Lukas Mai
Số áo #17Defender
Germany
Câu lạc bộ hiện tại
FC Lugano
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Milivojević với Serbia tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Luka Milivojević | ||
| Ngày sinh | 7 tháng 4, 1991 | ||
| Nơi sinh |
Kragujevac, CHXHCN Serbia, Nam Tư | ||
| Chiều cao | 1,86 m | ||
| Vị trí | Tiền vệ | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Al-Nasr | ||
| Số áo | 19 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2007–2008 | Radnički Kragujevac | 5 | (1) |
| 2008–2012 | Rad | 49 | (3) |
| 2012–2013 | Red Star Belgrade | 36 | (7) |
| 2013–2014 | Anderlecht | 19 | (0) |
| 2014–2017 | Olympiacos | 62 | (11) |
| 2017–2023 | Crystal Palace | 183 | (28) |
| 2023–2025 | Shabab Al Ahli | 41 | (4) |
| 2025– | Al-Nasr | 19 | (4) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2011–2012 | U-21 Serbia | 11 | (1) |
| 2012–2020 | Serbia | 38 | (1) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 22:45, 24 tháng 3 năm 2026 (UTC) | |||
Luka Milivojević (Kirin Serbia: Лука Миливојевић, phát âm [lûːka miliʋǒːjeʋitɕ]; sinh ngày 7 tháng 4 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Serbia thi đấu ở vị trí tiền vệ cho Al-Nasr.
Milivojević bắt đầu sự nghiệp tại Radnički Kragujevac và sau đó thi đấu cho Rad trước khi ký hợp đồng với Red Star Belgrade vào tháng 1 năm 2012. Sau đó, anh giành Belgian Pro League cùng Anderlecht và hai lần vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp cùng Olympiacos trước khi chuyển đến câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Crystal Palace với mức phí 16 triệu euro vào tháng 1 năm 2017. Được bổ nhiệm làm đội trưởng câu lạc bộ năm 2018, anh có gần 200 lần ra sân và ghi 29 bàn cho câu lạc bộ trước khi rời đội năm 2023.
Milivojević có trận ra mắt quốc tế chính thức cho đội tuyển quốc gia Serbia năm 2012 và đại diện cho quốc gia tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Anh có tổng cộng 38 lần khoác áo đội tuyển, ghi 1 bàn. Anh giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế vào năm 2020.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Những năm đầu
Mùa giải đầu tiên của Milivojević ở cấp độ chuyên nghiệp là với câu lạc bộ quê nhà Radnički Kragujevac trong mùa giải 2007–08, khi đội thi đấu tại Serbian League West. Cuối mùa giải đó, anh chuyển đến câu lạc bộ hạng cao nhất Rad và được đưa lên đội một trong mùa giải 2008–09. Anh thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh phải.
Red Star Belgrade
Milivojević ký hợp đồng với Red Star Belgrade vào ngày 19 tháng 12 năm 2011. Việc anh gia nhập Red Star phần lớn xuất phát từ mong muốn của huấn luyện viên Robert Prosinečki, người tin rằng Milivojević có tiềm năng sáng giá. Ngày 17 tháng 11 năm 2012, Milivojević ghi một bàn thắng ấn tượng vào lưới kình địch cùng thành phố Partizan.
Anderlecht
Ngày 26 tháng 7 năm 2013, Milivojević ký hợp đồng năm năm với gã khổng lồ bóng đá Bỉ Anderlecht. Ngày 1 tháng 9 năm 2014, có thông báo rằng Milivojević gia nhập Olympiacos theo dạng cho mượn từ Anderlecht.
Sau mùa giải 2014–15, Milivojević nhắc lại mong muốn ở lại Olympiacos. Hai câu lạc bộ có thể bắt đầu các cuộc đàm phán mới sau khi mùa giải kết thúc; Milivojević cho biết mong muốn của anh là chuyển hẳn sang câu lạc bộ. Theo các báo cáo tại Bỉ, Olympiacos dự kiến đáp ứng mức giá mà Anderlecht yêu cầu để hoàn tất thương vụ chuyển nhượng chính thức Milivojević. Olympiacos đang đàm phán với câu lạc bộ Bỉ vì không muốn trả mức 2,7 triệu euro mà Anderlecht yêu cầu cho Milivojević.
Olympiacos
Ngày 4 tháng 6 năm 2015, Anderlecht xác nhận đã đạt thỏa thuận với Olympiacos về việc chuyển nhượng chính thức Milivojević. Anh đã trải qua một mùa giải cùng câu lạc bộ và gia nhập nhà vô địch Hy Lạp bằng bản hợp đồng bốn năm, với mức phí 2,3 triệu euro. Ngày 30 tháng 6 năm 2015, Olympiacos từ chối một đề nghị khoảng 5 triệu euro từ Fenerbahçe.
Crystal Palace
Ngày 31 tháng 1 năm 2017, Milivojević ký hợp đồng ba năm rưỡi với Crystal Palace với mức phí 16 triệu euro. Ngày 10 tháng 4 năm 2017, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Palace bằng một quả phạt đền trong chiến thắng 3–0 trên sân nhà trước Arsenal, và có bàn thắng còn lại của mùa giải vào ngày 14 tháng 5 trong chiến thắng 4–0 tại Selhurst Park trước Hull City, kết quả giúp đội bóng của anh trụ lại hạng đấu cao nhất cho mùa giải tiếp theo và khiến đối thủ xuống hạng.
Trong mùa giải 2017–18, Milivojević là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của Palace với 10 bàn, khi Eagles phục hồi sau khởi đầu tệ hại để kết thúc ở vị trí thứ 11 dưới thời huấn luyện viên mới Roy Hodgson. Anh tạo dựng danh tiếng nhờ khả năng thực hiện phạt đền, ghi 9 trong 10 quả phạt đền trong một mùa giải rưỡi đầu tiên cùng Palace; trước khi gia nhập Crystal Palace, anh chưa từng thực hiện một quả phạt đền nào trong một trận đấu chuyên nghiệp. Quả duy nhất anh đá hỏng diễn ra vào ngày 31 tháng 12 năm 2017 trong thời gian bù giờ cuối trận hòa không bàn thắng trước Manchester City, khi Ederson cản phá cho đội bóng đã thắng 18 trận gần nhất trước đó.
Ngày 28 tháng 10 năm 2018, Milivojević ghi hai bàn từ chấm phạt đền trong trận hòa 2–2 trên sân nhà trước Arsenal, chấm dứt chuỗi 12 chiến thắng liên tiếp của đội khách. Trong trận làm khách trước Manchester City vào ngày 22 tháng 12, anh ghi bàn thắng quyết định từ chấm phạt đền trong chiến thắng 3–2 trước nhà đương kim vô địch.
Tháng 8 năm 2019, Milivojević ký gia hạn hợp đồng với Crystal Palace, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến năm 2023. Ngày 24 tháng 5 năm 2023, có xác nhận rằng anh sẽ rời câu lạc bộ khi hợp đồng hết hạn.
Shabab Al-Ahli
Ngày 8 tháng 8 năm 2023, Milivojević gia nhập câu lạc bộ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Shabab Al Ahli.
Al-Nasr
Ngày 12 tháng 7 năm 2025, Milivojević gia nhập câu lạc bộ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Nasr.
Sự nghiệp quốc tế
Anh là thành viên của đội tuyển U-21 Serbia. Anh được triệu tập lên đội tuyển quốc gia Serbia vào ngày 29 tháng 9 năm 2011 để gặp Ý và Slovenia trong giai đoạn vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012. Anh có trận ra mắt Serbia vào ngày 14 tháng 11 năm 2012 trong một trận giao hữu với Chile. Ngày 6 tháng 10 năm 2017, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Serbia trong một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới gặp Áo.
Tháng 6 năm 2018, anh được đưa vào danh sách 23 cầu thủ cuối cùng tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Tại giải đấu, anh ra sân trong hai trận, gặp Costa Rica và Thụy Sĩ.
Tháng 3 năm 2021, anh giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế ở tuổi 29. Trận quốc tế cuối cùng của anh là một trận Nations League gặp Hungary vào tháng 10 năm 2020.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 25 tháng 5 năm 2025
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp Liên đoàn | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Radnički Kragujevac | 2007–08 | Serbian League West | 5 | 1 | 0 | 0 | — | — | — | 5 | 1 | |||
| Rad | 2008–09 | Serbian SuperLiga | 1 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | |||
| 2009–10 | Serbian SuperLiga | 9 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 9 | 0 | ||||
| 2010–11 | Serbian SuperLiga | 26 | 0 | 0 | 0 | — | — | — | 26 | 0 | ||||
| 2011–12 | Serbian SuperLiga | 13 | 3 | 1 | 0 | — | 4 | 0 | — | 18 | 3 | |||
| Tổng cộng | 49 | 3 | 1 | 0 | — | 4 | 0 | — | 54 | 3 | ||||
| Red Star Belgrade | 2011–12 | Serbian SuperLiga | 11 | 1 | 3 | 0 | — | — | — | 14 | 2 | |||
| 2012–13 | Serbian SuperLiga | 25 | 6 | 2 | 0 | — | 5 | 0 | — | 32 | 6 | |||
| 2013–14 | Serbian SuperLiga | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 1 | 0 | — | 1 | 0 | |||
| Tổng cộng | 36 | 7 | 5 | 0 | — | 6 | 0 | — | 47 | 7 | ||||
| Anderlecht | 2013–14 | Belgian Pro League | 16 | 0 | 1 | 0 | — | 4 | 0 | 0 | 0 | 21 | 0 | |
| 2014–15 | Belgian Pro League | 3 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 | 0 | ||
| Tổng cộng | 19 | 0 | 1 | 0 | — | 4 | 0 | 1 | 0 | 25 | 0 | |||
| Olympiacos | 2014–15 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp | 23 | 2 | 7 | 4 | — | 7 | 0 | — | 37 | 6 | ||
| 2015–16 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp | 22 | 3 | 3 | 0 | — | 6 | 0 | — | 31 | 3 | |||
| 2016–17 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp | 17 | 6 | 1 | 0 | — | 8 | 0 | — | 26 | 6 | |||
| Tổng cộng | 62 | 11 | 11 | 4 | — | 21 | 0 | — | 94 | 15 | ||||
| Crystal Palace | 2016–17 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 14 | 2 | 0 | 0 | — | — | — | 14 | 2 | |||
| 2017–18 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 36 | 10 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 37 | 10 | |||
| 2018–19 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 38 | 12 | 3 | 0 | 1 | 0 | — | — | 42 | 12 | |||
| 2019–20 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 31 | 3 | 1 | 0 | 0 | 0 | — | — | 32 | 3 | |||
| 2020–21 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 31 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 32 | 1 | |||
| 2021–22 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 15 | 0 | 5 | 0 | 0 | 0 | — | — | 20 | 0 | |||
| 2022–23 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 18 | 0 | 1 | 0 | 2 | 1 | — | — | 21 | 1 | |||
| Tổng cộng | 183 | 28 | 10 | 0 | 5 | 1 | — | — | 198 | 29 | ||||
| Shabab Al Ahli | 2023–24 | Giải bóng đá chuyên nghiệp Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất | 19 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 20 | 1 |
| 2024–25 | Giải bóng đá chuyên nghiệp Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất | 22 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 22 | 3 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 395 | 54 | 28 | 4 | 5 | 1 | 36 | 0 | 1 | 0 | 464 | 59 | ||
- ^ Bao gồm Serbian Cup, Cúp bóng đá Bỉ, Cúp Hy Lạp, Cúp FA
- ^ Bao gồm Cúp EFL
- ^ a b c Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Bỉ
- ^ Năm lần ra sân ở UEFA Champions League, hai lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Bốn lần ra sân ở UEFA Champions League, hai lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, sáu lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở AFC Champions League
- ^ Lần ra sân ở AFC Champions League
Quốc tế

- Tính đến 11 tháng 10 năm 2020
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Serbia | 2012 | 1 | 0 |
| 2013 | 6 | 0 | |
| 2014 | 0 | 0 | |
| 2015 | 4 | 0 | |
| 2016 | 8 | 0 | |
| 2017 | 5 | 1 | |
| 2018 | 6 | 0 | |
| 2019 | 6 | 0 | |
| 2020 | 2 | 0 | |
| Tổng cộng | 38 | 1 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Serbia trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Milivojević.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 tháng 10 năm 2017 | Sân vận động Ernst Happel, Vienna, Áo | 1–0 | 2–3 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
Danh hiệu
Câu lạc bộ
Red Star Belgrade
Anderlecht
Olympiacos
Cá nhân
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Profile Lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2019 tại Wayback Machine at the Crystal Palace F.C. website
- Luka Milivojević tại Reprezentacija.rs (bằng tiếng Serbia)
- Luka Milivojević tại BDFutbol
Thống kê chỉ số