Ryunosuke Sato
Số áo #39Midfielder
Japan
Câu lạc bộ hiện tại
Valencia
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Satō Ryūnosuke | ||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 16 tháng 10, 2006 | ||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Nishitōkyō, Tokyo, Nhật Bản | ||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,71 m (5 ft 7 in) | ||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ tấn công | ||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Valencia | ||||||||||||||||||||||
| Số áo | 39 | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||
| 2013 | Hekizan SC | ||||||||||||||||||||||
| 2014–2018 | JACPA Tokyo | ||||||||||||||||||||||
| 2016–2023 | FC Tokyo | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2023–2026 | FC Tokyo | 3 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2025 | → Fagiano Okayama (mượn) | 28 | (6) | ||||||||||||||||||||
| 2026– | Valencia | 0 | (0) | ||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2022 | U-16 Nhật Bản | 5 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2023 | U-17 Nhật Bản | 10 | (3) | ||||||||||||||||||||
| 2023 | U-18 Nhật Bản | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2024 | U-19 Nhật Bản | 5 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2024–2025 | U-20 Nhật Bản | 13 | (4) | ||||||||||||||||||||
| 2024– | U-23 Nhật Bản | 3 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2025– | Nhật Bản | 5 | (0) | ||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 10 tháng 12 năm 2025 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 6 tháng 3 năm 2026 | |||||||||||||||||||||||
Satō Ryūnosuke (佐藤 龍之介 (Tá-Đằng Long-Chi-Giới) sinh ngày 16 tháng 10 năm 2006) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Nhật Bản hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ Valencia tại La Liga và đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản.
Sự nghiệp câu lạc bộ
FC Tokyo
Bắt đầu sự nghiệp
Sinh ra tại Nishitōkyō, Tokyo, Satō bắt đầu sự nghiệp của mình với Hekizan SC vào năm 2013, trước khi chuyển đến JACPA Tokyo, tốt nghiệp chương trình đào tạo vào năm 2018. Gia nhập học viện của câu lạc bộ chuyên nghiệp FC Tokyo từ năm 2016, nơi anh tập luyện tại cơ sở ở Kodaira, anh được chuyển đến đội Musashi vào năm 2019.
Sau khi theo dõi anh thi đấu ở cấp độ U-13, giám đốc học viện FC Tokyo khi đó là Okuhara Takashi nhận xét rằng, mặc dù anh thể hiện kỹ thuật tốt nhưng thể chất còn yếu và chưa cho thấy đủ sự quyết tâm. Tại các buổi tập trung của đội tuyển quốc gia khi vẫn còn là cầu thủ U-13, anh đã đặt mục tiêu tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2023, sau khi được các huấn luyện viên Moriyama Yoshiro và Hiroyama Nozomi thúc đẩy.
2023–2024: Ra mắt đội một
Anh đã có trận ra mắt chuyên nghiệp cho FC Tokyo vào ngày 8 tháng 3 năm 2023, đá chính trong trận thua 0–1 tại J.League Cup trước Cerezo Osaka. Với lần ra mắt này, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất từng thi đấu cho FC Tokyo, phá vỡ kỷ lục do Kubo Takefusa nắm giữ. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2023, Satō đã ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với FC Tokyo. Chỉ được ra sân trong ba trận đấu tại giải vô địch quốc gia ở mùa giải 2024, Satō bày tỏ sự thất vọng vì không được thi đấu thường xuyên hơn, cho biết điều đó đã ảnh hưởng đến tinh thần của anh.
2025: Cho mượn tại Fagiano Okayama
Vào tháng 1 năm 2025, Satō gia nhập câu lạc bộ cùng thi đấu tại J1 League là Fagiano Okayama theo bản hợp đồng cho mượn kéo dài một năm. Anh đã ghi bàn cho Fagiano Okayama trong trận "Derby Chūgoku" đầu tiên gặp đội bóng cùng vùng Chūgoku là Sanfrecce Hiroshima vào ngày 12 tháng 4 năm 2025, bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 của Fagiano Okayama. Bàn thắng này là pha lập công thứ hai của anh cho câu lạc bộ, sau khi đã ghi bàn vào lưới Cerezo Osaka một tuần trước đó, và anh tiếp tục ghi bàn trong trận đấu tiếp theo của Fagiano Okayama gặp Kashima Antlers. Chuỗi phong độ ghi bàn này đã giúp anh được vinh danh là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng của J1 League vào tháng 4.
Các giải thưởng Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng của J1 League tiếp theo đến vào cả tháng 7 và tháng 10, khi màn trình diễn của anh tiếp tục nhận được lời khen ngợi từ truyền thông Nhật Bản. Vào cuối mùa giải, anh được vinh danh là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của J1 League, đánh dấu một chiến dịch cá nhân thành công với Fagiano Okayama khi anh giúp câu lạc bộ cán đích ở vị trí thứ 13 trong năm đầu tiên họ tham dự J1 League.
Sự nghiệp quốc tế
Đội trẻ
Trở về sớm từ Giải đấu Maurice Revello 2024 sau khi rút lui khỏi đội hình, Satō được triệu tập vào đội tuyển U-23 Nhật Bản cho trận giao hữu gặp Pháp vào ngày 17 tháng 7 năm 2024. Chỉ một tuần sau, anh thi đấu cho đội tuyển U-19 Nhật Bản, ghi hai bàn vào lưới Đại học Ryukoku trong chiến thắng 4–2 ở trận đấu tập.
Được triệu tập vào đội tuyển U-20 tham dự Cúp bóng đá U-20 châu Á 2025, Satō đã góp mặt trong bốn trong số năm trận đấu của Nhật Bản, ghi bàn trong chiến thắng 3–0 trước Thái Lan. Sau đó, anh bày tỏ sự thất vọng vì không thể giúp Nhật Bản vô địch giải đấu, sau khi họ bị Úc loại ở bán kết. Anh lại được triệu tập vào đội tuyển U-20 tham dự Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2025, tuyên bố rằng "mục tiêu cá nhân là ghi ba bàn thắng và có ba đường kiến tạo, và với tư cách là một đội, tôi muốn hướng tới chức vô địch".
Đội tuyển quốc gia
Vào tháng 6 năm 2025, anh được triệu tập vào đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản tham dự vòng loại thứ 3 của vòng loại FIFA World Cup 2026. Trong trận ra mắt gặp Indonesia trong chiến thắng 6–0 của Nhật Bản vào ngày 12 tháng 6 năm 2025, anh đã phá vỡ kỷ lục của Kagawa Shinji để trở thành cầu thủ trẻ nhất đại diện cho Nhật Bản tại vòng loại World Cup, đồng thời là cầu thủ trẻ thứ tư từng thi đấu cho Nhật Bản. Sau lần khoác áo thứ năm, trong trận giao hữu thắng 2–0 trước Ghana, Satō bày tỏ mong muốn phá vỡ kỷ lục của Kaneda Nobutoshi với tư cách là cầu thủ ghi bàn trẻ nhất của Nhật Bản.
Phong cách thi đấu
Chủ yếu là một tiền vệ, có khả năng chơi cả vai trò tấn công lẫn phòng ngự, Satō được sử dụng như một tiền đạo cánh phải và một hậu vệ biên trong thời gian thi đấu cho Fagiano Okayama. Anh được biết đến với nền tảng thể lực sung mãn, có khả năng bao quát những quãng đường lớn trong các trận đấu.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 20 tháng 5 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Cúp liên đoàn | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| FC Tokyo | 2023 | J1 League | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 |
| 2024 | 3 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 5 | 0 | ||
| 2025 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | ||
| 2026 | — | 4 | 0 | 4 | 0 | |||||||
| Tổng cộng | 3 | 0 | 1 | 0 | 3 | 0 | 4 | 0 | 11 | 0 | ||
| Fagiano Okayama (mượn) | 2025 | J1 League | 28 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 28 | 6 |
| Valencia | 2026–27 | La Liga | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 0 | 0 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 31 | 6 | 1 | 0 | 3 | 0 | 4 | 0 | 39 | 6 | ||
- Ghi chú
- ^ Bao gồm Cúp Hoàng đế, Copa del Rey
- ^ Bao gồm J.League Cup
- ^ Số lần ra sân tại J1 League Tầm nhìn 100 năm
Quốc tế
- Tính đến 10 tháng 12 năm 2025
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Nhật Bản | 2025 | 5 | 0 |
| Tổng cộng | 5 | 0 | |
Danh hiệu
U-23 Nhật Bản
Nhật Bản
Cá nhân
- Cầu thủ xuất sắc nhất Cúp bóng đá U-23 châu Á: 2026
- Vua phá lưới Cúp bóng đá U-23 châu Á: 2026
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng của J1 League: Tháng 4 năm 2025, Tháng 7 năm 2025, Tháng 10 năm 2025
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất J.League: 2025
- Đội hình xuất sắc nhất vòng khu vực phía Đông J1 League Tầm nhìn 100 năm: 2026
Ghi chú
- ^ Bằng số bàn thắng với cả Ali Azaizeh, Nguyễn Đình Bắc và Leonardo Farah Shahin
Tham khảo
Thống kê chỉ số