễn viên và chủ nhà hàng ở Hollywood, từng là thành viên ban lãnh đạo và giữ chức chủ tịch câu lạc bộ.
  • Người mẫu Stephen James từng chơi cho đội trẻ của câu lạc bộ trước khi bị thanh lí vào năm 2008.
  • Nghệ sĩ giải trí Vic Oliver từng giữ chức phó chủ tịch câu lạc bộ vào đầu thập niên 1950, và sau đó là chủ tịch hội cổ động viên Brentford.
  • Chính trị gia Jack Dunnett từng là chủ tịch câu lạc bộ trong giai đoạn từ năm 1961 tới năm 1967.
  • Cựu nghệ sĩ keyboard của Yes và nghệ sĩ solo Rick Wakeman từng là giám đốc của câu lạc bộ trong một năm vào 1979.
  • Tay guitar của RadioheadEd O'Brien là một cổ động viên và cũng là người sở hữu vé mùa giải.
  • Tay bass của Status QuoJohn "Rhino" Edwards là một cổ động viên; ông đã sáng tác và thu âm một ca khúc dành cho cầu thủ Brentford Lloyd Owusu.
  • Trong mùa Hai của Ted Lasso, Brentford được nhắc đến như là đối thủ lớn nhất của AFC Richmond.

Danh hiệu

Nguồn:

Giải vô địch

Cúp

Danh hiệu thời chiến

Thành tích tốt nhất

Ghi chú

  1. ^ Không có hệ thống thăng hạng vào thời điểm đó.

Tham khảo

Tài liệu dẫn

  • White, Eric, biên tập (1989). 100 Years of Brentford. Oldfield Press. ISBN 0-9515262-0-0.
  • Haynes, Graham (1998). A-Z of Bees: Brentford Encyclopaedia. Harefield: Yore Publications. ISBN 1-874427-57-7.
  • Haynes, Graham; Coumbe, Frank (2006). Timeless Bees: Brentford F.C. Who's Who 1920-2006. Harefield: Yore Publications. ISBN 0955294916.
  • Croxford, Mark; Lane, David; Waterman, Greville (2013). The Big Brentford Book of the Nineties. Sunbury, Middlesex: Legends Publishing. ISBN 9781906796723.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Các trang web độc lập

Bản mẫu:Brentford F.C.

Thống kê chỉ số

Số trận 1 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 2
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0