Lucas
Số áo #20Forward
Brazil
Câu lạc bộ hiện tại
Vitória
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Hernandez trong màu áo đội tuyển Pháp tại FIFA World Cup 2026 | ||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Lucas François Bernard Hernandez | |||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 14 tháng 2, 1996 | |||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Marseille, Pháp | |||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,82 m (6 ft 0 in) | |||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | ||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | ||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Paris Saint-Germain | |||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 21 | |||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | |||||||||||||||||||||||||
| 2002–2007 | Rayo Majadahonda | |||||||||||||||||||||||||
| 2007–2014 | Atlético Madrid | |||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||
| 2014–2015 | Atlético Madrid B | 21 | (1) | |||||||||||||||||||||||
| 2014–2019 | Atlético Madrid | 67 | (1) | |||||||||||||||||||||||
| 2019–2023 | Bayern Munchen | 74 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2023– | Paris Saint-Germain | 72 | (1) | |||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | ||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||||||||
| 2012 | U-16 Pháp | 1 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2014 | U-18 Pháp | 2 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2014–2015 | U-19 Pháp | 13 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2015 | U-20 Pháp | 3 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2016–2017 | U-21 Pháp | 9 | (0) | |||||||||||||||||||||||
| 2018– | Pháp | 42 | (0) | |||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 17 tháng 10 năm 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 4 tháng 6 năm 2026 | ||||||||||||||||||||||||||
Lucas François Bernard Hernandez (phát âm tiếng Pháp: [lykɑ eʁnɑ̃dɛ(z)], tiếng Tây Ban Nha: [ˈlukas erˈnandeθ]; sinh ngày 14 tháng 2 năm 1996) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp, thi đấu ở vị trí trung vệ hoặc hậu vệ trái cho câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain và đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp.
Sinh ra ở Pháp, Hernandez theo gia đình sang Tây Ban Nha năm 4 tuổi và trưởng thành ở Atlético Madrid. Tại đây, anh có hơn 100 lần ra sân, cùng đội bóng vào chung kết UEFA Champions League 2016, rồi giành Europa League và siêu cúp châu Âu 2018 năm 2018. Năm 2019, anh chuyển sang Bayern Munich và ngay mùa đầu tiên đã giành cú ăn ba gồm Bundesliga, DFB-Pokal và Champions League. Năm 2023, Hernandez trở về quê hương khoác áo Paris Saint-Germain. Đến năm 2025, anh có cú ăn ba thứ hai trong sự nghiệp khi cùng PSG vô địch Champions League.
Khoác áo đội tuyển Pháp từ năm 2018, Hernandez là thành viên đội hình vô địch FIFA World Cup 2018, đồng thời góp mặt tại UEFA Euro 2020, FIFA World Cup 2022 và World Cup 2026.
Đời tư và Sự nghiệp
Cha của Hernandez, Jean-François, cũng là cầu thủ bóng đá chơi ở vị trí trung vệ. Ông là người gốc Tây Ban Nha và từng khoác áo Atlético Madrid. Em trai của Hernandez là Theo cũng được đào tạo ở câu lạc bộ này và chơi cùng vị trí. Trả lời phỏng vấn tờ Marca vào tháng 10 năm 2018, anh cho biết gia đình đã không nhận được tin tức gì của người cha suốt 12 hoặc 13 năm.
Ngày 3 tháng 2 năm 2017, Hernandez bị bắt vì nghi hành hung bạn gái. Người bạn gái cũng bị triệu tập ra tòa. Cả Hernandez và bạn gái, Amelia Llorente, đều bị tuyên án 31 ngày lao động công ích. Hernandez còn nhận lệnh cấm tiếp cận Llorente trong phạm vi 500 mét.
Tháng 6 năm đó, Hernandez lại bị bắt vì vi phạm lệnh cấm, khi cả hai cùng trở về Madrid sau tuần trăng mật. Vì vi phạm này, ngày 13 tháng 10 năm 2021, một tòa án Tây Ban Nha tuyên anh sáu tháng tù giam. Sau khi kháng cáo thành công, anh được chuyển sang án treo bốn năm và phải nộp phạt 96.000 euro.
Sự nghiệp Câu lạc bộ
Hernandez sinh ra ở Marseille, khi cha anh, Jean-François, đang chơi cho Olympique de Marseille. Anh theo gia đình sang Tây Ban Nha năm 4 tuổi, vì vậy về sau anh nói tiếng Pháp với chút giọng Tây Ban Nha. Năm 2007, ở tuổi 11, anh rời CF Rayo Majadahonda để gia nhập lò đào tạo trẻ của Atlético Madrid. Ngày 9 tháng 11 năm 2013, khi vẫn còn là cầu thủ trẻ, anh được huấn luyện viên Diego Simeone gọi lên cho trận La Liga gặp Villarreal CF, nhưng chỉ ngồi dự bị trong trận hòa 1–1 trên sân khách ngày hôm sau.
Ngày 26 tháng 4 năm 2014, Hernandez có trận ra mắt ở cấp độ trưởng thành khi đá chính cho đội dự bị trong trận thua 0–1 trước Real Sociedad B ở Segunda División B. Anh ra sân thêm ba trận nữa trong mùa giải, khi đội suýt phải xuống hạng. Tháng 6 năm đó, anh ký hợp đồng mới với câu lạc bộ, có thời hạn đến năm 2018.
Ngày 3 tháng 12 năm 2014, Hernandez ra mắt đội một, chơi trọn 90 phút trong chiến thắng 3–0 trên sân của CE L'Hospitalet ở Copa del Rey. Ngày 21 tháng 12, anh có trận ra mắt La Liga khi vào thay Guilherme Siqueira ở những phút cuối trận thắng 4–1 trước Athletic Bilbao.
Mùa giải 2015–16
Ngày 10 tháng 8 năm 2015, Hernandez gia hạn hợp đồng đến năm 2019 và chính thức được đôn lên đội một. Ngày 15 tháng 3 năm 2016, anh ra mắt UEFA Champions League khi vào thay Diego Godín bị chấn thương trong hiệp phụ trận vòng 16 đội gặp PSV Eindhoven (hòa 0–0 sau 120 phút, thắng 8–7 trên loạt sút luân lưu). Trong trận chung kết ngày 28 tháng 5 tại San Siro, anh cũng vào sân ở hiệp phụ, nhưng Atlético thua đối thủ cùng thành phố Real Madrid trên chấm luân lưu.
Mùa giải 2016–17
Ngày 6 tháng 8 năm 2016, Hernandez gia hạn hợp đồng với Atlético đến ngày 30 tháng 6 năm 2020. Mùa giải này, anh có vai trò lớn hơn với 22 lần ra sân trên mọi đấu trường, trong đó 20 trận đá chính.
Mùa giải 2017–18
Mùa 2017–18, Hernandez là trụ cột của đội với 44 trận trên mọi đấu trường. Trong trận chung kết UEFA Europa League 2018 gặp đội bóng Pháp Marseille, anh đá chính trọn trận, góp công vào chiến thắng 3–0 và có danh hiệu châu lục đầu tiên trong sự nghiệp.
Mùa giải 2018–19

Ngày 19 tháng 1 năm 2019, Hernandez ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp chuyên nghiệp, trong chiến thắng 3–0 trên sân của SD Huesca.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, Atlético xác nhận Hernandez sẽ rời câu lạc bộ vào mùa hè. Đội bóng cho biết đã đề nghị gia hạn hợp đồng, nhưng anh chọn gia nhập Bayern Munich ở Bundesliga, sau khi phía Đức kích hoạt điều khoản giải phóng hợp đồng trị giá 80 triệu euro. Khi kiểm tra y tế tại Bayern, các bác sĩ phát hiện anh bị tổn thương dây chằng bên trong đầu gối phải và cần phẫu thuật. Ngày 28 tháng 3 năm 2019, ca phẫu thuật diễn ra thành công, nhưng anh phải nghỉ hết phần còn lại của mùa giải cùng Atlético.
Mùa giải đó, Hernandez chơi 14 trận La Liga và ghi một bàn. Tính trên mọi đấu trường, anh ra sân 22 trận và ghi một bàn.
Ngày 12 tháng 10 năm 2019, trả lời phỏng vấn Marca, cựu huấn luyện viên Diego Simeone cho biết sự ra đi của hậu vệ trái này khiến Atlético rất đau lòng: "Sự ra đi khiến chúng tôi đau lòng nhất là Lucas, cậu bé từ lò đào tạo… còn hơn cả [Antoine] Griezmann". Griezmann rời Atlético sang Barcelona cùng thời điểm.
Bayern Munich
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, Bayern Munich thông báo chiêu mộ Hernandez với giá 80 triệu euro, phá kỷ lục chuyển nhượng của cả câu lạc bộ lẫn Bundesliga. Anh ký hợp đồng 5 năm, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2019 đến năm 2024. Ngày 10 tháng 8, Hernandez ra mắt Bayern ở vòng một DFB-Pokal gặp Energie Cottbus, khi được tung vào sân ở phút 89.
Ngày 23 tháng 8 năm 2020, Bayern đánh bại Paris Saint-Germain (PSG) 1–0 trong trận chung kết, giúp Hernandez lần đầu đăng quang Champions League. Ngày 3 tháng 11 cùng năm, anh có bàn thắng đầu tiên cho Bayern trong chiến thắng 6–2 trên sân của Red Bull Salzburg. Đến tháng 4 năm 2021, chính PSG lại loại Bayern ở tứ kết Champions League. Hai đội hòa chung cuộc 3–3, nhưng PSG đi tiếp nhờ luật bàn thắng sân khách.
Hernandez bỏ lỡ ba trận Bundesliga đầu mùa 2021–22 vì chấn thương đầu gối dính phải tại Euro 2020 (diễn ra vào năm 2021 do đại dịch). Sau khi trở lại, anh cùng Bayern tiến vào tứ kết Champions League, nhưng đội bóng bị Villarreal loại với tổng tỷ số 1–2.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022, Hernandez mở tài khoản mùa giải 2022–23 bằng một cú đánh đầu trong chiến thắng 2–0 trước Barcelona ở Champions League. Hai tháng sau, anh bị đứt dây chằng chéo đầu gối phải tại World Cup 2022 và phải nghỉ hết mùa giải.
Paris Saint-Germain
Ngày 9 tháng 7 năm 2023, Hernandez gia nhập đội bóng Ligue 1 Paris Saint-Germain theo bản hợp đồng 5 năm, có thời hạn đến ngày 30 tháng 6 năm 2028. Phí chuyển nhượng được cho là vào khoảng 40 triệu euro. Anh có trận ra mắt trong trận hòa 0–0 với Lorient trên sân Parc des Princes vào ngày 12 tháng 8.
Ngày 4 tháng 10 năm 2023, Hernandez ghi bàn thắng đầu tiên cho PSG bằng một cú đánh đầu, nhưng không thể giúp đội nhà tránh khỏi thất bại 1–4 trên sân của Newcastle United ở Champions League. Ngày 25 tháng 10 năm 2023, anh lần đầu tiên đối đầu em trai Théo trong một trận đấu chính thức ở cấp độ đội một, khi PSG tiếp AC Milan ở vòng bảng Champions League. Trận đấu khép lại với chiến thắng 3–0 nghiêng về PSG.
Ngày 1 tháng 5 năm 2024, ở trận lượt đi bán kết Champions League trên sân của Borussia Dortmund, Hernandez bị đứt dây chằng chéo trước đầu gối trái và phải nghỉ hết mùa giải.
Sự nghiệp Đội tuyển Quốc gia

Hernandez lần đầu khoác áo đội tuyển trẻ Pháp vào ngày 6 tháng 3 năm 2012, khi đá trọn 90 phút cho U-16 trong trận hòa 1–1 với Ý tại Coverciano. Năm 2014, anh tiếp tục ra sân cho các đội U-18 và U-19. Năm sau, anh được chọn vào Đội hình tiêu biểu Giải U-19 châu Âu.
Tháng 3 năm 2018, huấn luyện viên Didier Deschamps gọi Hernandez lên đội tuyển quốc gia cho các trận giao hữu với Colombia và Nga. Anh ra mắt trong trận gặp Colombia, vào thay Lucas Digne ở 14 phút cuối trận thua 2–3 tại Paris.
Hernandez có tên trong đội hình Pháp dự World Cup 2018. Anh ra mắt giải đấu ngày 16 tháng 6, đá trọn trận thắng 2–1 trước Úc ở vòng bảng. Anh ra sân trong tất cả các trận của Pháp, đội sau đó lên ngôi vô địch, và đá trọn 90 phút ở sáu trong bảy trận.
Tháng 10 năm 2021, trước trận bán kết UEFA Nations League gặp Bỉ, Lucas lần đầu được Deschamps triệu tập cùng em trai Theo. Hai anh em được xếp đá trong sơ đồ 3–4–1–2, Lucas ở vị trí trung vệ lệch trái, Theo ở vị trí hậu vệ cánh trái. Đây là lần đầu tiên hai anh em cùng ra sân trong một trận đấu chính thức cấp đội tuyển. Pháp lội ngược dòng thắng 3–2, với bàn quyết định của Theo ở phút 90.
Hernandez có tên trong đội hình Pháp dự World Cup 2022, nhưng bị đứt dây chằng chéo trước chỉ sau 13 phút của trận mở màn vòng bảng gặp Úc và phải chia tay giải đấu. Người vào sân thay anh hôm đó là em trai Théo, và Théo cũng đá thay anh trong phần còn lại của hành trình World Cup 2022 của tuyển Pháp.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026, Hernandez có tên trong danh sách 26 cầu thủ Pháp dự World Cup 2026.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 13 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Atlético Madrid | 2014–15 | La Liga | 1 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 |
| 2015–16 | 10 | 0 | 2 | 0 | 4 | 0 | — | 16 | 0 | |||
| 2016–17 | 15 | 0 | 5 | 0 | 4 | 0 | — | 24 | 0 | |||
| 2017–18 | 27 | 0 | 6 | 0 | 11 | 0 | — | 44 | 0 | |||
| 2018–19 | 14 | 1 | 2 | 0 | 5 | 0 | 1 | 0 | 22 | 1 | ||
| Tổng cộng | 67 | 1 | 18 | 0 | 24 | 0 | 1 | 0 | 110 | 1 | ||
| Bayern Munich | 2019–20 | Bundesliga | 19 | 0 | 3 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 25 | 0 |
| 2020–21 | 23 | 0 | 1 | 0 | 10 | 1 | 3 | 0 | 37 | 1 | ||
| 2021–22 | 25 | 0 | 1 | 0 | 8 | 0 | 0 | 0 | 34 | 0 | ||
| 2022–23 | 7 | 0 | 1 | 0 | 2 | 1 | 1 | 0 | 11 | 1 | ||
| Tổng cộng | 74 | 0 | 6 | 0 | 23 | 2 | 4 | 0 | 107 | 2 | ||
| Paris Saint-Germain | 2023–24 | Ligue 1 | 27 | 1 | 2 | 0 | 11 | 1 | 1 | 0 | 41 | 2 |
| 2024–25 | 16 | 0 | 4 | 0 | 5 | 0 | 4 | 0 | 29 | 0 | ||
| 2025–26 | 25 | 0 | 1 | 0 | 10 | 0 | 0 | 0 | 36 | 0 | ||
| Tổng cộng | 68 | 1 | 7 | 0 | 26 | 1 | 5 | 0 | 106 | 2 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 209 | 2 | 31 | 0 | 73 | 3 | 10 | 0 | 323 | 5 | ||
- ^ Bao gồm Copa del Rey, DFB-Pokal, Coupe de France
- ^ a b c d e f g h i j Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Ba lần ra sân tại UEFA Champions League, tám lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Ra sân tại UEFA Super Cup
- ^ Một lần ra sân tại UEFA Super Cup, một lần ra sân tại DFL-Supercup, một lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ^ Ra sân tại DFL-Supercup
- ^ Ra sân tại Trophée des Champions
- ^ Số lần ra sân tại FIFA Club World Cup
Quốc tế
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Pháp | 2018 | 15 | 0 |
| 2019 | 2 | 0 | |
| 2020 | 5 | 0 | |
| 2021 | 11 | 0 | |
| 2023 | 3 | 0 | |
| 2024 | 1 | 0 | |
| 2025 | 3 | 0 | |
| 2026 | 2 | 0 | |
| Tổng | 42 | 0 | |
Danh hiệu
Atlético Madrid
Bayern Munich
- Bundesliga: 2019–20, 2020–21, 2021–22, 2022–23
- DFB-Pokal: 2019–20
- DFL-Supercup: 2020, 2022
- UEFA Champions League: 2019–20
- UEFA Super Cup: 2020
- FIFA Club World Cup: 2020
Paris Saint-Germain
- Ligue 1: 2023–24, 2024–25, 2025–26
- Coupe de France: 2023–24, 2024–25
- Trophée des Champions: 2023, 2024, 2025
- UEFA Champions League: 2024–25, 2025–26
- UEFA Super Cup: 2025, 2026
- FIFA Intercontinental Cup: 2025
- FIFA Club World Cup á quân: 2025
Pháp
- FIFA World Cup: 2018; á quân: 2022
- UEFA Nations League: 2020–21
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Atlético Madrid official profile Lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2016 tại Wayback Machine
- Lucas Hernandez tại BDFutbol
- French Football Federation profile Lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2020 tại Wayback Machine (bằng tiếng Pháp)
- Lucas Hernandez tại National-Football-Teams.com
Thống kê chỉ số