Quay lại
Mikael Lustig

Mikael Lustig

Số áo #33

Defender

Quốc tịch Flag Sweden
Tuổi 39
Chiều cao 6' 2"
Cân nặng 172 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

AIK

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Mikael Lustig
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Carl Mikael Lustig
Ngày sinh 13 tháng 12, 1986 (39 tuổi)
Nơi sinh Umeå, Thụy Điển
Chiều cao 1,89 m
Vị trí Hậu vệ biên phải
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Sandåkerns SK
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2005 Umeå FC 33 (1)
2005–2008 GIF Sundsvall 81 (8)
2008–2011 Rosenborg BK 95 (14)
2012–2019 Celtic 160 (13)
2019–2020 Gent 16 (0)
2020–2022 AIK 67 (4)
Tổng cộng 452 (40)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2004 U-19 Thụy Điển 1 (0)
2006–2009 U-21 Thụy Điển 21 (1)
2008–2021 Thụy Điển 94 (6)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Carl Mikael Lustig (phát âm tiếng Thụy Điển: [ˈmîːkaɛl ˈlɵ̂sːtɪɡ]; sinh ngày 13 tháng 12 năm 1986) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Thụy Điển từng thi đấu ở vị trí hậu vệ. Chủ yếu là một hậu vệ biên phải, ông cũng có thể thi đấu ở vị trí trung vệ.

Bắt đầu sự nghiệp với Umeå FC năm 2004, ông sau đó thi đấu cho nhiều câu lạc bộ, bao gồm GIF SundsvallRosenborg BK tại Thụy Điển, Gent tại Bỉ, Celtic tại Scotland và trở lại Thụy Điển với AIK. Ông giải nghệ vào tháng 10 năm 2022, ở tuổi 35.

Là tuyển thủ quốc gia của Thụy Điển từ năm 2008 đến năm 2021, Lustig có 94 lần khoác áo đội tuyển và đại diện cho Thụy Điển tại ba kỳ Giải vô địch bóng đá châu Âu, gồm các kỳ 2012, 20162021, cũng như Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tổ chức tại Nga.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Sự nghiệp ban đầu

Lustig bắt đầu sự nghiệp với Sandåkerns SK. Sau đó, ông chuyển đến Umeå FC, nơi ông thi đấu trong hai năm.

GIF Sundsvall

Lustig chuyển đến câu lạc bộ Allsvenskan GIF Sundsvallmùa giải 2005, ghi hai bàn sau tám trận. GIF Sundsvall xuống hạng Superettan ở mùa giải sau đó. Đội bóng thi đấu tại hạng đấu này trong hai năm tiếp theo, với Lustig góp mặt ở 57 trong tổng số 60 trận của họ. Đến mùa giải 2008, đội trở lại Allsvenskan và Lustig tiếp tục là cầu thủ thường xuyên trong đội hình, thi đấu cả 11 trận tại giải trước kỳ nghỉ Euro. Trong mùa hè, ông chuyển đến câu lạc bộ Na Uy Rosenborg BK.

Rosenborg

Sau bốn mùa giải với Rosenborg, Lustig rời câu lạc bộ vào tháng 11 năm 2011. Ông đã thu hút sự quan tâm từ các câu lạc bộ châu Âu khác, như đội bóng Scottish Premier League Celtic, câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Fulham và đội bóng La Liga Espanyol.

Celtic

Ngày 23 tháng 11 năm 2011, Celtic thông báo rằng họ đã ký hợp đồng tiền thỏa thuận với Lustig. Ông chính thức gia nhập câu lạc bộ vào ngày 1 tháng 1 năm 2012. Ông có trận ra mắt Celtic vào ngày 3 tháng 3, trong trận hòa 1–1 với Aberdeen. Ông ghi bàn thắng đầu tiên cho Hoops trong trận hòa 2–2 trên sân nhà trước Hibernian vào ngày 1 tháng 9 năm 2012. Ban đầu, ông cũng được tính bàn thắng thứ hai của Celtic trong trận đó, dù sau đó bàn này được xác định là phản lưới nhà. Ngày 17 tháng 7 năm 2013, Lustig mở tỉ số trong chiến thắng 3–0 trên sân khách của Celtic trước Cliftonville ở vòng loại thứ Hai Champions League.

Ngày 6 tháng 2 năm 2017, Lustig thực hiện một pha rabona kinh điển trong một pha phối hợp liền mạch 25 đường chuyền có sự tham gia của cả 11 cầu thủ Celtic, dẫn đến bàn thắng của đồng đội Moussa Dembélé ít lâu sau đó, qua đó hoàn tất cú hat-trick của cầu thủ này và ấn định chiến thắng 5–2 trước đội chủ nhà St. Johnstone. Bàn thắng này được đưa vào danh sách rút gọn cho Giải thưởng FIFA Puskás danh giá của FIFA.

Ngày 28 tháng 10 năm 2018, Lustig dẫn Hoops giành chiến thắng trong trận đấu thứ 250 của ông cho câu lạc bộ, khi Celtic đánh bại Hearts 3–0 ở bán kết Cúp Liên đoàn tại Murrayfield.

Ngày 4 tháng 5 năm 2019, Lustig đánh đầu cắm đẹp mắt vào lưới Aberdeen, khởi đầu chiến thắng 3–0 cho Celts, qua đó giúp đội giành trọn ba điểm và đoạt chức vô địch quốc gia thứ tám liên tiếp. Ngày 20 tháng 6, Lustig quyết định rời Celtic sau bảy năm rưỡi, quãng thời gian ông giành tám chức vô địch liên tiếp cùng câu lạc bộ.

Gent

Ngày 21 tháng 6 năm 2019, Lustig ký hợp đồng ba năm với đội bóng Bỉ Gent đến năm 2022.

AIK

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, Lustig trở lại Thụy Điển, ký hợp đồng tự do với AIK, câu lạc bộ mà ông từng thử việc vào năm 2004. Ông có trận ra mắt vào ngày 30 tháng 9, thi đấu 29 phút trong thất bại 0–1 trên sân nhà trước BK Häcken. Ông ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 20 tháng 9 năm 2020 trong trận derby Stockholm gặp Hammarby IF, trận đấu AIK thắng 3–0. Trong trận cuối cùng của mùa giải Allsvenskan, Lustig ghi bàn và kiến tạo khi AIK hòa IF Elfsborg 2–2.

Tháng 10 năm 2022, Lustig chính thức tuyên bố giải nghệ bóng đá chuyên nghiệp, vài tháng sau khi mùa giải 2021–22 kết thúc.

Lustig (trái) tranh chấp với Yevhen Konoplyanka của Ukraina tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012.

Sự nghiệp quốc tế

Lustig từng thi đấu cho đội U-18 Thụy Điển. Trong mùa giải 2006, Lustig có trận ra mắt đội tuyển quốc gia ở đội U-21, thi đấu tại Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2009. Ông từng được bổ nhiệm làm đội phó của đội. Tổng cộng, Lustig có 21 lần ra sân cho U-21 Thụy Điển. Lustig có trận ra mắt đội tuyển quốc gia Thụy Điển vào ngày 19 tháng 1 năm 2008 trong thất bại 0–2 trước Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2008. Bàn thắng đầu tiên của ông đến vào ngày 29 tháng 3 năm 2011 trong một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu gặp Moldova, trận đấu Thụy Điển thắng 2–1. Ông có lần khoác áo Thụy Điển thứ 50 vào ngày 29 tháng 3 năm 2016, trong trận hòa 1–1 với Cộng hòa Séc. Tháng 5 năm 2018, ông được điền tên vào danh sách 23 cầu thủ Thụy Điển tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga. Tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, Lustig đá chính bốn trận cho Thụy Điển khi đội bị Anh loại ở tứ kết.

Tháng 5 năm 2021, Lustig có tên trong danh sách 26 cầu thủ Thụy Điển tham dự giải UEFA Euro 2020 bị hoãn, nơi ông thi đấu toàn bộ các trận ở vị trí hậu vệ phải, trước khi Thụy Điển bị Ukraina loại ở vòng 16 đội.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021, Lustig tuyên bố giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế. Ông có tổng cộng 94 lần khoác áo Thụy Điển, ghi 6 bàn trong 13 năm đại diện cho đội tuyển.

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp Liên đoàn Châu Âu Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
GIF Sundsvall 2005 Allsvenskan 8 2 0 0 8 2
2006 Superettan 28 3 2 1 30 4
2007 Superettan 29 2 2 1 31 3
2008 Allsvenskan 16 1 1 0 17 1
Tổng cộng 81 8 5 2 86 10
Rosenborg 2008 Tippeligaen 11 1 0 0 8 0 19 1
2009 Tippeligaen 25 4 3 0 3 1 31 5
2010 Tippeligaen 29 4 5 2 12 1 46 7
2011 Tippeligaen 30 5 4 2 6 1 40 8
Tổng cộng 95 14 12 4 29 3 136 21
Celtic 2011–12 Scottish Premier League 4 0 1 0 0 0 0 0 5 0
2012–13 Scottish Premier League 23 3 5 0 2 0 9 0 39 3
2013–14 Scottish Premiership 16 0 1 1 1 0 12 1 30 2
2014–15 Scottish Premiership 5 2 1 0 2 0 8 0 16 2
2015–16 Scottish Premiership 30 4 3 0 2 0 11 1 46 5
2016–17 Scottish Premiership 29 1 4 2 4 0 11 1 48 4
2017–18 Scottish Premiership 26 1 2 0 3 2 14 0 45 3
2018–19 Scottish Premiership 27 2 3 0 3 0 11 0 44 2
Tổng cộng 160 13 20 3 17 2 76 3 273 21
Gent 2019–20 Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 16 0 1 0 13 0 30 0
AIK 2020 Allsvenskan 13 2 2 0 15 2
2021 Allsvenskan 27 0 3 0 30 0
2022 Allsvenskan 27 2 1 0 4 0 32 2
Tổng cộng 67 4 6 0 0 0 4 0 77 4
Tổng cộng sự nghiệp 398 34 41 9 17 2 109 6 579 56

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Thụy Điển 2008 1 0
2009 1 0
2010 10 0
2011 11 1
2012 8 1
2013 10 0
2014 3 0
2015 4 0
2016 7 2
2017 8 2
2018 11 0
2019 8 0
2020 5 0
2021 7 0
Tổng cộng 94 6
Tỉ số và kết quả liệt kê số bàn thắng của Thụy Điển trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1. 29 tháng 3 năm 2011 Sân vận động Råsunda, Solna, Thụy Điển  Moldova 1–0 2–1 Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012
2. 16 tháng 10 năm 2012 Olympiastadion, Berlin, Đức  Đức 2–4 4–4 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
3. 5 tháng 6 năm 2016 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Wales 2–0 3–0 Giao hữu
4. 7 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Josy Barthel, Thành phố Luxembourg, Luxembourg  Luxembourg 1–0 1–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
5. 31 tháng 8 năm 2017 Sân vận động Quốc gia Vasil Levski, Sofia, Bulgaria  Bulgaria 1–1 2–3 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
6. 7 tháng 10 năm 2017 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Luxembourg 5–0 8–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018

Danh hiệu

Rosenborg

Celtic

U-21 Thụy Điển

Cá nhân

Tham khảo

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Đội hình tiêu biểu Scottish Premiership 2016–17 của PFA Scotland

Thống kê chỉ số

Số trận -
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0