Mario Galeano
Forward
Argentina
Câu lạc bộ hiện tại
Los Andes
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Gavranović với Schalke 04 năm 2011 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Mario Gavranović | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 24 tháng 11, 1989 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Lugano, Thụy Sĩ | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,75 m | ||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền đạo | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| 1996–2000 | AS Vezia | ||||||||||||||||
| 2000–2006 | Team Ticino | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2006–2008 | Lugano | 21 | (8) | ||||||||||||||
| 2008–2010 | Yverdon-Sport | 20 | (8) | ||||||||||||||
| 2009–2010 | → Neuchâtel Xamax (mượn) | 17 | (8) | ||||||||||||||
| 2010–2012 | Schalke 04 | 10 | (0) | ||||||||||||||
| 2010–2011 | → Schalke 04 II | 5 | (2) | ||||||||||||||
| 2011–2012 | → Mainz 05 (mượn) | 5 | (0) | ||||||||||||||
| 2012–2016 | Zürich | 90 | (26) | ||||||||||||||
| 2016–2018 | Rijeka | 59 | (25) | ||||||||||||||
| 2018–2021 | Dinamo Zagreb | 88 | (39) | ||||||||||||||
| 2021–2023 | Kayserispor | 48 | (15) | ||||||||||||||
| 2024 | FC Mendrisio | 3 | (0) | ||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2005 | U-17 Thụy Sĩ | 1 | (2) | ||||||||||||||
| 2007–2008 | U-19 Thụy Sĩ | 8 | (6) | ||||||||||||||
| 2008–2011 | U-21 Thụy Sĩ | 14 | (3) | ||||||||||||||
| 2011–2022 | Thụy Sĩ | 41 | (16) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 28 tháng 8 năm 2023 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 5 tháng 6 năm 2022 | |||||||||||||||||
Mario Gavranović (phát âm tiếng Croatia: [mâːrio ɡaʋrǎːnoʋitɕ]; sinh ngày 24 tháng 11 năm 1989) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Thụy Sĩ thi đấu ở vị trí tiền đạo.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Gavranović bắt đầu sự nghiệp tại AS Vezia, trước khi được Team Ticino U18, học viện trẻ của FC Lugano, phát hiện. Ở mùa giải 2006–07, anh thi đấu những trận chuyên nghiệp đầu tiên tại Swiss Challenge League cho FC Lugano. Trong mùa giải thứ hai, anh ghi tám bàn sau 21 trận. Mùa hè năm 2008, anh ký hợp đồng với Yverdon-Sport và ghi thêm tám bàn chỉ sau 20 trận. Trước mùa giải 2008–09, anh chuyển đến Neuchâtel Xamax.
Schalke
Sau khởi đầu thành công tại Neuchâtel Xamax với tám bàn sau 17 trận, Gavranović rời đội bóng để ký hợp đồng với Schalke 04 vào ngày 1 tháng 2 năm 2010. Anh ghi một bàn thắng quan trọng cho Schalke 04 ở vòng 16 đội Champions League trước Valencia, giúp đội bóng thắng 4–2 và giành quyền vào tứ kết. Gavranović gia nhập một đội bóng Bundesliga khác là Mainz theo hợp đồng cho mượn kéo dài một mùa giải vào ngày 31 tháng 8 năm 2011. Mainz được cho là đã trả 200.000 euro để có được sự phục vụ của anh, và hợp đồng cho mượn bao gồm điều khoản chuyển nhượng vĩnh viễn trị giá 1,5 triệu euro.
FC Zürich
Sau khi chỉ có năm lần ra sân trong thời gian cho mượn, Gavranović trở lại Schalke; sau đó anh đồng ý hủy hợp đồng vào tháng 5 năm 2012 và chuyển đến FC Zürich theo dạng chuyển nhượng tự do vào mùa hè. Anh có trận ra mắt Zürich vào ngày 15 tháng 7 năm 2012 và ghi bàn thắng đầu tiên từ chấm phạt đền trong cùng trận đấu, trận hòa 1–1 với FC Luzern.
Gavranović ghi bàn thắng quyết định cho Zürich trước đương kim vô địch FC Basel vào ngày 11 tháng 8 năm 2013 ở vòng đấu thứ năm của Swiss Super League. Anh ghi bàn đầu tiên cho Zürich khi câu lạc bộ hai lần bị dẫn trước nhưng vẫn đánh bại FC Stade Lausanne Ouchy 3–2 ở vòng Hai Cúp bóng đá Thụy Sĩ vào ngày 15 tháng 9. Ngày 24 tháng 11, Gavranović ghi hai bàn trong hiệp hai ở trận đấu Super League của Zürich trước FC Sion, góp phần giúp đội bóng thắng 4–1.
Trong trận Zürich Derby gặp Grasshoppers vào ngày 1 tháng 3 năm 2014, Gavranović ghi mỗi hiệp một bàn, giúp Zürich thắng 3–1. Ngày 21 tháng 4 năm 2014, Gavranović ghi hai bàn trong hiệp phụ để đưa Zürich đến chiến thắng 2–0 trước Basel ở chung kết Cúp bóng đá Thụy Sĩ.
Sau khi dính chấn thương đầu gối trong buổi tập tại World Cup, Gavranović phải ngồi ngoài trong phần còn lại của năm 2014.
Rijeka
Ngày 18 tháng 1 năm 2016, Gavranović chuyển đến HNK Rijeka tại Croatia. Anh ký hợp đồng 2+1⁄2 năm với câu lạc bộ và tham gia trại tập huấn tiền mùa giải của đội tại Dubai. Gavranović ghi bàn trong trận ra mắt chính thức cho câu lạc bộ vào ngày 12 tháng 2 năm 2016, khi chuyển hóa đường tạt bóng của Roman Bezjak ở phút 25 để nhân đôi cách biệt cho Rijeka trước Lokomotiva. Trong hai năm khoác áo câu lạc bộ, Gavranović ghi 40 bàn sau 80 lần ra sân.
Dinamo Zagreb
Ngày 5 tháng 1 năm 2018, Gavranović gia nhập Dinamo Zagreb trong một thương vụ trao đổi cầu thủ có liên quan đến Domagoj Pavičić và Luka Capan. Anh ký hợp đồng ba năm với câu lạc bộ và chọn áo số 11. Với việc chuyển đến câu lạc bộ mới và hướng tới một giai đoạn mùa xuân thành công, Gavranović quyết tâm giành một suất trong đội hình Thụy Sĩ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga. Trong buổi ra mắt chính thức tại Zagreb, Gavranović tiết lộ rằng tất cả thành viên trong gia đình anh đều là cổ động viên Dinamo và từ khi còn nhỏ, anh cũng được khuyến khích ủng hộ câu lạc bộ này.
Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 1–0 trước Slaven Belupo vào ngày 4 tháng 3. Ngày 7 tháng 3, anh ghi bàn vào lưới câu lạc bộ cũ Rijeka, nhưng Dinamo để thua trận đấu 1–4. Anh tiếp tục ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước Rudeš vào ngày 17 tháng 3 rồi ghi bàn trước Istra 1961 trong chiến thắng 4–0 trên sân khách vào ngày 8 tháng 4. Gavranović lập cú đúp trong chiến thắng 2–1 trên sân khách trước đối thủ Hajduk Split, giúp Dinamo tiến gần hơn đến chức vô địch quốc gia thứ 19.
Anh rời Dinamo sau khi hết hạn hợp đồng vào ngày 30 tháng 7 năm 2020. Tuy nhiên, anh trở lại câu lạc bộ chỉ ba tuần sau đó do tiền đạo số một của đội là Bruno Petković dính chấn thương. Ngày 17 tháng 10, anh lập hat-trick đầu tiên cho Dinamo khi đội đánh bại Gorica 3–2.
Sự nghiệp quốc tế
Gavranović đại diện cho U-21 Thụy Sĩ trong 14 trận và ghi ba bàn. Ngày 26 tháng 3 năm 2011, anh có trận ra mắt đội tuyển quốc gia trong trận hòa 0–0 với Bulgaria tại vòng loại Euro 2012. Những bàn thắng đầu tiên của anh đến từ cú đúp trong chiến thắng giao hữu 4–2 trước Croatia vào ngày 15 tháng 8. Gavranović có tên trong danh sách 23 cầu thủ cuối cùng tham dự World Cup tại Brasil vào ngày 13 tháng 5. Ngày 29 tháng 6, anh dính chấn thương đầu gối nghiêm trọng trong buổi tập, khiến anh phải nghỉ phần còn lại của World Cup và đến đầu năm 2015. Gavranović được huấn luyện viên Vladimir Petković điền tên vào danh sách 23 cầu thủ Thụy Sĩ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga. Anh thi đấu trận World Cup đầu tiên trong sự nghiệp ở trận thứ hai của Bảng E gặp Serbia, khi vào sân đầu hiệp hai và kiến tạo trong thời gian bù giờ để Xherdan Shaqiri ghi bàn, giúp Thụy Sĩ ngược dòng thắng 2–1. Gavranović có tên trong danh sách 26 cầu thủ của Petković tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020. Ngày 28 tháng 6, anh vào sân thay Shaqiri ở phút 73 trong trận vòng 16 đội gặp Pháp. Anh ghi bàn thắng thứ ba cho Thụy Sĩ, đưa tỉ số về 3–3. Sau hiệp phụ và loạt sút luân lưu, Thụy Sĩ thắng 5–4, trong đó Gavranović thực hiện thành công lượt phạt đền của mình, và giành quyền vào tứ kết. Đây là lần đầu tiên kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 1938 Thụy Sĩ vượt qua một vòng đấu loại trực tiếp ở một giải đấu lớn, và là lần đầu tiên kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 1954 họ vào tứ kết một giải đấu lớn.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, Gavranović tuyên bố giã từ đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ, sau 11 năm và 41 lần ra sân cho đội tuyển quốc gia. Vì vậy, lần ra sân cuối cùng của anh là vào ngày 5 tháng 6 năm 2022, trong thất bại 0–4 trước Bồ Đào Nha tại UEFA Nations League.
Đời tư
Gavranović sinh tại Lugano trong một gia đình người Croat Bosnia, có nguồn gốc từ Gradačac thuộc Bosna và Hercegovina. Tính đến năm 2016, Gavranović đã kết hôn với Anita, một người Croat Bosnia đến từ Derventa. Tháng 5 năm 2019, Anita sinh một bé gái và hai người đặt tên là Leonie.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 24 tháng 4 năm 2023
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Lugano | 2006–07 | Swiss Challenge League | 2 | 0 | — | — | — | 2 | 0 | |||
| 2007–08 | 21 | 8 | 1 | 0 | — | — | 22 | 8 | ||||
| Tổng cộng | 23 | 8 | 1 | 0 | — | — | 24 | 8 | ||||
| Yverdon Sport | 2008–09 | Swiss Challenge League | 20 | 8 | 2 | 0 | — | — | 22 | 8 | ||
| Neuchâtel Xamax | 2009–10 | Swiss Super League | 17 | 8 | 3 | 2 | — | — | 20 | 10 | ||
| Schalke 04 | 2009–10 | Bundesliga | 2 | 0 | — | — | — | 2 | 0 | |||
| 2010–11 | 8 | 0 | 1 | 1 | 1 | 1 | — | 10 | 2 | |||
| 2011–12 | — | 1 | 2 | 1 | 0 | — | 2 | 2 | ||||
| Tổng cộng | 10 | 0 | 2 | 3 | 2 | 1 | — | 14 | 4 | |||
| Mainz 05 | 2011–12 | Bundesliga | 5 | 0 | 1 | 0 | — | — | 6 | 0 | ||
| Zürich | 2012–13 | Swiss Super League | 32 | 9 | 4 | 6 | — | — | 36 | 15 | ||
| 2013–14 | 31 | 13 | 6 | 4 | 2 | 0 | — | 39 | 17 | |||
| 2014–15 | 11 | 1 | 2 | 0 | — | — | 13 | 1 | ||||
| 2015–16 | 16 | 3 | 4 | 1 | 2 | 0 | — | 22 | 4 | |||
| Tổng cộng | 90 | 26 | 16 | 11 | 4 | 0 | — | 110 | 37 | |||
| Rijeka | 2015–16 | Prva HNL | 13 | 7 | 2 | 0 | — | — | 15 | 7 | ||
| 2016–17 | 29 | 11 | 5 | 7 | 2 | 0 | — | 36 | 18 | |||
| 2017–18 | 17 | 7 | 2 | 2 | 10 | 6 | — | 29 | 15 | |||
| Tổng cộng | 59 | 25 | 9 | 9 | 12 | 6 | — | 80 | 40 | |||
| Dinamo Zagreb | 2017–18 | Prva HNL | 15 | 8 | 2 | 1 | — | — | 17 | 9 | ||
| 2018–19 | 24 | 9 | 3 | 1 | 13 | 2 | — | 40 | 12 | |||
| 2019–20 | 19 | 4 | 3 | 3 | 8 | 0 | 1 | 0 | 31 | 7 | ||
| 2020–21 | 27 | 17 | 3 | 1 | 10 | 1 | — | 40 | 19 | |||
| 2021–22 | 3 | 1 | 0 | 0 | 2 | 0 | — | 5 | 1 | |||
| Tổng cộng | 88 | 39 | 11 | 6 | 33 | 3 | 1 | 0 | 133 | 48 | ||
| Kayserispor | 2021–22 | Süper Lig | 26 | 10 | 4 | 2 | — | — | 30 | 12 | ||
| 2022–23 | 22 | 5 | 3 | 0 | — | — | 25 | 5 | ||||
| Tổng cộng sự nghiệp | 350 | 129 | 52 | 33 | 51 | 10 | 1 | 0 | 461 | 172 | ||
- ^ Bao gồm Cúp bóng đá Thụy Sĩ, DFB-Pokal, Cúp bóng đá Croatia, Cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
- ^ a b c Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ a b c d Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Sáu lần ra sân và ba bàn thắng ở UEFA Champions League, bốn lần ra sân và ba bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Năm lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Champions League, tám lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Croatia
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, tám lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 5 tháng 6 năm 2022
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Thụy Sĩ | 2011 | 2 | 0 |
| 2012 | 3 | 4 | |
| 2013 | 4 | 0 | |
| 2014 | 2 | 0 | |
| 2015 | 0 | 0 | |
| 2016 | 0 | 0 | |
| 2017 | 0 | 0 | |
| 2018 | 9 | 2 | |
| 2019 | 2 | 1 | |
| 2020 | 4 | 3 | |
| 2021 | 11 | 6 | |
| 2022 | 4 | 0 | |
| Tổng cộng | 41 | 16 | |
- Tính đến 12 tháng 10 năm 2021
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Switzerland trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Gavranović.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Lần khoác áo | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 15 tháng 8 năm 2012 | Sân vận động Poljud, Split, Croatia | 3 | 3–1 | 4–2 | Giao hữu | |
| 2 | 4–2 | ||||||
| 3 | 12 tháng 10 năm 2012 | Sân vận động de Suisse, Wankdorf, Bern, Thụy Sĩ | 4 | 1–0 | 1–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |
| 4 | 16 tháng 10 năm 2012 | Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland | 5 | 2–0 | 2–0 | ||
| 5 | 27 tháng 3 năm 2018 | Swissporarena, Luzern, Thụy Sĩ | 13 | 5–0 | 6–0 | Giao hữu | |
| 6 | 12 tháng 10 năm 2018 | Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ | 18 | 1–1 | 1–2 | UEFA Nations League A 2018–19 | |
| 7 | 8 tháng 9 năm 2019 | Sân vận động Tourbillon, Sion, Thụy Sĩ | 22 | 4–0 | 4–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 | |
| 8 | 7 tháng 10 năm 2020 | Kybunpark, St. Gallen, Thụy Sĩ | 23 | 1–0 | 1–2 | Giao hữu | |
| 9 | 13 tháng 10 năm 2020 | RheinEnergieStadion, Cologne, Đức | 25 | 1–0 | 3–3 | UEFA Nations League A 2020–21 | |
| 10 | 3–2 | ||||||
| 11 | 31 tháng 3 năm 2021 | Kybunpark, St. Gallen, Thụy Sĩ | 29 | 1–0 | 3–2 | Giao hữu | |
| 12 | 3 tháng 6 năm 2021 | 30 | 1–0 | 7–0 | |||
| 13 | 5–0 | ||||||
| 14 | 6–0 | ||||||
| 15 | 28 tháng 6 năm 2021 | Arena Națională, Bucharest, Romania | 34 | 3–3 | 3–3 (s.h.p.) | UEFA Euro 2020 | |
| 16 | 12 tháng 10 năm 2021 | Sân vận động LFF, Vilnius, Lithuania | 36 | 4–0 | 4–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 |
Danh hiệu
Schalke 04
Zürich
Rijeka
Dinamo Zagreb
- Prva HNL: 2017–18, 2018–19, 2019–20, 2020–21
- Cúp bóng đá Croatia: 2017–18, 2020–21
- Siêu cúp bóng đá Croatia: 2019
U-21 Thụy Sĩ
Cá nhân
- Vua phá lưới Cúp bóng đá Croatia: 2016–17
- Football Oscar – Đội hình tiêu biểu Prva HNL: 2017, 2018
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Mario Gavranović tại Soccerway
- Mario Gavranovic tại fussballdaten.de (bằng tiếng Đức)
- Mario Gavranović tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Thụy Sĩ
- Mario Gavranović tại Croatian Football Statistics (lưu trữ) (bằng tiếng Croatia)
Thống kê chỉ số