Pablo Martínez
Số áo #18Midfielder
Spain
Câu lạc bộ hiện tại
Málaga
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Gavi thi đấu trong màu áo đội tuyển Tây Ban Nha tại FIFA World Cup 2026 | |||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Pablo Martín Páez Gavira | ||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 5 tháng 8, 2004 | ||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Los Palacios y Villafranca, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,73 m (5 ft 8 in) | ||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ | ||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Barcelona | ||||||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 6 | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2010-2013 | Liara Balompié | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2013–2014 | Real Betis | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2014-2021 | Barcelona B | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2021 | Barcelona B | 3 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2021– | Barcelona | 108 | (6) | ||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2018–2020 | U-15 Tây Ban Nha | 4 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2019–2020 | U-16 Tây Ban Nha | 7 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2020–2021 | U-18 Tây Ban Nha | 3 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2021– | Tây Ban Nha | 32 | (5) | ||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 25 tháng 5 năm 2025 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 3 tháng 7 năm 2026 | |||||||||||||||||||||||||||||
Pablo Martín Páez Gavira (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈpa.βlo maɾˈtim ˈpa.eθ ɣaˈβiɾa]; sinh ngày 5 tháng 8 năm 2004), thường được biết đến với tên gọi Gavi (phát âm [ˈɡaβi]), là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Barcelona tại La Liga và đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.
Đời tư
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Sinh ra ở Los Palacios y Villafranca, Andalusia, Gavi bắt đầu ở La Liara Balompié, một câu lạc bộ địa phương, và từ đó anh chuyển đến học viện đào tạo trẻ của Real Betis. Ghi 95 bàn cho đội trẻ của Real Betis, Gavi được các đội bóng hàng đầu của Tây Ban Nha, bao gồm Villarreal, Real Madrid và Atlético Madrid, săn đón.
Barcelona
Sự nghiệp đội trẻ
Năm 2015, khi chỉ mới 11 tuổi, anh ký hợp đồng với FC Barcelona.
Vào tháng 9 năm 2020, anh ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với câu lạc bộ xứ Catalan, và được đôn lên đội U-19 từ đội U-16. Sau màn trình diễn tốt với đội trẻ Barcelona, Gavi được huấn luyện viên Ronald Koeman đưa vào đội hình chính trước vào mùa giải 2021–22.
Mùa giải 2021–22
Sau hai lần ra sân cho Barcelona B trong mùa giải 2020–21 tại Segunda División B, Gavi được đôn lên đội 1 cho các trận giao hữu trước mùa giải. Sau những màn trình diễn tốt trong các chiến thắng trước Gimnàstic de Tarragona và Girona, Gavi được cho là đã trở thành lựa chọn tốt hơn Riqui Puig trong đội hình của Koeman. Anh tiếp tục phong độ tốt này trong chiến thắng 3–0 trước đối thủ VfB Stuttgart, được so sánh với huyền thoại Xavi.
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2021, anh chơi trận đấu chính thức đầu tiên cho đội 1 của Barcelona trong chiến thắng 2–1 La Liga trước Getafe, vào sân thay cho Sergi Roberto ở phút 73. Vào ngày 18 tháng 12, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ và kiến tạo trong chiến thắng 3–2 trên sân nhà trước Elche.
Mùa giải 2022–23
Ngày 15 tháng 1 năm 2023, Gavi tỏa sáng với một bàn thắng và hai kiến tạo, giành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận trong chiến thắng 3–1 trước Real Madrid tại trận chung kết Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha. Đến ngày 31 tháng 1, một tòa án Tây Ban Nha đã ra phán quyết chấp thuận hợp đồng mới của anh với Barcelona (ký từ tháng 9 năm trước) có thời hạn đến năm 2026. Quyết định này đưa ra bất chấp sự phản đối từ Chủ tịch La Liga Javier Tebas, người cho rằng quỹ lương của câu lạc bộ mùa đó không đủ đáp ứng thỏa thuận mới. Cùng ngày, Barcelona thông báo Gavi sẽ tiếp quản chiếc áo số 6, số áo huyền thoại từng được mặc bởi chính huấn luyện viên của anh, Xavi. Tuy nhiên, vào ngày 21 tháng 3, tòa án lại ra lệnh hủy bỏ đăng ký này do vi phạm giới hạn lương, khiến Gavi phải trở lại danh sách cầu thủ đội trẻ và mặc số áo 30 cũ.
Đến ngày 20 tháng 6 năm 2023, Barcelona cuối cùng đã hoàn tất việc đăng ký Gavi vào danh sách đội một của La Liga. Hợp đồng của anh được gia hạn đến tháng 6 năm 2026 với mức phí giải phóng lên tới 1 tỷ euro.
2023–nay
Sau khi dính chấn thương từ tháng 11 năm 2023, Gavi đã trở lại tập luyện vào ngày 12 tháng 9 năm 2024. Trải qua 348 ngày vắng bóng, anh chính thức tái xuất sân cỏ vào ngày 20 tháng 10 năm 2024 trong chiến thắng 5–1 trước Sevilla. Anh vào sân thay cho người đồng đội Pedri và được trao lại chiếc băng đội trưởng. Tương tự, anh tiếp tục vào sân từ băng ghế dự bị trong trận Siêu kinh điển diễn ra ngày 26 tháng 10 năm 2024, nơi Barcelona giành chiến thắng áp đảo 4–0 trước Real Madrid ngay tại Bernabéu. Anh phải nhận một thẻ vàng ở phút thứ 90 sau tình huống va chạm với Vinicius Jr. Anh ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải vào lưới Athletic Bilbao trong trận bán kết Siêu cúp Tây Ban Nha, đồng thời kiến tạo cho đồng đội Lamine Yamal trong chiến thắng 2–0, góp phần giúp câu lạc bộ lên ngôi vô địch sau đó. Ngày 31 tháng 1 năm 2025, anh gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2030.
Gavi đã góp mặt trong hai trận đấu mở màn của Barcelona tại La Liga mùa giải 2025–26 với tư cách cầu thủ dự bị. Sau đó, anh gặp chấn thương sụn chêm trong ở đầu gối phải và phải tiến hành phẫu thuật vào đầu tháng 9 năm 2025, khiến anh phải ngồi ngoài trong khoảng 4 đến 5 tháng. Anh được bộ phận y tế cho phép trở lại thi đấu vào giữa tháng 3 năm 2026.
Sự nghiệp quốc tế
Vào ngày 30 tháng 9 năm 2021, Gavi bất ngờ được triệu tập lên đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Anh đã có trận ra mắt trong bán kết UEFA Nations League giành chiến thắng trước Ý vào ngày 6 tháng 10, trở thành cầu thủ trẻ nhất thi đấu cho Tây Ban Nha ở đội tuyển quốc gia. Anh thi đấu 75 phút trong trận chung kết đấu với Pháp vào ngày 10 tháng 10, Tây Ban Nha chịu thất bại 2-1. Vào ngày 5 tháng 6 năm 2022, Gavi ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong trận đấu với Cộng hòa Séc trên sân khách tại UEFA Nations League 2022–23, trở thành cầu thủ trẻ nhất từng ghi bàn cho Tây Ban Nha ở cấp độ đội tuyển quốc gia.
Phong cách thi đấu
Năm 2021, Graham Hunter của ESPN ca ngợi Gavi là một cầu thủ trẻ đầy triển vọng, so sánh anh với các tiền vệ cũ của FC Barcelona là Xavi và Andrés Iniesta do những phẩm chất của một tiền vệ, bao gồm khả năng rê dắt, dự đoán, sự thông minh, tầm nhìn, qua người, đỡ bước một, kiểm soát chặt chẽ, thay đổi nhịp độ và khả năng xoay sở nhanh chóng để thoát ra khỏi không gian chật hẹp và bắt đầu các đợt phản công. Sau màn trình diễn của Gavi trong chiến thắng ở bán kết của Tây Ban Nha trước Ý trong trận Chung kết UEFA Nations League 2021, hậu vệ người Ý Emerson Palmieri đã mô tả Gavi là một cầu thủ "có tiềm năng rất lớn".
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 25 tháng 5 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Copa del Rey | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Barcelona B | 2020–21 | Segunda División B | 2 | 0 | — | — | — | 2 | 0 | |||
| 2021–22 | Primera División RFEF | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 3 | 0 | — | — | — | 3 | 0 | |||||
| Barcelona | 2021–22 | La Liga | 34 | 2 | 1 | 0 | 11 | 0 | 1 | 0 | 47 | 2 |
| 2022–23 | 36 | 2 | 5 | 0 | 6 | 0 | 2 | 1 | 49 | 3 | ||
| 2023–24 | 12 | 1 | 0 | 0 | 3 | 1 | 0 | 0 | 15 | 2 | ||
| 2024–25 | 26 | 1 | 4 | 1 | 10 | 0 | 2 | 1 | 42 | 3 | ||
| 2025–26 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | ||
| Tổng cộng | 108 | 6 | 10 | 1 | 30 | 1 | 5 | 2 | 153 | 10 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 111 | 6 | 10 | 1 | 30 | 1 | 5 | 2 | 156 | 10 | ||
- ^ Sáu lần ra sân tại UEFA Champions League, năm lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ a b c Số lần ra sân tại Supercopa de España
- ^ Năm lần ra sân tại UEFA Champions League, một lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Champions League
Đội tuyển quốc gia
- Tính đến 3 tháng 7 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Tây Ban Nha | 2021 | 4 | 0 |
| 2022 | 13 | 3 | |
| 2023 | 10 | 2 | |
| 2025 | 1 | 0 | |
| 2026 | 4 | 0 | |
| Tổng cộng | 32 | 5 | |
Bàn thắng quốc tế
- Tính đến 5 tháng 6 năm 2025
| STT | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 tháng 6 năm 2022 | Sân vận động Sinobo, Praha, Cộng hòa Séc | 1–1 | 2–2 | UEFA Nations League 2022–23 | |
| 2 | 17 tháng 11 năm 2022 | Sân vận động Quốc tế Amman, Amman, Jordan | 2–0 | 3–1 | Giao hữu | |
| 3 | 23 tháng 11 năm 2022 | Sân vận động Al Thumama, Doha, Qatar | 5–0 | 7–0 | FIFA World Cup 2022 | |
| 4 | 12 tháng 9 năm 2023 | Sân vận động Nuevo Los Cármenes, Granada, Tây Ban Nha | 1–0 | 6–0 | Vòng loại UEFA Euro 2024 | |
| 5 | 15 tháng 10 năm 2023 | Sân vận động Ullevaal, Oslo, Na Uy | 1–0 | 1–0 |
Danh hiệu
Barcelona
Tây Ban Nha
- FIFA World Cup: 2026
- UEFA Nations League: 2022–23; á quân 2020–21, 2024–25
Cá nhân
- Trofeo Aldo Rovira: 2021-2022
- Golden Boy: 2022
- Kopa Trophy: 2022
Tham khảo
Liên kết ngoài
Thống kê chỉ số