Martín García
Số áo #55Midfielder
Argentina
Câu lạc bộ hiện tại
Aldosivi
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Đảo Martín García
|
|
|---|---|
Toàn cảnh đảo Martín García chụp từ trên không hướng tây, phía sau lộ rõ đường băng sân bay. | |
Bản đồ đảo Martín García và đảo Timoteo Domínguez sau khi hợp nhất thành một dải đất liền. | |
| Địa lý | |
| Vị trí | Río de la Plata |
| Tọa độ | 34°10′57″N 58°15′0″T / 34,1825°N 58,25°T |
| Diện tích | 1,84 km2 (71 mi2) |
| Độ cao tương đối lớn nhất | 27 m (89 ft) |
| Hành chính | |
| Tỉnh | Buenos Aires |
| Tỉnh lị | La Plata |
| Nhân khẩu học | |
| Dân số | 150 |
Đảo Martín García (tiếng Tây Ban Nha: Isla Martín García) nằm tại hạ lưu sông Río de la Plata. Từng là khu vực tranh chấp, đến năm 1973, Argentina và Uruguay đạt thỏa thuận xác định phần phía nam thuộc chủ quyền Argentina và được quy hoạch làm khu bảo tồn thiên nhiên. Với diện tích 1,84 km², hòn đảo hiện có khoảng 150 cư dân và do tỉnh Buenos Aires quản lý; du khách có thể tiếp cận bằng đường hàng không qua sân bay địa phương. Nửa phía bắc của đảo, hay còn gọi là Timoteo Domínguez, thuộc chủ quyền Uruguay; khu vực này vốn là bãi cát hình thành từ thập niên 1960 rồi dần bồi đắp và hợp nhất với Martín García vào những năm 1980.
Có vị trí chiến lược, đảo lịch sử Martín García là nơi đặt pháo đài Constitución do quân đội Argentina xây dựng vào những năm 1820 nhằm ngăn chặn hải quân Brazil tiếp cận sông Uruguay. Trong Chiến tranh Cisplatine, hệ thống phòng thủ này đã ngăn chặn thành công quân tiếp viện của Brazil trong Trận Juncal (diễn ra từ ngày 8 đến ngày 9 tháng 2 năm 1827), tạo điều kiện cho lực lượng Argentina tiêu diệt hạm đội đối phương đang hoạt động trên dòng sông này.
Nhiều chính trị gia Argentina từng bị các chính quyền quân sự giam giữ tại hòn đảo này, trong đó có các tổng thống Hipólito Yrigoyen (1930), Juan Perón (1945) và Arturo Frondizi (1962).
Lịch sử

Đảo Martín García được người Tây Ban Nha phát hiện năm 1516 trong chuyến hải hành của Juan Díaz de Solís. Tên đảo được đặt theo quản kho Martín García, người qua đời trên tàu và được an táng tại đây. Sở hữu vị trí chiến lược ngay cửa ngõ dẫn vào 2 nhánh sông lớn Paraná và Uruguay, hòn đảo này sau đó trở thành đối tượng tranh chấp kéo dài giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Nơi đây từng được trưng dụng làm thuộc địa hình sự từ năm 1765 đến năm 1886. Trong quá trình phát triển vùng đất này, Pedro de Cevallos, Phó vương đầu tiên của Phó vương quốc Río de la Plata, đã tiến hành xây dựng công sự và bố trí một đơn vị quân đội đồn trú. Đến năm 1814, Đô đốc William Brown dẫn đầu một hạm đội đổ bộ lên đảo, đánh bại quân đội hoàng gia và giành quyền kiểm soát Martín García về cho Liên bang các tỉnh Río de la Plata.
Hòn đảo này từng là chiến trường của nhiều cuộc đụng độ trong Chiến tranh giành độc lập Argentina và Chiến tranh Cisplatine vào thập niên 1820. Năm 1838, dưới thời Thống đốc Buenos Aires Juan Manuel de Rosas, Martín García tiếp tục bị liên quân Anh - Pháp tấn công, sau đó bị lực lượng lưu vong thuộc Đảng Thống nhất ở Montevideo chiếm đóng. Đến năm 1843, quân liên bang của Rosas giành lại hòn đảo nhưng lại để mất vào tay lực lượng do Giuseppe Garibaldi chỉ huy vào năm 1845. Vai trò chiến lược của đảo trong các cuộc nội chiến tại Argentina chỉ thực sự khép lại sau khi Rosas bị lật đổ tại Trận Caseros năm 1852.
Năm 1850, Tổng thống Domingo Sarmiento đề xuất thành lập một căn cứ trên đảo, lấy thành phố Argirópolis làm thủ đô cho một tiểu quốc do Argentina, Uruguay và Paraguay đồng quản lý.
Từ năm 1879, nhiều người dân bản địa bị bắt trong chiến dịch Chinh phục Sa mạc đã bị giam giữ trên đảo Martín García. Theo hồ sơ chính thức, số tù binh này gồm cả binh lính lẫn dân thường (kể cả người già và trẻ nhỏ). Họ bị cưỡng bức lao động và chịu kỷ luật nghiêm ngặt tại nhiều cơ sở trên đảo, khiến một số học giả coi nơi đây như một trại tập trung và công cụ diệt chủng. Dù thiếu số liệu thống kê chính thức, các nhà nghiên cứu ước tính có khoảng 3.000 người bản địa từng bị giam cầm tại Martín García trong thập niên 1870 và 1880.
Năm 1886, hòn đảo được chuyển giao cho hải quân Argentina quản lý và trú đóng. Đến cuối thập niên 1920, một đường băng đã được xây dựng tại đây, tiền thân của Trạm không quân hải quân Martín García. Đường băng này tiếp tục được mở rộng vào thập niên 1950 và hiện trở thành Sân bay đảo Martín García.
Tháng 9 năm 1914, phần lớn những người Đức sống sót trên tàu SMS Cap Trafalgar được tàu chở than Eleonore Woermann giải cứu, đưa đến Buenos Aires và bị giam giữ suốt Thế chiến I trên một hòn đảo do Argentina kiểm soát. Đến năm 1943, các thủy thủ Đức thuộc tuần dương hạm hạng nặng Admiral Graf Spee cũng tiếp tục bị phía Argentina quản thúc tại đây.

Địa vị pháp lý của hòn đảo được xác lập chính thức qua Hiệp ước Río de la Plata ký giữa Argentina và Uruguay ngày 19 tháng 11 năm 1973. Văn kiện này quy định đảo Martín García là một vùng đất ngoại lãnh thổ của Argentina nằm trong vùng biển thuộc chủ quyền Uruguay. Đổi lại việc Uruguay công nhận chủ quyền này, Argentina đã nhường một số khu vực tại Río de la Plata, đáng chú ý là đảo Juncal, cho phía láng giềng.
Điều 45 của hiệp ước quy định:
Đảo Martín García sẽ được quy hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên nhằm gìn giữ hệ động thực vật thuộc quyền tài phán của Cộng hòa Argentina, mà không làm ảnh hưởng đến các quy định tại Điều 63.
Mặt khác, trên thực tế, văn kiện này đã phân định rõ ranh giới vùng đất này. Nằm ở phía bắc hòn đảo là Timoteo Domínguez, một đảo thuộc chủ quyền của Uruguay, điều vốn được ghi nhận tại Điều 46 của chính hiệp ước đó:
Nếu sau này đảo Martín García hợp nhất với một đảo khác, ranh giới tương ứng sẽ được xác định theo đường viền của đảo này dựa trên Biểu đồ H-118 quy định tại Điều 41.
Vào thời điểm ký kết hiệp ước, lòng kênh giữa các đảo này có lưu lượng dòng chảy rất lớn mang theo phù sa, dần tích tụ và tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa một đảo thuộc Uruguay với đảo Martín García. Do đó, ranh giới giữa Martín García và Timoteo Domínguez hiện đã trở thành đường biên giới đất liền duy nhất giữa Argentina và Uruguay.
Giới chức Uruguay từng nhiều lần viện dẫn Điều 45 để ngăn Argentina sử dụng hòn đảo này vào các mục đích khác ngoài bảo tồn thiên nhiên. Đến năm 1985, Hải quân đã bàn giao quyền sở hữu hệ thống nhà cửa và cơ sở vật chất tại đây cho tỉnh Buenos Aires. Hiện nay, hòn đảo trở thành một địa điểm du lịch với các điểm tham quan nổi bật như khu phố Tàu cổ của người nhập cư, phế tích công sự, bệnh xá nhà tù và khu rừng hươu đỏ. Nơi đây cũng nổi tiếng với nghề sản xuất bánh ngọt thủ công.
Hệ thực vật và động vật

Hệ sinh thái trên đảo chủ yếu là rừng, với các loài thực vật đặc hữu như cây bông gòn, nguyệt quế creole cùng nhóm cây chịu hạn (tương tự vùng Gran Chaco) như kim tước, xương rồng và lapachillo. Khu vực ven biển tập trung nhiều lau sậy, cây sung và hơn 800 loài thực vật khác.
Hệ động vật hoang dã quy mô vừa và lớn tại đây (không tính cá) hiện chủ yếu gồm hơn 250 loài chim, tiêu biểu là chim ruồi (8 loài), cắt cắt, choi choi, cò, kền kền, vẹt, hồng y, bồ câu, sẻ, sẻ mỏ vàng, sơn ca, cú lùn và cú sừng lớn. Hòn đảo cũng là nơi cư trú của nhiều loài bò sát, thằn lằn, tắc kè, rùa, ếch, chuột hải ly, chuột lang nước, cá sấu và hươu đỏ. Riêng quần thể rái cá lớn từng rất đông đúc tại đây đã bị tuyệt chủng vào cuối thập niên 1950.
Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm đạt 17°C; dao động từ 8°C vào mùa đông lên đến 29°C khi sang hè. Lượng mưa ước tính khoảng 1.000 mm mỗi năm.
| Dữ liệu khí hậu của Đảo Martín García | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỷ lục °C (°F) | 35.7 (96.3) |
38.0 (100.4) |
35.0 (95.0) |
33.6 (92.5) |
28.0 (82.4) |
25.5 (77.9) |
25.5 (77.9) |
26.0 (78.8) |
29.0 (84.2) |
30.0 (86.0) |
34.0 (93.2) |
37.0 (98.6) |
38.0 (100.4) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 29.1 (84.4) |
28.8 (83.8) |
25.8 (78.4) |
22.8 (73.0) |
19.4 (66.9) |
16.0 (60.8) |
15.6 (60.1) |
16.2 (61.2) |
18.9 (66.0) |
21.4 (70.5) |
25.0 (77.0) |
27.9 (82.2) |
22.2 (72.0) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 23.9 (75.0) |
23.4 (74.1) |
21.1 (70.0) |
18.1 (64.6) |
14.8 (58.6) |
11.8 (53.2) |
11.5 (52.7) |
12.0 (53.6) |
14.3 (57.7) |
16.5 (61.7) |
20.1 (68.2) |
22.6 (72.7) |
17.5 (63.5) |
| Trung bình ngày tối thiểu °C (°F) | 18.8 (65.8) |
18.5 (65.3) |
16.3 (61.3) |
13.0 (55.4) |
11.1 (52.0) |
8.0 (46.4) |
8.0 (46.4) |
8.3 (46.9) |
10.3 (50.5) |
12.6 (54.7) |
14.9 (58.8) |
17.9 (64.2) |
13.1 (55.6) |
| Thấp kỷ lục °C (°F) | 10.0 (50.0) |
10.0 (50.0) |
8.0 (46.4) |
6.0 (42.8) |
2.0 (35.6) |
−0.1 (31.8) |
−0.1 (31.8) |
1.0 (33.8) |
−0.1 (31.8) |
5.5 (41.9) |
4.0 (39.2) |
9.5 (49.1) |
−0.1 (31.8) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 60 (2.4) |
85 (3.3) |
158 (6.2) |
80 (3.1) |
48 (1.9) |
70 (2.8) |
54 (2.1) |
53 (2.1) |
54 (2.1) |
103 (4.1) |
103 (4.1) |
90 (3.5) |
958 (37.7) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 5 | 6 | 7 | 6 | 5 | 5 | 5 | 5 | 7 | 7 | 7 | 6 | 71 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 67 | 68 | 72 | 75 | 78 | 81 | 81 | 79 | 76 | 75 | 71 | 68 | 74 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 260.4 | 223.2 | 213.9 | 177.0 | 167.4 | 111.0 | 117.8 | 155.0 | 168.0 | 186.0 | 213.0 | 232.5 | 2.225,2 |
| Phần trăm nắng có thể | 59 | 59 | 56 | 53 | 52 | 38 | 38 | 46 | 47 | 46 | 51 | 52 | 50 |
| Nguồn: UNLP | |||||||||||||
Dân số
Dân số trên đảo Martín García từng đạt khoảng 4.000 người, nhưng đã giảm mạnh sau khi lực lượng quân đội rút đi. Tính đến năm 2008, số dân tại đây chỉ còn chưa đầy 170 người (khoảng 50 hộ gia đình). Hòn đảo hiện có một trường tiểu học mang tên "Juan Díaz de Solís" (Trường EGB số 39).
Xem thêm
Tài liệu tham khảo
Thống kê chỉ số