Quay lại

Julián Fernández

Số áo #5

Midfielder

Quốc tịch Flag Argentina
Tuổi 31
Chiều cao 5' 11"
Cân nặng 170 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Atlético Tucumán

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Fernão de Magalhães
Ferdinand Magellan
SinhFernão de Magalhães
1480
Sabrosa, Vương quốc Bồ Đào Nha
Mấttháng 4 27, 1521 (40–41 tuổi)
Cebu, Philippines
Quốc tịchBồ Đào Nha
Tây Ban Nha
Nổi tiếng vìThuyền trưởng đầu tiên thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới.
Chữ ký
Chú thích

Fernão de Magalhães hay thường được biết đến rộng rãi với tên tiếng Anh Ferdinand Magellan (tiếng Tây Ban Nha: Fernando de Magallanes; 4 tháng 2 năm 1480 – 27 tháng 4 năm 1521) (tiếng Việt: Phơ-đi-nan Ma-gien-lăng) là một nhà thám hiểm và nhà hàng hải người Bồ Đào Nha. Ông sinh ra tại Sabrosa, miền bắc Bồ Đào Nha, nhưng sau đó đã từ bỏ quốc tịch Bồ Đào Nha để nhập quốc tịch Tây Ban Nha nhằm mục đích phục vụ cho Vua Carlos I của Tây Ban Nha trong việc khai phá các tuyến thương mại đường biển đến "Quần đảo Gia vị" (ngày nay là quần đảo Maluku ở Indonesia) và Ấn Độ bằng cách đi về hướng Tây qua Thái Bình Dương.

Chuyến hải trình trong khoảng thời gian 1519–1522 của Magellan đã đi vào lịch sử như là chuyến đi đầu tiên bằng đường biển của con người từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương (cái tên có nghĩa "biển bình yên" cái tên này được đặt bởi Magellan; nơi tiếp nối giữa hai đại dương được đặt là eo biển Magellan), và là chuyến đi đầu tiên băng qua Thái Bình Dương. Chuyến đi này cũng đánh dấu sự kiện con người lần đầu tiên thành công trong việc đi vòng quanh Trái Đất, mặc dù chính bản thân Magellan đã không thể hoàn thành chuyến hành trình sau khi bị giết trong trận Mactan khi đụng độ với thổ dân ở đảo Mactan, Philippines. Tuy nhiên, Magellan đã từng đi theo hướng đông đến Bán đảo Mã Lai trong một chuyến hải hành trước đó, nên ông trở thành nhà thám hiểm đầu tiên đi qua tất cả đường kinh tuyến của địa cầu. Trong số 237 thủy thủ khởi hành trên năm con tàu, chỉ còn lại 18 người hoàn thành chuyến đi và xoay xở để quay trở về Tây Ban Nha vào năm 1522, dưới sự dẫn dắt của nhà hàng hải xứ Basque Juan Sebastián Elcano, người đã nhận trách nhiệm chỉ huy thủy thủ đoàn sau cái chết của Magellan. Mười bảy thủy thủ nữa sau đó cũng về được Tây Ban Nha bao gồm mười hai người bị Bồ Đào Nha bắt ở Cape Verde trong khoảng thời gian giữa năm 1525 và 1527 và năm người sống sót còn lại trở về trên con tàu Trinidad. Tên của Magellan cũng được đặt cho loài Chim cánh cụt Magellan, vốn được ông lần đầu tiên ghi chép lại, và Đám mây Magellan, ngày nay được biết đến là một thiên hà lùn.

Nguồn gốc và gia thế

Tranh khắc đồng trong tác phẩm của André Thevet

Fernão de Magalhães chào đời ngày 20 tháng 11 năm 1480. Sinh thời, ông tự nhận mình là người gốc Porto, và hầu hết các sử gia đều đồng tình với điều này; hoặc chí ít, họ nhất trí rằng ông sinh ra ở miền bắc Bồ Đào Nha. Tại Porto hoặc các vùng lân cận, ông sở hữu một điền trang trồng lúa mì, nho và dẻ. Vào tháng 3 năm 1519, ông đã để lại cơ ngơi này cho em gái mình là Isabel.

Vào thế kỷ 18, một nhà quý tộc tự xưng là người thừa kế của Magalhães đã công bố bản sao của một văn bản được cho là di chúc lập năm 1504, trong đó ghi nhận Magalhães xuất thân từ thị trấn Sabrosa. Giả thuyết này từng được giới học giả thế kỷ 19 tin tưởng sâu sắc. Tuy nhiên, đến năm 1921, sau khi công bố bản di chúc chân thực năm 1519 của Magalhães, hai sử gia người Bồ Đào Nha là José Manuel de Noronha và António Baião đã tìm ra những bằng chứng chứng minh bản di chúc năm 1504 chỉ là ngụy tạo. Đơn cử, văn bản giả mạo tôn xưng Vua Manuel I là "Bệ hạ" (su majestad), trong khi vào thời điểm đó danh xưng này chưa hề tồn tại, mà người ta chỉ dùng cụm từ "Điện hạ" (su alteza).

Magalhães từng cho biết ông là con trai của Rui (hoặc Rodrigo – một biến thể khác của tên gọi) de Magalhães và Alda de Mesquita. Trong di chúc năm 1519, ông có nhắc đến một người anh em trai tên là Duarte de Sousa và một người em gái tên Isabel de Magalhães.

Cái tên Rui Magalhães từng được ghi nhận là người trấn giữ tòa lâu đài đồ sộ nhất ở Porto. Các tư liệu lịch sử cũng cho thấy một người tên Rui Paes de Magalhães đã kết hôn với Inez Vaz Moutinho vào tháng 3 năm 1475 (có giả thuyết cho rằng đây là cuộc hôn nhân thứ hai của cha ông). Người con chung của họ là Aires Magalhães, sau này đã xuất gia tại Braga vào ngày 22 tháng 12 năm 1509. Một ghi chép khác vào năm 1468 cũng xác nhận một người tên Rui Magalhães từng sở hữu một điền trang ở Aveiro.

Gia tộc Magalhães vốn duy trì mối quan hệ liên minh bền chặt với các công tước xứ Viseu. Năm 1481, Leonor xứ Viseu thành hôn với Vua João II của Bồ Đào Nha. Đến năm 1495, Manuel xứ Viseu, em trai của vương hậu Leonor, chính thức kế vị ngai vàng. Fernão de Magalhães đã tiến cung và bắt đầu phục vụ triều đình tại Lisboa vào một thời điểm không xác định trước chuyến viễn du đầu tiên của mình.

Năm 1517, tại Sevilla, ông kết hôn với Beatriz Barbosa, ái nữ của Diogo Barbosa và Maria Caldeira. Họ có với nhau hai người con trai: Rodrigo, qua đời từ khi còn nhỏ vào tháng 10 năm 1522, và Carlos, mất ngay lúc lọt lòng. Người vợ Beatriz Barbosa cũng mất sớm vào tháng 3 năm 1522.

Những chuyến hải hành đầu tiên

Ngày 25 tháng 3 năm 1505, ông khởi hành đến Ấn Độ cùng một hạm đội dưới quyền chỉ huy của Francisco de Almeida, vị phó vương đầu tiên của Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha. Chuyến viễn chinh này do Quốc vương Manuel phái đi nhằm dò xét thế lực hải quân Hồi giáo dọc bờ biển Ấn Độ và châu Phi, đồng thời thiết lập sự hiện diện vững chắc của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ Dương. Hạm đội gồm 20 chiến thuyền, chuyên chở 1.500 binh sĩ. Tại vùng duyên hải Swahili, họ đã phế lập các nhà cai trị và dựng lên nhiều đồn bốt tại Kilwa và Sofala. Khi tiến vào Mombasa, họ vấp phải hỏa lực đánh chặn dữ dội, buộc Almeida phải quyết định san phẳng thành phố. Trước tình thế đó, vùng Malindi đành chấp thuận hợp tác với người Bồ Đào Nha.

Khi đặt chân đến Ấn Độ, Almeida tự xưng phó vương tại Cananor, nơi dân bản địa dù hợp tác nhưng lòng vẫn đầy hoài nghi. Tình thế tại Cochin cũng diễn ra tương tự. Ngược lại, Calicut lại chứng tỏ là một thành trì bất khả xâm phạm. Theo ghi chép của sử gia Gaspar Correia, Magalhães đã bị thương trong một trận chiến không được ghi nhận chính thức tại Cananor, và rất có thể đây chính là nguyên nhân dẫn đến tật thọt chân của ông về sau. Năm 1506, Magalhães giong buồm trở lại duyên hải Swahili trong một sứ mệnh củng cố các cứ điểm của Bồ Đào Nha, kiêm vai trò hòa giải một cuộc tranh chấp ngai vàng ở Kilwa. Mặc dù Correia khẳng định rằng ngay trong giai đoạn đầu quân tại Ấn Độ, Magalhães đã tích lũy được lượng kiến thức hàng hải uyên thâm, song hậu thế biết rất ít về những năm tháng đầu tiên của ông ở phương Đông. Phải đến tháng 11 năm 1506, danh tính của ông mới xuất hiện trở lại trong đội ngũ những người theo Nuno Vaz Pereira nhổ neo tới Sofala.

Bước sang năm 1507, Magalhães lại có mặt ở Ấn Độ. Tháng 2 năm 1509, một liên minh hải quân Hồi giáo được thành lập nhằm chống lại Bồ Đào Nha, quy tụ các chiến thuyền từ Calicut và Gujarat, cùng sự chi viện từ Ai Cập. Nhờ việc Malik Ayaz cản trở tàu từ Gujarat tham chiến, quân Bồ Đào Nha đã đánh bại một lực lượng áp đảo hơn gấp bội trong trận hải chiến Diu, qua đó giành quyền bá chủ trên phần lớn Ấn Độ Dương. Magalhães là một trong những chiến binh đã góp mặt trong trận kịch chiến này.

Tháng 7 năm 1509, Magalhães đang ở thành phố Cochin. Cùng năm đó, ông xuất phát từ đây để tham gia một đoàn thám hiểm do Diogo Lopes de Sequeira chỉ huy. Đi cùng ông có Francisco Serrão, một người bạn thân và có thể là anh em họ của ông. Mục đích của chuyến đi này là khám phá bờ biển Sumatra để tìm vàng, sau đó đến Malacca để mở đường buôn bán. Các nhà sử học trước đây kể lại (dù không có tài liệu chính thức xác nhận) rằng trong chuyến đi này, Magalhães đã phát hiện ra âm mưu cướp tàu của các thủy thủ người Mã Lai. Sau đó, ông được cử đi báo tin cho chỉ huy hạm đội Bồ Đào Nha ở vùng biển Malacca để chuẩn bị đối phó với cuộc tấn công sắp xảy ra. Một cuộc bạo động đã nổ ra sau đó, và người ta cho rằng Magalhães đã cứu mạng Serrão trong lúc hỗn loạn.

Khi hạm đội quay lại bờ biển Malabar, thống đốc Almeida đã được thay thế bởi Afonso de Albuquerque. Vào tháng 9 năm 1510, Albuquerque đã cấp cho Magalhães một bộ áo giáp cũ.

Các tài liệu cho thấy vào tháng 10 năm 1510, Magalhães vẫn ở Cochin và tự nhận mình là:

"[...] một người buôn bán ở thành phố này, hợp tác với các thương gia khác bằng cách cho họ vay tiền với mức lãi suất hợp pháp theo thỏa thuận. Họ thường đồng ý trả cho ông bằng một nửa lợi nhuận kiếm được, với mức lãi suất 10% mỗi năm."

Cùng năm đó, ông lên một chiếc tàu chở đầy gia vị để quay về Bồ Đào Nha. Theo nhà sử học thế kỷ 16 João de Barros, chiếc tàu này đã bị mắc cạn ở quần đảo Maldives. Magalhães đã đứng ra chỉ huy, cử một nhóm người đi thuyền nhỏ đến Cananor để gọi cứu hộ. Trong suốt nhiều tuần chờ người đến cứu, Magalhães đã đảm nhận việc chia khẩu phần ăn và trấn an tinh thần của các thủy thủ trên tàu.

Về sau, Magalhães đã góp mặt trong một hội nghị quân sự cùng vị tân thống đốc để bàn mưu đánh chiếm cứ điểm Goa. Ông đã mạnh dạn hiến kế tách các tàu buôn khỏi đội hình chiến đấu nhằm tránh làm gián đoạn huyết mạch giao thương. Lời tham nghị này được giới cầm quyền đánh giá rất cao, góp phần làm nên chiến thắng vang dội tại Goa. Những thắng lợi liên tiếp của Bồ Đào Nha dọc theo vùng duyên hải Đông Phi và Tây Ấn đã đập tan các thế lực Hồi giáo trên mặt biển Ấn Độ Dương. Tới lúc này, khát vọng của cựu thống đốc Almeida — tước đoạt các trọng điểm thương mại hàng hải khỏi tay người Ả Rập — đã gần như thành công mỹ mãn. Dẫu vậy, chừng nào chưa làm chủ được Malacca, bá đồ của Bồ Đào Nha vẫn chưa thể trọn vẹn. Vì lẽ đó, vào cuối tháng 6 năm 1511, một hạm đội hùng hậu dưới trướng Albuquerque đã giương buồm tiến đánh Malacca. Cả Magalhães và Serrão đều sát cánh trong cuộc vây hãm khốc liệt này. Sau sáu tuần kháng cự, thành trì Malacca chính thức thất thủ vào tháng 8 năm 1511. Đây được xem là khúc khải hoàn vĩ đại nhất của người Bồ Đào Nha tại Viễn Đông. Với việc thâu tóm eo biển Malacca, yết hầu luân chuyển muôn vàn của cải từ phương Đông sang phương Tây, đế chế Bồ Đào Nha đã chính thức nắm giữ chiếc chìa khóa mở ra các vùng biển và thương cảng sầm uất bậc nhất xứ Mã Lai. Giờ đây, mảnh ghép duy nhất còn thiếu là công cuộc khám phá quần đảo Maluku trù phú (nay thuộc Indonesia), vùng đất huyền thoại của những hương liệu quý giá.

Vào khoảng tháng 11 năm 1511, thương nhân Nakhoda Ismail cập cảng Malacca trên một chiếc thuyền mành, mang theo các sản vật của xứ Mã Lai và Java với ý định dong buồm tới Maluku đổi lấy gia vị. Nhận thấy thời cơ, Albuquerque lập tức phái một hạm đội viễn chinh tới quần đảo này do António de Abreu thống lĩnh, trong đó Serrão được giao phó trọng trách thuyền trưởng một chiến hạm. Theo ghi chép của Abreu, Magalhães cũng có mặt trong chuyến hải trình này. Khi đi qua quần đảo Sapudi, tàu của Serrão không may mắc cạn và phải cậy nhờ các hoa tiêu bản địa kéo đi. Hạm đội buộc phải neo lại trú đông ở Guliguli, nơi họ đành ngậm ngùi đánh chìm con tàu này vì nó đã mục nát nghiêm trọng. Đặt chân đến Amboina, họ mua lại một chiếc thuyền mành, chất đầy đinh hương và đành quay mũi trở về khi chưa kịp vươn tới đích đến cuối cùng, bởi các con tàu đều đã rệu rã cần tu sửa. Trớ trêu thay, một cơn bão hung hãn đã cuốn con tàu của Serrão lạc khỏi hạm đội, dạt đến Lucopino theo một biên niên sử, hoặc đến Mindanao theo một biên niên sử khác, dù khả năng sau ít xảy ra hơn. Giữa cơn khốn quẫn, họ lại bị hải tặc phục kích. Thế nhưng, bằng sự dũng mãnh quả cảm, những thủy thủ Bồ Đào Nha đã lật ngược thế cờ, cướp đoạt chính con tàu của bọn hải tặc và cập bến Amboina an toàn. Tại đây, họ được cư dân bản xứ cầu viện để sát cánh chiến đấu chống lại thổ dân vùng Veranula, một thành phố thuộc đảo Halmahera. Sau chiến thắng, Serrão được người dân tưởng thưởng một dinh thự bằng gỗ. Khi hay tin về vị chiến binh châu Âu xuất chúng này, Quốc vương Bayan Sirrullah của vương quốc Ternate (người Bồ Đào Nha gọi là Cachil Boleif) đã đích thân gửi lời mời ông đến hoàng cung. Năm 1512, Serrão đặt chân đến Ternate và quyết định gắn bó phần đời còn lại tại mảnh đất này.

Về phần Magalhães, ông dong buồm quay lại Malacca. Trong số các nô lệ theo hầu ông có một chàng trai tên Enrique, người được chính Magalhães miêu tả là "một người con lai, gốc gác Malacca" (dẫu cho sau này, sử gia Antonio Pigafetta lại đinh ninh rằng Enrique là người Sumatra). Ít lâu sau, Magalhães rời Malacca để tới Cochin. Bắt đầu từ năm 1513, những người Bồ Đào Nha ngụ tại Malacca liên tục nhận được những bức thư của Serrão gửi về, kể những câu chuyện kỳ thú về vùng đất Maluku. Theo lời Pigafetta, ngay từ lúc còn lưu lại Malacca, Magalhães cũng đã nhận được nhiều bức thư từ người tri kỷ Serrão, trong đó Serrão dùng những lời lẽ đầy tâm huyết để thôi thúc ông dấn thân vào hành trình khám phá quần đảo gia vị huyền thoại này.

Năm 1513, Magalhães trở về Bồ Đào Nha. Đến tháng 8 cùng năm, ông rời cảng Lisboa để đi tiếp viện cho pháo đài Azamor và buộc các thủ lĩnh bộ lạc Maroc phải quy phục, cống nạp. Chiến dịch này được đặt dưới quyền thống soái của Jaime, Công tước xứ Bragança. Theo ghi chép của sử gia João de Barros, chính giữa vòng vây ác liệt tại trận Azamor, Magalhães đã lĩnh trọn một nhát giáo, để lại di chứng khiến ông bị thọt chân suốt phần đời còn lại. Trong trận chiến này, quân Bồ Đào Nha đã bắt giữ 890 tù binh và tịch thu 2.000 đầu gia súc. Magalhães cùng Álvaro Monteiro được giao trọng trách quản lý số chiến lợi phẩm này. Tuy nhiên, Magalhães bị cáo buộc bán lậu 400 con gia súc cho người bản địa Maroc trong đêm, sau đó phao tin giả rằng chúng đã bị đánh cắp. Tháng 7 năm 1514, ông tự ý giong buồm trở về Bồ Đào Nha khi chưa được phép, một động thái mà nhiều người cho là để trốn tránh việc bị đối chất.

Tháng 11 năm 1514, ông đệ đơn lên Vua Manuel thỉnh cầu một mức tăng trợ cấp nhỏ mang tính biểu tượng nhằm ghi nhận công trạng. Thế nhưng, nhà vua lúc này đã nhận được báo cáo về những hành vi sai trái của ông nên đã lạnh lùng bác bỏ, đồng thời lệnh cho ông phải lập tức quay lại Maroc. Phục tùng mệnh lệnh, tháng 7 năm 1515, Magalhães trở lại Maroc, nơi mọi cáo buộc biển thủ gia súc nhắm vào ông cuối cùng cũng được bãi miễn. Sử gia João de Barros nhận định, sự tình này có thể xuất phát từ việc ông thực sự vô tội, hoặc đơn giản là giới cầm quyền không muốn khơi mào rắc rối, làm tổn hại đến nền hòa bình vốn đang rất mỏng manh tại Azamor khi đó.

Cũng theo tư liệu của Barros, từ năm 1514 đến năm 1517, Magalhães vẫn thường xuyên trao đổi thư từ với Serrão. Trong thư, ông quả quyết rằng cả hai sẽ sớm hội ngộ tại quần đảo Maluku trong một chuyến viễn chinh dưới ngọn cờ của Bồ Đào Nha, hoặc thậm chí là của Vương quốc Castilla.

Đến năm 1516, Magalhães tái xuất hiện tại Lisboa để đón một chuyến hàng hồ tiêu do ông sắp xếp đưa về từ phương Đông. Thương vụ này giúp ông thu về một khoản tiền lớn từ Casa da Índia. Bên cạnh đó, sử liệu cho thấy tính đến tháng 4 năm 1516, ông vẫn đều đặn nhận mức trợ cấp 1.250 real mỗi tháng từ vương thất Bồ Đào Nha. Dù vậy, tham vọng của vị hoa tiêu chưa dừng lại. Ông tiếp tục đệ trình lên Quốc vương thỉnh nguyện được thăng cấp bậc và tăng thêm bổng lộc, nhưng đề xuất này một lần nữa bị cự tuyệt thẳng thừng vào ngày 15 tháng 4 năm 1517.

Viễn chinh đến quần đảo Maluku

Quá trình chuẩn bị

Người Tây Ban Nha luôn lập luận rằng đường đối cực của ranh giới được thiết lập trong Hiệp ước Tordesillas năm 1494 đã đặt "quần đảo gia vị" Maluku vào tầm kiểm soát của Tây Ban Nha. Hiệp ước này quy định một đường phân định chạy từ cực này sang cực kia, cách quần đảo Cabo Verde 370 legua (dặm Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha cổ) về phía tây. Tuy nhiên, văn kiện lại không nêu rõ điểm bắt đầu tính toán là từ hòn đảo nào trong quần đảo, cũng như không thống nhất độ dài chính xác của một legua (do đơn vị này thay đổi tùy theo từng địa phương). Bên cạnh đó, nhận thức của con người thời bấy giờ về kích thước thực sự của Trái Đất vẫn còn nhiều hạn chế; và nếu Trái Đất càng nhỏ, phần tỷ lệ lãnh thổ mà Tây Ban Nha được hưởng lợi sẽ càng lớn.

Nhiều khả năng Magalhães đã tiếp cận được tấm bản đồ năm 1514 của João de Lisboa — mô tả lục địa Nam Mỹ đang thu hẹp dần về phía cực nam — và một bản đồ khác năm 1515 của Johannes Schöner. Bản đồ của Schöner phác họa hai eo biển ở châu Mỹ: một ở Trung Mỹ (chưa từng được tìm thấy trong các chuyến thám hiểm trước đó) và một ở phía nam Brasil. Dựa trên những tư liệu này, dường như ông đã nghĩ rằng mình có thể tiến tới quần đảo Maluku bằng cách băng qua Đại Tây Dương. Theo Bartolomé de las Casas, một bức thư do Antonio Pigafetta chắp bút có nhắc rằng Magalhães đã nhìn thấy trên tấm hải đồ của Martin Behaim một eo biển giúp ông đến được Maluku bằng cách giong buồm về hướng tây.

Trong thời gian này, Magalhães đã kết giao với Rui Faleiro, một nhà vũ trụ học có cùng niềm tin rằng quần đảo gia vị nằm trong phạm vi lãnh thổ của Tây Ban Nha theo Hiệp ước Tordesillas. Theo hiệp ước, mọi vùng đất mới phát hiện hoặc sắp được khám phá nằm ở phía đông đường phân định (cách Cabo Verde 370 legua về phía tây) sẽ thuộc về Bồ Đào Nha, trong khi toàn bộ lãnh thổ nằm về phía tây đường này sẽ được giao cho Tây Ban Nha. Tự tay thực hiện những phép tính của riêng mình — rất có thể dựa trên các hải đồ Bồ Đào Nha do Francisco Rodrigues vẽ trong chuyến viễn chinh của António de Abreu và các chuyến đi sau đó — Magalhães cho rằng người Bồ Đào Nha đã cố tình bóp méo số liệu để đặt quần đảo này vào phạm vi kiểm soát của họ.

Magalhães và Faleiro đã giao ước cùng nhau thực hiện một chuyến viễn chinh đến quần đảo gia vị Maluku mà tuyệt đối không rò rỉ thông tin cho bất kỳ bên thứ ba nào. Kế hoạch của họ là giong buồm về hướng tây nhằm chứng minh trên thực tế luận điểm: quần đảo Maluku nằm ở phía tây đường phân định, nghĩa là hoàn toàn thuộc về bán cầu của Tây Ban Nha chứ không phải của Bồ Đào Nha. Magalhães mang một niềm tin mãnh liệt rằng ông có thể dẫn dắt hạm đội của mình xuyên từ Đại Tây Dương sang "Nam Hải" (Thái Bình Dương) bằng cách khám phá ra một eo biển xuyên qua đất liền. Ý tưởng này vốn dĩ không do ông khởi xướng; trước đó, đã có những nhà thám hiểm cất công tìm kiếm một tuyến đường hàng hải liên tục về hướng tây để vươn tới phương Đông, qua đó né tránh Mũi Hảo Vọng ở châu Phi – nơi đang bị quân Bồ Đào Nha kiểm soát gắt gao.

Ngày 20 tháng 10 năm 1517, Magalhães chuyển đến Sevilla, bắt đầu thiết lập mối liên hệ với Casa de la Contratación de Indias (Sở Giao dịch Tây Ấn). Tại đây, ông được tiếp đón bởi Juan de Aranda, viên quản đốc cấp cao của cơ quan này. Tháng 11 năm 1518, Magalhães từng viết rằng không một ai có đủ năng lực và tầm nhìn để thấu hiểu tham vọng của ông và Rui Faleiro như Juan de Aranda. Cũng từ thời điểm này, Magalhães – người cho đến bấy giờ vẫn mang cái tên gốc Bồ Đào Nha là Fernão de Magalhães – bắt đầu được thế giới biết đến qua phiên bản tên gọi Tây Ban Nha của mình (Fernando de Magallanes).

Ngược dòng lịch sử, vào năm 1483, Vua João II của Bồ Đào Nha, vì e ngại trước sự bành trướng thế lực của Gia tộc Bragança, đã ra lệnh hành quyết vị Công tước thứ ba và lưu đày toàn bộ phe cánh của ông. Một số người trong nhóm lưu vong này sau đó đã tham chiến trong Chiến tranh Granada. Về sau, họ chính là lực lượng nòng cốt tạo nên cộng đồng người Bồ Đào Nha kiều cư tại Sevilla, và đây cũng chính là mạng lưới mà Magalhães đã gia nhập để tìm chốn nương thân.

Năm 1503, Nữ vương Isabel I (Isabel Công giáo) đã sắc phong Jorge de Portugal y Melo làm alcaide (tổng trấn/quản đốc) cai quản cung điện Alcázar và xưởng đóng tàu Atarazanas tại Sevilla. Đến năm 1517, chức vụ phó quản đốc được giao cho một người Bồ Đào Nha tên là Diogo Barbosa. Cùng năm đó, Magalhães thành hôn với Beatriz Barbosa, ái nữ của Diogo. Mặc dù vậy, cuộc hôn nhân giữa hai người mãi đến ngày 4 tháng 6 năm 1519 mới chính thức hoàn tất. Theo khế ước hôn nhân, Magalhães nhận được của hồi môn trị giá 60.000 maravedí (một khoản tiền khổng lồ, đủ để trả lương cho 50 thủy thủ trong suốt một năm). Năm 1519, người con trai đầu lòng của cuộc hôn nhân này chào đời và được đặt tên là Rodrigo.

Tháng 12 năm 1517, Faleiro đặt chân đến Sevilla cùng với người anh em Francisco và rất có thể là cả vợ ông, Eva Afonso. Faleiro đã tỏ ra vô cùng bất bình với Magalhães vì vị hoa tiêu này đã tự ý bắt mối với các thành viên của Sở Giao dịch Tây Ấn mà không chờ đợi mình. Dẫu vậy, mâu thuẫn này sau đó đã được Diogo Barbosa đứng ra dàn xếp ổn thỏa nhờ sự trợ giúp của Rui Lopes — một nhà thiên văn học nghiệp dư từng phục vụ dưới trướng Jorge de Portugal.

Theo ghi chép của Francisco Faleiro, Magalhães đã có cơ hội tiếp cận những tấm bản đồ quý giá, nhiều khả năng là của hai nhà bản đồ học lừng danh Amerigo Vespucci và Nuño García de Toreno.

Ngày 20 tháng 1 năm 1518, Magalhães, Rui Faleiro và Juan de Aranda rời Sevilla thẳng tiến đến Valladolid, nơi vương triều Tây Ban Nha đang ngự trị. Tháp tùng Magalhães trong chuyến đi này còn có nô lệ Enrique gốc Malacca và một người phụ nữ gốc Sumatra am tường nhiều ngôn ngữ. Dù tên của người phụ nữ Sumatra này không xuất hiện trong danh sách biên chế chính thức của đoàn thám hiểm, nhưng theo tài liệu của sử gia Francisco López de Gómara, bà đã tham gia chuyến viễn chinh và đóng vai trò thông ngôn đắc lực giúp hạm đội giao tiếp với cư dân bản địa tại quần đảo Mariana. Phái đoàn đã dừng chân nghỉ lại một đêm tại Medina del Campo trước khi tá túc tại Puente Duero.

Về phần Aranda, viên quản đốc này muốn được tưởng thưởng xứng đáng cho những nỗ lực móc nối và sắp xếp của mình. Sau một quá trình thương lượng, vào ngày 23 tháng 2 năm 1518, Magalhães và Rui Faleiro đã chính thức ký kết thỏa thuận, đồng ý trích cho Aranda một phần tám tổng số lợi nhuận thu được từ chuyến viễn chinh sắp tới.

Ngày 22 tháng 3 năm 1518, đề án viễn chinh chính thức nhận được sự ân chuẩn từ vương thất Tây Ban Nha. Magalhães và Faleiro được sắc phong làm đồng Tổng tư lệnh hạm đội, gánh vác trọng trách khai mở một tuyến đường hàng hải của riêng Tây Ban Nha hướng về quần đảo Maluku. Trong bản khế ước hoàng gia, hai ông mang sứ mệnh phải tìm cho bằng được "cái" eo biển nọ — ám chỉ một lối đi vắt ngang qua dải đất liền châu Mỹ vốn chỉ tồn tại trong giả thuyết. Quyền cai trị những vùng lãnh thổ mới được khám phá sẽ được trao cho họ và con cháu đời sau, kèm theo đặc quyền hưởng một phần hai mươi (5%) lợi nhuận ròng từ toàn bộ chuyến đi. Hơn thế nữa, cả hai còn được vinh dự khoác lên mình tước hiệu của Dòng Santiago (Orden de Santiago), một hiệp sĩ đoàn mang tính chất quân sự và tôn giáo vô cùng danh giá của Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, giới hàng hải Tây Ban Nha đã phản ứng kịch liệt trước việc nhà vua giao phó một hạm đội viễn chinh quan trọng vào tay những người gốc Bồ Đào Nha. Juan Rodríguez de Fonseca — Giám mục xứ Burgos kiêm người đứng đầu Sở Giao dịch Tây Ấn đầy quyền uy (cơ quan tối cao giám sát mọi hoạt động thám hiểm của đế quốc) — đã dùng sức ảnh hưởng của mình để gây khó dễ cho khâu tổ chức, khiến lịch trình khởi hành bị trì hoãn hết lần này đến lần khác. Trong khi đó, các mật thám của vương triều Bồ Đào Nha, phẫn nộ trước sự trở cờ của Magalhães, cũng giật dây hòng bóp nghẹt dự án từ trong trứng nước nhưng bất thành.

Tháng 5 năm 1519, Magalhães phải hầu trình tại triều đình (lúc này đang đóng ở Barcelona) để lấy lời khai xoay quanh vụ lùm xùm móc ngoặc lợi ích với viên quản đốc Juan de Aranda. Cũng chính tại Barcelona lúc bấy giờ, vị sứ thần của Giáo hoàng là Francesco Chieregati đã đặt chân đến cùng với Antonio Pigafetta. Về sau, Pigafetta đã quyết định đầu quân cho hạm đội và trở thành người chép sử vĩ đại, để lại một cuốn nhật ký tường tận về toàn bộ chuyến hải trình này.

Đến ngày 25 tháng 6 năm 1519, Giám mục Juan Rodríguez de Fonseca tuyên bố thẳng thừng với Aranda rằng bản thỏa thuận chia chác lợi nhuận mà ông ta đã ký kết với Magalhães hoàn toàn vô giá trị. Lý do được đưa ra là điều này vi phạm nghiêm trọng luật xung đột lợi ích đối với một quan chức đang tại vị của Sở Giao dịch Tây Ấn.

Ngược dòng thời gian trở lại giai đoạn trước khi dự án được phê duyệt, chính Aranda là người đã xoay sở thành công để Magalhães được diện kiến Đại Chưởng ấn Jean Sauvage và Giám mục Fonseca tại Valladolid. Các cuộc hội kiến này ước tính diễn ra vào khoảng ngày 17 và 18 tháng 3 năm 1518. Vụ việc từng được đệ trình lên Hội đồng Vương quốc, nhưng ban đầu cơ quan này đã từ chối rót vốn tài trợ vì họ đinh ninh rằng không hề tồn tại bất kỳ eo biển nào kết nối Đại Tây Dương với các vùng biển phương Đông.

Theo sử gia Francisco López de Gómara, để thuyết phục triều đình về sự trù phú của quần đảo gia vị, Magalhães đã đưa ra những bức thư từ người tri kỷ Francisco Serrão — trong đó Serrão hết lời giục giã ông hãy đến ngay vùng đất này nếu muốn đổi đời nhanh chóng. Đồng thời, Magalhães cũng trình ra cuốn biên niên sử về một chuyến du hành phương Đông do Ludovico di Varthema xuất bản năm 1510 như một bằng chứng để củng cố lập luận của mình.

Theo ghi chép của sử gia Bartolomé de las Casas, khi thuyết trình về tuyến đường mới tới Maluku trước triều đình, Magalhães đã sử dụng một quả địa cầu có phác họa sẵn các vùng lãnh thổ và lộ trình mà ông định đi. Tuy nhiên, ông đã cố tình để trống hoàn toàn phần eo biển cắt ngang châu Mỹ. Lý do ông đưa ra là để đề phòng việc có kẻ đánh cắp ý tưởng và nẫng tay trên phát kiến vĩ đại này.

Ngày 20 tháng 3, Vua Carlos I (tức Hoàng đế Karl V tương lai) xa giá tới Valladolid sau khi hộ tống Nữ vương Juana I đến nơi an trí tại Tordesillas. Vị quân vương đã dùng vương quyền để bác bỏ phán quyết cự tuyệt trước đó của Hội đồng Vương quốc, và chính thức chấp thuận xuất ngân khố tài trợ cho cuộc viễn chinh vào ngày 22 tháng 3. Dẫu vậy, mọi chuyện không hề suôn sẻ. Số lượng thủy thủ Bồ Đào Nha được biên chế vào hạm đội bị triều đình giới hạn vô cùng khắt khe. Giám mục Fonseca đã khôn khéo tận dụng cơ hội này để cài cắm một viên sĩ quan Tây Ban Nha lên tàu, đóng vai trò như một đồng tư lệnh hạm đội. Thêm vào đó, Magalhães lại mất đi cánh tay phải đắc lực của mình là Faleiro — vị đồng thuyền trưởng gốc Bồ Đào Nha đã phải ở lại trên bờ vì chứng bất ổn tâm lý. Chính những mâu thuẫn âm ỉ và sự chắp vá giữa nhóm sĩ quan Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trên cùng một hạm đội này sẽ gieo mầm cho những cuộc khủng hoảng kỷ luật vô cùng trầm trọng về sau.

Trong bản Thỏa ước Valladolid (Capitulaciones de Valladolid), vương thất Tây Ban Nha đã quy định rõ những điều khoản sau đối với cuộc viễn chinh của Magalhães và Rui Faleiro:

  • Cả hai sẽ giữ chức đồng tư lệnh, nắm toàn quyền chỉ huy thủy thủ đoàn của hạm đội.
  • Vương thất sẽ cung cấp 5 chiến hạm cùng 234 thủy thủ.
  • Vương thất nắm quyền bổ nhiệm một quản đốc, một thủ quỹ, một kế toán và các thư ký đi cùng.
  • Hai ông sẽ được hưởng độc quyền khai thác tuyến đường hàng hải mới khám phá trong thời hạn 10 năm.
  • Được sắc phong làm Thống đốc và Adelantado (Thủ hiến/Đại diện vương quyền) tại những vùng đất và hải đảo được tìm thấy, đồng thời được hưởng 5% lợi nhuận ròng thu được từ các vùng đất này.
  • Được chia 1/20 (tương đương 5%) tổng lợi nhuận của chuyến viễn chinh.
  • Có đặc quyền giữ lại 1.000 ducado (đồng tiền vàng) từ các chuyến hải hành tiếp theo, và chỉ phải nộp thuế 5% cho phần lợi nhuận vượt mức đó.
  • Mỗi người sẽ được ban phong quyền sở hữu một hòn đảo. Riêng đối với sáu hòn đảo trù phú nhất được phát hiện, họ sẽ chỉ được nhận 1/15 lợi tức.
  • Điều kiện tiên quyết: Nghiêm cấm hạm đội xâm phạm vào vùng ranh giới đã phân định của Bồ Đào Nha.

Vua Carlos I đã chính thức sắc phong Magalhães và Rui Faleiro làm Hiệp sĩ Dòng Santiago (các văn kiện của triều đình bắt đầu ghi nhận tước hiệu này từ ngày 19 tháng 4 năm 1518). Đồng thời, nhà vua cũng cam kết rằng toàn bộ thuyền trưởng và hoa tiêu của hạm đội sẽ đều được phong tước vị danh giá này nếu cuộc viễn chinh thành công. Đi kèm với vinh dự trên là khoản bổng lộc 125.000 maravedí dành cho Magalhães. Tuy nhiên, do chưa kịp nhận số tiền này trước lúc nhổ neo, ông đã thỉnh cầu nhà vua quyên góp toàn bộ bổng lộc đó cho Tu viện Victoria tại Sevilla.

Công cuộc chuẩn bị cho chuyến hải hành vĩ đại bắt đầu diễn ra một cách rề rà và chìm trong vô vàn trắc trở: ngân khố cạn kiệt, những mưu đồ phá hoại ngầm từ Vua Manuel I của Bồ Đào Nha, và cả sự ngờ vực sâu sắc của người Tây Ban Nha (Vương quốc Castilla) dành cho Magalhães cũng như nhóm thủy thủ gốc Bồ Đào Nha.

Ngày 30 tháng 3 năm 1518, Luis de Mendoza được bổ nhiệm làm thủ quỹ và Juan de Cartagena giữ chức tổng thanh tra hạm đội. Đến ngày 6 tháng 4, Gaspar de Quesada được chỉ định làm thuyền trưởng của một trong các chiến hạm. Tiếp đó, vào ngày 19 tháng 4, Gonzalo Gómez de Espinosa được cắt cử làm sĩ quan chỉ huy. Đáng chú ý, tất cả những nhân vật này đều là thân tín của Giám mục Fonseca. Động thái cài cắm này khiến Magalhães cảm thấy vô cùng bất an, bởi ông nhận ra vị giám mục đang rắp tâm thắt chặt quyền kiểm soát đối với hạm đội. Danh sách nhân sự khép lại vào ngày 30 tháng 4 với việc Antonio de Coca được bổ nhiệm làm kế toán.

Tháng 10 năm 1518, khi đang giám sát công việc tại Sevilla, Magalhães đã cho kéo những lá cờ mang gia huy của chính mình lên cột buồm của một chiến hạm thay vì sử dụng cờ vương thất Tây Ban Nha. Đám đông dân chúng lập tức tụ tập quanh bến cảng, phẫn nộ cáo buộc ông dám ngang nhiên treo cờ Bồ Đào Nha. Trước tình hình căng thẳng, Sancho de Matienzo, viên thủ quỹ của Sở Giao dịch Tây Ấn, đã hạ lệnh hạ các lá cờ và bắt giữ Magalhães. Đội lính canh do Matienzo phái đến đã dùng vũ lực giải tán các thủy thủ đang sửa soạn tàu, dẫn đến một cuộc xô xát đổ máu với thủy thủ đoàn khiến một hoa tiêu bị đâm trọng thương. Đối mặt với nguy cơ bị kết tội phản nghịch, Magalhães buộc phải dâng thư trần tình lên Vua Carlos I. Trong thư, ông giải thích rằng những lá cờ đó chỉ mang gia huy cá nhân, đồng thời khẳng định mình là bề tôi trung thành của quân vương Tây Ban Nha, và lý do duy nhất khiến cờ vương thất chưa được kéo lên là vì thợ vẫn chưa vẽ xong. Nhờ lời trần tình hợp lý này, ông cuối cùng đã được nhà vua minh oan.

Quốc vương Bồ Đào Nha đã phái người đến tận Sevilla để thuyết phục Magalhães hồi hương. Cuối tháng 9 năm 1518, đại sứ Bồ Đào Nha tại Tây Ban Nha là Álvaro da Costa đã báo cáo cho quốc vương của mình rằng ông đã "dốc hết sức lực" hòng ngăn cản Magalhães phục vụ cho vương triều Tây Ban Nha. Da Costa thậm chí còn trách khéo Vua Carlos I rằng việc dung túng bề tôi của một vị vua khác là điều chẳng mấy hay ho, nhưng Carlos I đã thẳng thừng đáp trả rằng Bồ Đào Nha cũng đang trọng dụng nhiều người Tây Ban Nha theo cách y hệt. Đến tháng 2 năm 1519, Carlos I gửi quốc thư cho Vua Manuel I của Bồ Đào Nha, cam kết rằng cuộc viễn chinh của Magalhães sẽ tuyệt đối tôn trọng các ranh giới lãnh thổ đã phân định của Bồ Đào Nha.

Tháng 7 năm 1519, ngay giữa lúc Magalhães đang bận rộn giám sát việc tập kết quân nhu, nhà ngoại giao Bồ Đào Nha Sebastião Álvares đã tiếp cận hòng làm ông nản lòng. Álvares cảnh báo rằng nếu tiếp tục phục vụ Carlos I, Magalhães sẽ đánh mất danh dự. Viên ngoại giao này còn đánh đòn tâm lý vào những nỗi lo âu của Magalhães bằng cách tung tin tình báo: ông ta khẳng định Rui Faleiro sẽ lén đi theo một tuyến đường khác (qua Mũi Hảo Vọng), rằng các sĩ quan dưới quyền trong hạm đội đều mang theo những mật lệnh riêng, và Giám mục xứ Burgos là kẻ tuyệt đối không thể tin tưởng.

Trước đó, vào ngày 19 tháng 4 năm 1519, Vua Carlos I đã truyền lệnh cho Magalhães và Rui Faleiro, yêu cầu họ phải tiến thẳng đến quần đảo Maluku — vựa gia vị của thế giới.

Về mặt tài chính, vương thất Tây Ban Nha gánh vác 75% chi phí của cuộc viễn chinh (tương đương 6.454.209 maravedí). Phần 25% còn lại do một nhóm thương nhân xứ Burgos, nổi bật nhất là Cristóbal de Haro, rót vốn đầu tư (góp 1.880.126 maravedí). Tổng chi phí cho hạm đội vĩ đại này lên tới 8.334.335 maravedí.

Đại sứ Álvaro da Costa từng báo cáo với quốc vương Bồ Đào Nha rằng Rui Faleiro dạo này ngủ rất ít và "trông như kẻ đã mất trí". Sebastião Álvares khi tiếp xúc với Faleiro cũng thấy ông "giống như một kẻ quẫn trí". Sử gia Gonzalo Fernández de Oviedo cũng chung nhận định rằng Faleiro đã "mất trí và vô cùng hoảng loạn". Chính những bất ổn nghiêm trọng về mặt tâm lý này đã dẫn đến việc Faleiro bị gạch tên khỏi chuyến hải hành vào ngày 26 tháng 7 năm 1519. Juan de Cartagena, người vốn đang giữ chức tổng thanh tra, được bổ nhiệm làm "đồng tư lệnh" (conjunta persona) để lấp vào khoảng trống mà Faleiro để lại.

Kể từ năm 1516, Rui Faleiro đã dày công nghiên cứu và ghi chép các phép đo kinh độ (cả hướng Đông và Tây) dựa trên một bộ quy tắc toán học. Toàn bộ những tài liệu quý giá này sau đó đã được Magalhães mang theo lên tàu. Cuối cùng, những trọng trách về thiên văn và bản đồ học lẽ ra thuộc về Faleiro trên chuyến đi đã được tiếp quản bởi hoa tiêu kiêm nhà vũ trụ học Andrés de San Martín.

Về mặt nhân sự, đoàn thám hiểm bao gồm 31 người Bồ Đào Nha, ít nhất 137 người Tây Ban Nha, cùng khoảng 70 đến 80 thủy thủ mang quốc tịch khác. Ngày 9 tháng 8, Magalhães đã nghe báo cáo từ nhóm phụ trách tuyển dụng (gồm Juan Sebastián Elcano, Gonzalo Gómez de Espinosa và Juan Rodríguez Mafra) về những khó khăn trong khâu chiêu mộ thủy thủ đoàn. Họ giải thích rằng do không gom đủ người, họ buộc phải mở rộng phạm vi tuyển mộ sang các bến cảng khác như Málaga, Cádiz và Huelva. Điều này lý giải vì sao hạm đội lại có sự góp mặt của nhiều thủy thủ ngoại quốc đến vậy.

Trong nhóm thủy thủ Bồ Đào Nha, có những nhân vật đáng chú ý như Álvaro de Mesquita (anh em họ của Magalhães), Duarte Barbosa (anh họ của vợ Magalhães), João Serrão (anh em họ hoặc anh ruột của Francisco Serrão) và Estêvão Gomes. Đi cùng Magalhães còn có Enrique, một người nô lệ gốc Malacca. Theo một số nguồn sử liệu, Enrique rất có thể là người đầu tiên thực sự hoàn thành chuyến hành trình vòng quanh Trái Đất.

Để phục vụ cho chuyến hải hành, hạm đội đã sử dụng các bản đồ do Nuño García de Toreno, hai cha con Pedro và Jorge Reinel, cùng Francisco Rodrigues thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn hải đồ đều là công trình của Diogo Ribeiro — người làm việc cho Sở Giao dịch Tây Ấn từ năm 1518. Dịp này, Magalhães cũng gửi tặng Vua Carlos I một tấm bản đồ thế giới trị giá 4.500 maravedí, được bảo quản trong bìa da thuộc trị giá 340 maravedí, cùng một chiếc la bàn mạ vàng trị giá 476 maravedí.

Cũng trong năm 1519, Martín Fernández de Enciso đã xuất bản cuốn Suma de geographia (Đại cương Địa lý) tại Sevilla, trong đó lập luận rằng đường đối cực của Hiệp ước Tordesillas thực chất nằm ở vịnh Bengal.

Khởi đầu chuyến hải hành

Sau một buổi thánh lễ và nghi thức tại Tu viện Victoria thuộc khu Triana, thành phố Sevilla, vào ngày 10 tháng 8 năm 1519, hạm đội gồm năm chiếc tàu đã nhổ neo từ bến Mulas. Từ đây, họ xuôi dòng sông Guadalquivir để tiến đến cửa biển Sanlúcar de Barrameda (Cádiz). Sau đó, thương nhân Cristóbal de Haro đã đứng ra thanh toán một số hóa đơn liên quan đến việc cung cấp nhu yếu phẩm và tu sửa tàu. Trong khoảng thời gian chờ đợi này, Magalhães đã quay lại Sevilla để thăm gia đình.

Ngày 24 tháng 8 năm 1519, ông lập di chúc tại Sevilla. Bản di chúc ghi rõ tâm nguyện được an táng tại Tu viện Victoria ở Triana nếu ông qua đời tại thành phố này, hoặc an táng tại bất kỳ nhà thờ nào gần nhất thờ Đức mẹ Mary nếu ông mất tại một địa điểm khác trong chuyến đi. Ông chỉ định người thừa kế là con trai Rodrigo và đứa con sắp chào đời của người vợ đang mang thai. Ông cũng trích một phần mười tài sản của mình để quyên góp cho các cơ sở tôn giáo cũng như các hoạt động từ thiện. Số tiền này được chia cho Tu viện Victoria ở Triana, Tu viện Montserrat (nơi ông có thể đã từng ghé thăm khi ở Barcelona), tu viện dòng Phanxicô ở Aranda de Duero (nơi ông có thể đã dừng chân trên đường tới Valladolid), tu viện Santo Domingo de las Dueñas ở Porto, dự án xây dựng Nhà thờ lớn Sevilla, cùng quỹ chuộc các tín đồ Kitô giáo bị người Hồi giáo bắt giữ, quỹ mua quần áo cho người nghèo và quỹ hỗ trợ các bệnh viện.

Ngày 20 tháng 9, hạm đội vượt qua dải bãi cát ngầm ở Sanlúcar de Barrameda và chính thức giong buồm tiến ra Đại Tây Dương. Đến ngày 26 tháng 9, họ cập bến Santa Cruz de Tenerife thuộc quần đảo Canaria. Tại hòn đảo này, đoàn thu nhận thêm bốn người mới, đồng thời có một người rời đi không rõ lý do. Hạm đội đã neo đậu tại đây trong khoảng từ ba đến sáu ngày.

Theo ghi chép của Juan López de Recalde, kế toán trưởng của Sở Giao dịch Tây Ấn, Magalhães đã giấu kín lộ trình tiến đến quần đảo gia vị với toàn bộ thủy thủ đoàn. Chính tại quần đảo Canaria, Juan de Cartagena cùng một số sĩ quan khác đã trực tiếp chất vấn Magalhães, yêu cầu ông phải tiết lộ lộ trình cụ thể. Trước sức ép này, cuối cùng Magalhães đã buộc phải cung cấp thông tin cho họ.

Vượt Đại Tây Dương

Hạm đội giong buồm về phía nam, dọc theo bờ biển châu Phi, cho đến khi đạt tới vĩ độ gần với Sierra Leone. Từ tọa độ này, họ bắt đầu chuyển hướng sang phía tây để tiến về phía Brasil. Khi vẫn còn đang di chuyển sát vùng duyên hải châu Phi, hạm đội đã vấp phải tình trạng biển lặng gió hoàn toàn, khiến các con tàu gần như bất động suốt khoảng mười lăm ngày.

Theo ghi chép của Juan López de Recalde, khi các con tàu bắt đầu rời xa bờ biển châu Phi, Juan de Cartagena đã nhận ra rằng họ đang đi chệch khỏi lộ trình tiến về quần đảo gia vị mà Magalhães từng thông báo cho ông trước đó.

Cũng trong quãng thời gian lênh đênh gần bờ biển châu Phi, một sự cố nghiêm trọng đã xảy ra trên tàu Victoria khi viên thủy thủ trưởng (maestre) Antón Salomón bị bắt quả tang đang cưỡng hiếp một cậu bé thủy thủ học việc (grumete) tên là Antonio Ginovés. Để định đoạt hình phạt, một hội đồng các thuyền trưởng đã được triệu tập khẩn cấp trên soái hạm Trinidad. Phán quyết cuối cùng dành cho Salomón là án tử hình, song việc thi hành án được hoãn lại cho đến khi hạm đội cập bờ.

Chính tại hội đồng thuyền trưởng này, Magalhães và Cartagena đã nảy sinh một cuộc tranh cãi gay gắt xoay quanh lộ trình mà hạm đội đang đi. Kết cục của cuộc đụng độ là Magalhães đã hạ lệnh bắt giữ Cartagena, cùm chân ông ta lại và giao cho viên thủ quỹ Luis de Mendoza quản thúc. Động thái này vấp phải sự bất bình của rất nhiều người trong đoàn, bởi họ coi việc tống giam một vị thanh tra vương thất là hành động chống lại ý chỉ của Vua Carlos I.

Trong suốt chặng đường vượt Đại Tây Dương, hạm đội không chỉ phải chống chọi với những cơn bão dữ dội mà còn bắt gặp một hiện tượng khí tượng kỳ bí được gọi là ngọn lửa thánh Elmo (fuego de San Telmo).

Tìm kiếm lối đi qua Nam Mỹ

Tháng 11 năm 1519, hạm đội phát hiện một mũi đất ở phía xa, nhiều khả năng là mũi Santo Agostinho (thuộc Brasil ngày nay). Cũng từ thời điểm này — ngày 29 tháng 11 — thủy thủ Francisco Albo bắt đầu mở sổ nhật ký hải trình ghi chép lại toàn bộ chuyến đi.

Đến ngày 19 tháng 12, đoàn thám hiểm thả neo tại một vịnh biển và đặt tên là Santa Lucía. Đa số các tài liệu lịch sử nhận định đây chính là vịnh Guanabara, dù một số nguồn cho rằng đó là vịnh Sepetiba lân cận (đều thuộc tiểu bang Rio de Janeiro hiện nay). Tại đây, hạm đội kết nạp thêm một thành viên mới: người con lai của hoa tiêu João Lopes Carvalho — kết quả từ chuyến đi trước đó của ông tới vùng đất này. Đoàn dừng chân hai tuần để tiếp tế lương thực và duy trì mối quan hệ giao hảo với cư dân bản địa.

Trong thời gian trú quân, các thủy thủ đã tiếp xúc với người Tupi sinh sống dọc bờ biển. Hai bên tiến hành giao thương chủ yếu theo phương thức hàng đổi hàng: người châu Âu dùng các vật phẩm mang theo để đổi lấy thực phẩm tươi sống. Nhà biên niên sử người Venezia của đoàn, Antonio Pigafetta, đã ghi chép lại chi tiết những cuộc trao đổi này.

Bức tranh gạch men ở lối vào Bảo tàng Hải quân Rio de Janeiro, khắc họa những chuyến hải hành lớn cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, trong đó có chuyến đi vòng quanh Trái Đất đầu tiên

Đến ngày 27 tháng 12, hạm đội nhổ neo tiếp tục khơi xa và tiến vào khảo sát vịnh Paranaguá vào cuối năm.

Khám phá cửa sông La Plata và tiến xuống phía Nam

Bước sang năm mới 1520, vào ngày 8 tháng 1, hạm đội tiếp cận khu vực Punta del Este (thuộc Uruguay ngày nay) và đặt tên cho nơi này là mũi Santa María. Men theo bờ biển tiến lên, ngày 10 tháng 1, họ trông thấy một ngọn núi mà theo mô tả của Pigafetta là có hình dáng "như một chiếc mũ". Họ đặt tên cho ngọn núi là "Monte Vidi" — đây được xem là tài liệu ghi chép sớm nhất về tên gọi của thành phố Montevideo ngày nay.

Hạm đội tiếp tục tiến vào cửa sông La Plata, ngang qua vùng đất mà 16 năm sau thành phố Buenos Aires chính thức ra đời. Nhầm tưởng đây là hải đạo thông ra Nam Hải (Thái Bình Dương), Magalhães quyết định cho tàu tiến sâu vào bên trong. Tuy nhiên, một trận bão dữ dội bất ngờ ập đến, buộc cả đoàn phải nằm chờ trú ẩn suốt nhiều ngày.

Sau khi giông bão qua đi, ông phái con tàu Santiago — vốn có mớn nước nông — đi ngược dòng sông Uruguay để tìm lối ra. Con tàu kiên trì tiến lên cho đến khi dòng nước chuyển hoàn toàn sang nước ngọt — dấu hiệu khẳng định đây chỉ là một con sông nội địa — rồi đành quay trở lại. Ngày 6 tháng 2, hạm đội chính thức rút khỏi sông La Plata mà không thu được kết quả như kỳ vọng.

Trước đó, vào năm 1516, nhà thám hiểm Juan Díaz de Solís từng đặt chân tới sông La Plata, nhưng chưa một người châu Âu nào vượt qua điểm Punta Piedras để tiến xa hơn về phía nam. Các con tàu của Magalhães tiếp tục xuôi nam và vượt qua mũi Corrientes vào khoảng ngày 12 hoặc 13 tháng 2.

Đoàn rẽ về hướng tây nam tiến vào một vũng biển lớn, cập bến Bahía Blanca vào ngày 22 tháng 2. Tuy nhiên, họ lại một lần nữa thất vọng khi nhận ra bốn bề đều là đất liền bao bọc.

Dừng chân trú đông tại cảng San Julián

Kiên trì men theo bờ biển về hướng nam, họ phát hiện thêm một vịnh biển vào ngày 24 tháng 2 và đặt tên là San Matías để kỷ niệm ngày lễ của vị thánh này. Ngay sau đó, hạm đội tiến vào vịnh Nuevo và dành 5 ngày khảo sát tỉ mỉ, rồi tiếp tục dò xét vịnh San Jorge dù hy vọng tìm thấy lối đi ra đại dương đã suy giảm đáng kể.

Trên hành trình tiến sâu xuống vùng biển thuộc Argentina ngày nay, các thủy thủ đã săn bắt sư tử biển làm nguồn thực phẩm và lần đầu tiên trong đời được tận mắt chứng kiến những đàn chim cánh cụt.

Trước khi cập bến, hạm đội lại vấp phải một trận bão tàn khốc khác. Giữa tâm bão, hiện tượng "ngọn lửa Thánh Elmo" xuất hiện trên các đỉnh cột buồm như một điềm lành, giúp trấn an tinh thần đoàn thủy thủ. Ngày 31 tháng 3 năm 1520, hạm đội tiến vào một cảng biển tự nhiên và đặt tên là San Julián. Tại đây, Magalhães quyết định cho toàn đội hạ trại, chính thức dừng chân trú đông để tránh thời tiết khắc nghiệt sắp tới.

Cuộc nổi loạn tại cảng San Julián

Do đoàn thám hiểm dường như không còn đi theo lộ trình hướng tới quần đảo gia vị và cứ mãi kẹt lại vô ích ở những vùng đất giá lạnh, sự bất mãn trong nội bộ bắt đầu lan rộng.

Ngày 1 tháng 4 năm 1520, đúng vào Lễ Lá, linh mục Pedro de Valderrama (người gốc Écija) đã cử hành một buổi thánh lễ tại cảng San Julián. Đây cũng chính là buổi thánh lễ đầu tiên được ghi nhận trên lãnh thổ Argentina ngày nay. Sau đó, một bữa tiệc đã được tổ chức. Trong số các sĩ quan chỉ huy cấp cao, chỉ có Magalhães, Álvaro de Mesquita, Luis de Mendoza và Antonio de Coca đến dự lễ. Tuy nhiên, Mendoza và Coca đã từ chối nán lại tham gia bữa tiệc. Thuyền trưởng tàu Concepción, Gaspar de Quesada, cũng nằm trong số những người vắng mặt tại buổi thánh lễ.

Sau đó, khi các thủy thủ trở về tàu, Quesada đã tự ý giải thoát cho Juan de Cartagena. Quesada và Cartagena dẫn theo 30 tay súng đột kích tàu San Antonio — con tàu có đông thủy thủ Bồ Đào Nha nhất — và bắt giữ vị thuyền trưởng tạm quyền Álvaro de Mesquita (vốn là người thân của Magalhães) cùng với hoa tiêu Juan Rodríguez Mafra. Vị tuyên úy của tàu Trinidad là Pedro de Valderrama đã cố gắng ngăn cản Quesada bằng cách trích dẫn Thánh Vịnh 1:6, nhưng bị ông ta hoàn toàn phớt lờ. Thủy thủ trưởng tàu San Antonio là Juan de Elorriaga đã ra lệnh cho thủy thủ đoàn cầm vũ khí để giải cứu vị thuyền trưởng bị bắt. Ngay lập tức, Quesada lao đến đâm Elorriaga bốn đến sáu nhát dao cho đến khi lầm tưởng rằng ông đã chết. Elorriaga tỉnh lại sau đó hai giờ, và những kẻ nổi loạn tuyên bố rằng họ đã đưa ông sang tàu Concepción để chữa trị vết thương.

Với sự tiếp tay của Antonio de Coca, Gaspar de Quesada đã tước khí giới của toàn bộ thủy thủ trên tàu. Juan Sebastián Elcano lên tàu San Antonio tiếp quản vị trí thủy thủ trưởng và chỉ đạo việc trang bị thêm các khẩu pháo nòng ngắn (lombarda) cho con tàu. Lúc này, Cartagena nắm quyền chỉ huy tàu Concepción, Quesada kiểm soát tàu San Antonio, còn Mendoza kiểm soát tàu Victoria. Như vậy, ba trên tổng số năm con tàu của đoàn thám hiểm đã hoàn toàn rơi vào tay phe nổi loạn.

Về sau, vào năm 1522, Elcano đã biện minh cho cuộc binh biến chống lại Magalhães bằng những lời lẽ sau:

[...] Các thuyền trưởng khác, cùng với Cartagena nói trên, đã yêu cầu Magallanes phải hội ý với các sĩ quan của mình, phải vạch rõ hải trình nơi ông muốn đến chứ không thể cứ đi lang thang lạc lối như vậy. Họ yêu cầu không được thả neo tại cảng để trú đông rồi tiêu thụ cạn kiệt nhu yếu phẩm, mà phải tiếp tục tiến bước cho đến giới hạn chịu đựng giá rét cuối cùng, nhằm xem liệu có lối đi nào mở ra phía trước hay không. Thêm vào đó, bởi vì Fernando de Magallanes đã tống giam Joan de Cartagena, nên tất cả các thuyền trưởng và những người khác đều lo sợ rằng ông ta cũng sẽ tước đoạt tự do của họ, đặc biệt là khi trong hạm đội lại có quá đông người Bồ Đào Nha và người từ các quốc gia khác. Vì lẽ đó, Juan de Cartagena và Gaspar de Quesada đã yêu cầu nhân chứng này [tức Elcano], với tư cách là thủy thủ trưởng, phải phục tùng các mệnh lệnh của Quốc vương, đồng thời ủng hộ và trợ giúp họ thực thi các mệnh lệnh đó, đúng như những gì bản chỉ thị hoàng gia đã ban ra.

Những kẻ nổi loạn khai nhận rằng mục đích của họ khi bắt giữ Mesquita là nhằm thuyết phục ông đứng về phe họ để tuân theo các vương lệnh của nhà vua. Chỉ khi Mesquita kiên quyết cự tuyệt, họ mới dùng đến biện pháp cùm xích.

Sang ngày 2 tháng 4, phe nổi loạn bắt đầu phân phát bánh mì vô tội vạ nhằm lôi kéo thủy thủ đoàn về phe mình. Cũng có những lời khai cho rằng những người trung thành với Magalhães đã bị đánh đập đến chết và bị bỏ đói.

Cũng trong ngày 2 tháng 4, khi nhận thấy bản thân đang nắm giữ thế thượng phong, phe nổi loạn đã gửi yêu sách tới Magalhães. Các điều kiện này bao gồm: ông phải tôn trọng các mệnh lệnh của Vua Carlos I (theo cách diễn giải của chính họ), phải hủy bỏ âm mưu mà ông đang toan tính (không nói rõ âm mưu này là gì), và ông phải chịu sự kiểm soát của họ trong suốt phần còn lại của chuyến đi. Magalhães yêu cầu họ sang trực tiếp soái hạm Trinidad để đàm phán, nhưng phe nổi loạn đã kiên quyết khước từ vì e ngại sẽ bị giăng bẫy.

Magalhães quyết định hành động bằng cách phái một nhóm gồm năm hoặc sáu người dưới sự chỉ huy của viên cảnh sát trưởng (alguacil mayor) Gonzalo Gómez de Espinosa sang tàu Victoria. Luis de Mendoza đã cho phép nhóm người này lên tàu để chuyển thư của Magalhães. Tuy nhiên, ngay trong lúc đang đọc thư, Mendoza đã bị Gómez de Espinosa rút dao đâm chết. Theo lời kể của Elcano, Magalhães sau đó đã ban thưởng 12 ducat cho hành động này của Gómez de Espinosa. Sau đó, Magalhães phái thêm một chiếc xuồng chở ít nhất mười lăm người do Duarte Barbosa chỉ huy sang tàu Victoria, và thế là con tàu này đã hoàn toàn trở về dưới quyền kiểm soát của ông.

Ngày 3 tháng 4, Cartagena và Quesada định bỏ trốn cùng các con tàu của mình, nhưng lối ra chật hẹp của vịnh lúc này đã bị soái hạm Trinidad chặn mất. Đứng trước tình thế đó, họ lên kế hoạch lái con tàu San Antonio áp sát tàu Trinidad, định bụng ép Mesquita phải hét lên cầu xin Magalhães đừng nã pháo vào họ. Tuy nhiên, kế hoạch này đã không thành. Ngay trong đêm hôm đó, khi các thủ lĩnh đang say giấc, thủy thủ đoàn của tàu San Antonio đã tự nhổ neo và quyết định tiến lại gần tàu của Magalhães, nhiều khả năng là để từ bỏ cuộc binh biến. Mặc dù vậy, con tàu vẫn bị nghênh tiếp bằng hỏa lực pháo binh. Sau đó, một nhóm người từ soái hạm đã nhảy sang tàu San Antonio và gạn hỏi thủy thủ đoàn xem họ theo phe nào; họ đáp lại rằng mình đứng về phe Quốc vương và phe của ông (Magalhães). Quesada, Coca cùng các thủ lĩnh nổi loạn khác trên tàu San Antonio lập tức bị xích lại. Tiếp đó, Magalhães phái người lên tàu Concepción. Nhận thấy bản thân không còn nhận được sự hậu thuẫn từ thủy thủ đoàn, Cartagena đành chấp nhận đầu hàng và cũng bị bắt giữ ngay sau đó.

Ngày 4 tháng 4, Magalhães ra lệnh đưa thi thể của Mendoza lên bờ, phanh thây và bêu lên giá treo cổ. Magalhães cũng tuyên án treo cổ đối với Quesada, nhưng đến ngày 7 tháng 4, để Quesada khỏi phải chịu án treo cổ, một người hầu của Quesada đã chém đầu vị thuyền trưởng này. Thi thể của Quesada sau đó cũng bị phanh thây và treo cạnh phần xác của Mendoza.

Tiếp đó, Magalhães ra lệnh bắt giữ giáo sĩ Pedro Sánchez Reina. Nguyên nhân có thể do vị giáo sĩ này đã nói rằng Magalhães sẽ bị thiêu đốt dưới địa ngục, hoặc theo lời khai của một số kẻ nổi loạn, là do ông đã giữ bí mật tòa giải tội. Magalhães cũng ân xá cho 40 kẻ tham gia nổi loạn. Theo Mafra, quyết định khoan hồng này xuất phát từ lời cầu xin của các thủy thủ khác. Về phần Juan de Elorriaga, ông đã qua đời vào ngày 15 tháng 7 do những vết thương mà Gaspar de Quesada gây ra trước đó.

Vào đầu tháng 5, Magalhães phái con tàu Santiago do João Serrão (tức Juan Rodríguez Serrano) chỉ huy đi thám hiểm sâu hơn về phía nam, trong khi ông cùng phần còn lại của hạm đội tiếp tục neo đậu tại cảng San Julián chờ đợi. Ngày 22 tháng 5, tàu Santiago dưới quyền Serrão đã bị chìm trong lúc đang khảo sát một con sông, tại nơi mà họ đặt tên là cảng Santa Cruz. Toàn bộ thủy thủ đoàn đều sống sót, ngoại trừ một nô lệ da đen tên là Juan. Khoảng 2-3 người đã vượt sông trên một chiếc thuyền đóng bằng ván gỗ, sau đó đi bộ ròng rã 120 km về lại cảng San Julián để báo tin cho Magalhães. Nhận được tin, một đội cứu hộ lập tức được tổ chức để đi đón những người bị nạn. Các thủy thủ sống sót sau đó được phân bổ lên những con tàu còn lại, và Serrão được bổ nhiệm làm thuyền trưởng mới của tàu Concepción.

Hạm đội đã trải qua hai tháng tại cảng San Julián mà không bắt gặp một bóng người nào, cho đến khi họ tình cờ gặp một người dân bản địa trên bãi biển. Theo ghi chép của Pigafetta, những người Tây Ban Nha chỉ đứng cao ngang thắt lưng của người này. Kể từ đó, họ có thêm nhiều cuộc tiếp xúc với những người đàn ông được cho là mang vóc dáng khổng lồ. Maximiliano Transilvano thuật lại rằng những thổ dân này cao khoảng 9 đến 10 palmo (khoảng 2,30 mét), trong khi Gaspar Correia khẳng định họ cao tới 15 palmo. Một nhà thám hiểm đặt chân đến vùng đất này vào năm 1525 còn kể lại rằng một số phụ nữ bản địa cao tới 2,70 mét. Về sau, Francis Drake viết rằng đàn ông ở vùng này to lớn hơn mức bình thường, nhưng chưa đến mức khổng lồ; ông ước tính chiều cao trung bình của họ vào khoảng 7,5 feet (2,30 mét) hoặc hơn. Vài ngày sau đó, Magalhães đã thết đãi thức ăn cho sáu người đàn ông bản địa khi họ đến thăm. Tiếp đó, có thêm bốn người nữa xuất hiện, và Magalhães đã ra lệnh bắt giữ hai người trong số họ để đưa về Vương quốc Castilla. Vùng đất này sau đó được đặt tên là Patagonia, lấy cảm hứng từ gã khổng lồ Patagón trong cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ Primaleón. Tuy nhiên, vào thế kỷ 18, nhà thám hiểm Louis Antoine de Bougainville, cùng với Charles Darwin và George Chaworth Musters vào thế kỷ 19 và nhiều học giả khác, đã xác định rằng: trong số những người bản địa ở vùng đất đó (người Tehuelche, tự xưng là Aónikenk), chiều cao trung bình của nam giới thực chất chỉ từ 1,75 đến 1,80 mét, và của nữ giới là 1,69 mét; trong đó những người phụ nữ cao nhất cũng chỉ đạt 1,80 mét.

Magalhães sau đó phái một nhóm người, đi cùng hoa tiêu João Lopes Carvalho, đi tìm kiếm cư dân trong vùng để xin thịt tươi, đồng thời nghiêm cấm họ làm hại người dân bản địa. Nhóm người này chạm trán bảy người Patagonia trong một túp lều. Khi họ cố gắng bắt một người trong số đó lên tàu, những thổ dân đã chống trả bằng cung tên, khiến Diego de Barrasa tử thương. Magalhães phái một toán quân đi trả thù cho cái chết này, nhưng họ không tìm thấy người bản địa nào ở đó.

Ngày 11 tháng 8, Magalhães tuyên án lưu đày Juan de Cartagena và Pedro Sánchez Reina, bỏ lại họ ở Patagonia.

Cuối cùng, một phân đội được phái đến một ngọn núi gần đó (ngày nay là núi Wood) để dựng thánh giá và chính thức tuyên bố chủ quyền lãnh thổ nhân danh Quốc vương Tây Ban Nha.

Ngày 24 tháng 8, hạm đội nhổ neo rời cảng San Julián. Ngày 25 tháng 8, họ dừng chân tại sông Santa Cruz, một nơi có rất nhiều cá.

Khám phá eo biển Magellan

Ngày 18 tháng 10 năm 1520, hạm đội tiếp tục nhổ neo ra khơi. Ba ngày sau, họ tiến đến một mũi đất và đặt tên là Once Mil Vírgenes (ngày nay là mũi Vírgenes). Ngay tại khu vực này, đoàn thám hiểm phát hiện ra một lối đi hẹp. Giữa lúc đó, một trận bão dữ dội bất ngờ ập đến, khiến hai con tàu Concepción và San Antonio có thời điểm hoàn toàn mất tín hiệu khỏi tầm mắt của hạm đội.

Magalhães cử một nhóm người do João Lopes Carvalho dẫn đầu lên bờ và leo lên đỉnh núi để quan sát xem đây có thực sự là một hải đạo hay không. Tuy nhiên, do nhận thấy thấp thoáng đất liền ở phía xa, họ đành trở về mà chưa thể đưa ra kết luận chắc chắn. Quyết định không bỏ lỡ cơ hội, Magalhães cho hạm đội tiến thẳng vào một vịnh nhỏ có nhiều đảo bao quanh.

Lần đầu tiên kể từ khi rời cảng, Magalhães triệu tập cuộc họp để tham vấn ý kiến các sĩ quan về việc tiếp tục hành trình hay trở về Tây Ban Nha. Hoa tiêu Estêvão Gomes tỏ ra lo ngại nguồn lương thực dự trữ sẽ không đủ nếu phía sau eo biển là một đại dương mênh mông chưa từng biết tới. Ngược lại, hoa tiêu Andrés de San Martín cho rằng vì hạm đội đã đặt chân đến vùng đất chưa ai từng đặt chân, họ cần đi tiếp để xác minh xem đây có phải là hải đạo mong đợi hay không. Dù vậy, ông cũng khuyến nghị hạm đội sớm rời khỏi khu vực vĩ độ cao này để tránh bão tố và giá lạnh, đồng thời nên tính đến phương án rút lui nếu việc tìm đường kéo dài quá lâu.

Lộ trình của đoàn thám hiểm qua eo biển

Magalhães quyết định tiến lên. Không lâu sau, eo biển bắt đầu tách ra làm hai nhánh. Ông phân công hai tàu San Antonio và Concepción đi khám phá một nhánh, trong khi bản thân trực tiếp dẫn dắt hai tàu Trinidad và Victoria đi theo nhánh còn lại, hẹn sẽ hội quân sau ba ngày tại điểm rẽ.

Tàu San Antonio do Álvaro de Mesquita chỉ huy dẫn đầu nhánh đường của mình. Lợi dụng cơ hội này, hoa tiêu Estêvão Gomes cùng thủ quỹ Jerónimo Guerra đã phát động cuộc đảo chính, khống chế Mesquita rồi tranh thủ lúc đêm tối quay đầu tàu trở về Sevilla. Ngày 6 tháng 5 năm 1521, con tàu này chính thức cập bến Tây Ban Nha.

Ở phía bên kia, thủy thủ đoàn trên ba con tàu Concepción, Trinidad và Victoria đã dành nhiều ngày kiên trì tìm kiếm San Antonio nhưng không thấy manh mối. Để lại dấu vết cho đồng đội, họ dựng nhiều thánh giá dọc bờ biển và đặt những chiếc nồi chứa thư trao đổi làm tín hiệu.

Sau khi chấp nhận sự biến mất của tàu San Antonio, hạm đội tiếp tục tiến sâu hơn vào lòng eo biển. Quan sát thấy nhiều đốm lửa bốc lên từ những khu trại của người bản địa ở bờ đối diện, họ đặt tên cho vùng đất này là Tierra del Fuego ("Vùng đất Lửa"). Tại đây, họ phát hiện một dòng sông và đặt tên là Sardinas do đánh bắt được rất nhiều cá mòi.

Ngày 11 tháng 11, linh mục Pedro de Valderrama đã cử hành thánh lễ tại cảng Sardinas (ngày nay là vịnh Fortescue) — đây được ghi nhận là buổi thánh lễ đầu tiên trong lịch sử Chile. Đến năm 2020, một cây thánh giá cao 10 mét đã được khánh thành ngay tại địa điểm lịch sử này để kỷ niệm.

Hạm đội tiếp tục hành trình, liên tục thả các xuồng nhỏ đi tiền trạm để dò đường. Ngày 27 tháng 11 năm 1520, họ chính thức vượt qua điểm cuối của eo biển, nằm giữa hai mũi đất được đặt tên là Hermoso và Deseado. Một vùng biển bao la, êm đềm hiện ra trước mắt — đại dương mới này được họ đặt tên là Thái Bình Dương.

Để tri ân các nhà hàng hải, vào năm 2020, chính phủ Chile đã lấy tên một số thành viên trong đoàn thám hiểm đặt cho các địa danh dọc eo biển. Trong đó, ba hòn đảo thuộc quần đảo Charles lần lượt mang tên Pigafetta, Albo và San Martín, còn mũi đất ở phía tây nam vịnh Fortescue được mang tên linh mục Fray Valderrama.

Vượt Thái Bình Dương (11/1520 – 03/1521)

Từ cuối năm 1520 đến đầu năm 1521, hiện tượng El Niño xuất hiện đúng lúc đã mang lại điều kiện thời tiết thuận lợi hiếm thấy, giúp hạm đội vượt qua chặng cuối hiểm trở nhất của eo biển và tiến thẳng vào vùng biển phía Nam Thái Bình Dương. Theo nghiên cứu của hai học giả Scott M. Fitzpatrick và Richard T. Callaghan, đoàn thám hiểm đã gặp may mắn lớn nhờ điều kiện tự nhiên bất thường này. Nếu không có thời tiết thuận lợi ấy, Magalhães đã không thể đặt tên cho đại dương này là "Thái Bình Dương" (Biển Bình Yên). Hạm đội khi đó có lẽ buộc phải đổi hướng và chuyến viễn chinh nhiều khả năng đã kết thúc trong thất bại.

Thoát khỏi eo biển, hạm đội di chuyển ngược lên phía bắc tới vĩ tuyến 38 độ nam, men theo bờ biển Chile nhưng không lên bờ. Ngày 29 tháng 11 năm 1520, các con tàu đi ngang qua đảo Hanover. Sau đó, họ lần lượt đi qua đảo Campana (01/12), vịnh Penas (02/12) và đảo Chiloé (08/12). Đến ngày 13 tháng 12, hạm đội đã tiến ngang qua khu vực sông Calle-Calle, rồi tiếp tục lướt qua vùng biển ngoài khơi Concepción (15/12), Valparaíso (19/12) và tiếp cận La Serena vào ngày 22 tháng 12.

Từ đây, hạm đội bẻ lái chuyển hướng về phía tây, tiến thẳng vào lòng đại dương bao la. Tuy nhiên, chỉ sau một tháng lênh đênh trên biển, dịch bệnh bắt đầu bùng phát và cướp đi mạng sống của hàng loạt thủy thủ.

Nhà biên niên sử Antonio Pigafetta đã ghi lại những thiếu thốn và gian khổ cùng cực về lương thực trong hải trình này:

"Thứ bánh quy chúng tôi ăn chẳng còn ra dáng bánh nữa, mà chỉ là mớ bột lẫn đầy giòi bọ đang nhung nhúc gặm sạch phần ruột, bốc mùi hôi hám xốc lên tận mũi vì thấm đẫm nước tiểu chuột. Nước uống dự trữ cũng đã thối rữa và ôi thối chẳng kém. Để chống lại cơn đói, chúng tôi buộc phải bóc cả những tấm da bò bọc quanh trục buồm lớn — vốn dùng để giữ cho gỗ khỏi làm đứt dây chão — để làm thức ăn. Những miếng da dãi nắng dãi mưa lâu ngày trở nên cứng như đá, phải ngâm xuống nước biển suốt bốn, năm ngày mới mềm ra đôi chút, rồi đem nướng ngay trên than hồng mới nuốt nổi. Nhiều lúc, chúng tôi phải ăn cả mùn cưa. Ngay cả lũ chuột — loài vật vốn bị ghê tởm nhất — cũng trở thành món hàng đắt giá đến mức mỗi con được trả tới nửa đồng ducado."

Theo ghi chép của Pigafetta và Ginés de Mafra, trong khoảng thời gian này, nhiều thủy thủ đã mắc bệnh scorbut (hoại huyết) — căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng do thiếu hụt vitamin C nghiêm trọng trong thời gian dài.

Pigafetta có đề cập đến nhiều loài cá ở vùng biển này và thực tế đoàn thám hiểm cũng mang theo rất nhiều lưỡi câu. Dù vậy, nhật ký hải trình không ghi nhận bất kỳ cuộc đánh bắt cá quy mô nào. Có thể họ vẫn buông câu, nhưng lượng cá thu hoạch được là quá ít ỏi so với nhu cầu của cả hạm đội. Tuy nhiên, Pigafetta có kể lại việc những con cá chuồn trong lúc nhảy vọt khỏi mặt nước đã vô tình rơi xuống mạn tàu, trở thành bữa ăn cứu vãn hiếm hoi cho các thủy thủ.

Những hòn đảo cô độc và biến cố tại Guam

Ngày 25 tháng 1 năm 1521, hạm đội tiếp cận một hòn đảo nhỏ có rạn san hô bao quanh và đặt tên là San Pablo (nhân ngày lễ Thánh Phaolô trở lại đạo). Đa số các nhà lịch sử cho rằng đây chính là đảo san hô vòng Puka Puka, dù một số ý kiến khác nghiêng về khả năng đây là đảo Fakahina hoặc Fangatau. Do địa hình rạn san hô hiểm trở, hạm đội không thể cập bờ.

Đến ngày 4 tháng 2, họ phát hiện thêm một hòn đảo khác và đặt tên là Tiburones ("Cá Mập") — nhiều khả năng là đảo Flint ngày nay, hoặc đảo Vostok/Caroline theo một số nguồn khác. Theo nhà biên niên sử Maximiliano Transilvano, đoàn đã lên bờ hạ trại và câu cá trong hai ngày. Tuy nhiên, nhật ký của Albo, Pigafetta và Mafra lại ghi nhận họ chỉ thả câu quanh hòn đảo trong vài giờ ngay trên các xuồng nhỏ.

Sau nhiều tháng kiệt quệ trên biển, ngày 6 tháng 3 năm 1521, hạm đội cuối cùng cũng cập bến đảo Guam. Khi họ vừa cập bờ, người dân bản địa đã liên tục chèo thuyền ra và lấy trộm đồ đạc trên các con tàu. Khi một nhóm đông người bản địa tràn lên tàu Trinidad, viên trưởng boong vì tức giận đã tát một người trong số họ, châm ngòi cho cuộc xô xát giữa hai bên.

Ba ngày sau, phát hiện chiếc xuồng nhỏ của tàu Trinidad bị người bản địa lấy mất, Magalhães đã phái một lực lượng gồm 40 binh sĩ lên bờ tiến hành trừng phạt. Toán quân này phóng hỏa đốt cháy 40 đến 50 ngôi nhà cùng nhiều thuyền độc mộc, sát hại 7 người bản địa để đoạt lại chiếc xuồng. Nhận thấy tình hình không còn an toàn, Magalhães quyết định lập tức nhổ neo rời đi, đồng thời đặt tên cho đảo này là Ladrones ("Quần đảo Kẻ Trộm").

Cái chết của Magalhães tại Philippines

Ngày 16 tháng 3, Magalhães cùng đoàn thủy thủ đặt chân đến đảo Suluan, thuộc một quần đảo mà họ gọi là San Lázaro. Về sau, nhà thám hiểm Ruy López de Villalobos đã đổi tên quần đảo này thành Filipinas (Philippines) nhằm tôn vinh Thái tử (sau này là Vua) Felipe II của Tây Ban Nha.

Ít ngày sau, đoàn thám hiểm tiếp tục cập bờ và lưu lại chín ngày tại Homonhon — một hòn đảo lớn hơn nằm lân cận. Tại đây, cư dân từ các hòn đảo xung quanh đã chèo thuyền sang thăm và mang theo nhiều loại thực phẩm tươi sống để tiếp tế cho đoàn.

Tiếp đó, hạm đội ghé đến đảo Mazaua — nhiều khả năng chính là đảo Limasawa ngày nay, dù một số truyền thuyết địa phương cho rằng đó là vùng Batúan. Đúng vào ngày Chúa nhật Phục Sinh (31 tháng 3 năm 1521), một buổi thánh lễ trang trọng đã được cử hành tại đây. Đây được ghi nhận là thánh lễ Công giáo đầu tiên trong lịch sử Philippines. Nhân dịp này, Magalhães cho dựng một cây thánh giá lớn và giải thích với vị thủ lĩnh bản địa rằng biểu tượng ấy sẽ bảo hộ cho vùng đất này, minh chứng cho một liên minh hữu nghị và hòa bình.

Ngày 7 tháng 4, hạm đội tiến vào vùng biển Cebu — một trung tâm giao thương đông đúc. Vua Cebu lúc bấy giờ là Humabon đã yêu cầu hạm đội nộp thuế neo đậu, nhưng Magalhães kiên quyết từ chối và cảnh báo sẽ dùng vũ lực nếu bị làm khó. Nhận thấy sức mạnh của đoàn thám hiểm, chỉ một ngày sau, Vua Humabon và Magalhães đã tiến hành một nghi lễ kết tình huynh đệ, lập lại hữu hảo.

Magalhães dành sự quan tâm đặc biệt cho công cuộc truyền giáo, giao phó trọng trách này cho linh mục Pedro de Valderrama. Theo lời kể của Antonio Pigafetta, có tới khoảng 800 người bản địa đã chịu phép rửa tội, trong đó bao gồm cả Vua Humabon và hoàng hậu — người sau đó chọn lấy tên thánh là Juana.

Vào ngày cử hành nghi lễ rửa tội cho nhà vua (15 tháng 4), một cây thánh giá bằng gỗ đã được dựng lên ngay tại quảng trường Cebu và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Trong dịp này, một linh mục đã dâng cúng cho hoàng hậu bức tượng Đức Mẹ Maria và một tượng Chúa Hài Đồng. Hoàng hậu vô cùng thành kính và xin giữ lại bức tượng Chúa Hài Đồng bên mình. Đến năm 1565, khi người Tây Ban Nha quay lại đây, họ kinh ngạc phát hiện người dân bản địa vẫn trân trọng lưu giữ cổ vật này. Cho đến nay, bức tượng Chúa Hài Đồng Cebu vẫn là một bảo vật thiêng liêng được người dân Philippines hết mực sùng kính.

Trận chiến Mactan và sự ra đi của Magalhães

Không lâu sau đó, Vua Cebu cho biết trên hòn đảo Mactan lân cận có một thủ lĩnh tên là Lapulapu đang cai quản vùng đất này. Lapulapu không chỉ vốn có hiềm khích với người Cebu mà còn tỏ thái độ bất hợp tác, kiên quyết khước từ sự hiện diện của đoàn thám hiểm châu Âu. Quyết định dùng vũ lực để khuất phục nhóm người bản địa cứng đầu, Magalhães đã từ chối mọi đề nghị viện binh từ vua Humabon, tự tin dẫn quân tiến đánh.

Rạng sáng ngày 27 tháng 4 năm 1521, Magalhães dẫn theo một lực lượng tinh nhuệ trên các thuyền nhỏ vượt biển tiến sang Mactan (sĩ số được ghi nhận là 40 người theo Ginés de Mafra và 60 người theo Antonio Pigafetta). Trước chiến thuật quen thuộc và sự kháng cự quyết liệt của quân đội Lapulapu trên địa hình hiểm trở, người Tây Ban Nha đã hứng chịu thất bại thảm hại trong trận Mactan.

Giữa vòng vây của kẻ địch, Magalhães anh dũng chiến đấu nhưng đã tử trận. Theo lời khai năm 1522 của Juan Sebastián Elcano trước thẩm phán triều đình Díaz de Leguizamo, ngoài vị thủ lĩnh Magalhães thiệt mạng trên chiến trường, trận chiến này còn khiến 7 người Tây Ban Nha khác tử vong và 27 người bị thương nặng.

Tới quần đảo Maluku và chặng về dưới sự chỉ huy của Juan Sebastián Elcano

Chân dung Juan Sebastián Elcano, tranh khuyết danh thế kỷ 19 tại Bảo tàng Hải quân Madrid

Khủng hoảng sau trận chiến Mactan và vụ thảm sát tại Cebu

Sau cái chết của Magalhães, Duarte Barbosa được bầu làm Tổng chỉ huy hạm đội kiêm Thuyền trưởng tàu Trinidad. Cùng lúc đó, Enrique xứ Malacca — người nô lệ lâu năm của Magalhães — bắt đầu tỏ thái độ chống đối và lười nhác. Barbosa xối xả mắng chửi Enrique, tuyên bố anh ta vẫn chưa hề được tự do mà sẽ trở thành tài sản thuộc quyền quản lý của vợ Magalhães, đồng thời đe dọa sẽ cho ăn roi nếu không chịu lên bờ làm việc.

Theo ghi chép của Pigafetta, vì căm thù, Enrique đã âm thầm gặp Vua Humabon của Cebu và hiến kế sát hại toàn bộ người châu Âu để chiếm đoạt tàu bè cùng tài sản. Sau cuộc gặp lén lút, người Mã Lai này trở lại hạm đội và bất ngờ tỏ ra chăm chỉ hơn bao giờ hết. Dù vậy, một góc nhìn khác từ nhật ký của Ginés de Mafra lại cho rằng kẻ xúi giục Vua Cebu chống lại người Tây Ban Nha thực chất là thủ lĩnh Lapulapu chứ không phải Enrique.

Ngày 1 tháng 5 năm 1521, Vua Humabon mở yến tiệc mời các sĩ quan và thủy thủ đoàn lên bờ tham dự. Giữa lúc buổi tiệc đang diễn ra, các chiến binh bản địa bất ngờ xông vào chém giết dã man. Sau vụ thảm sát, phía Tây Ban Nha xác định có 27 người mất tích, trong đó có cả Tổng chỉ huy Barbosa và Enrique. Dù vậy, họ vẫn hoài nghi rằng có thể một vài người trong số đó vẫn còn sống sót.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, các con tàu vội vã tháo chạy khỏi Cebu trong tình trạng cạn kiệt lương thực và chưa kịp tiếp tế.

Tái cơ cấu chỉ huy và hành trình tìm đường ở Đông Nam Á

Sau sự cố, João Lopes Carvalho được cất nhắc lên làm Tổng chỉ huy đoàn thám hiểm kiêm Thuyền trưởng tàu Trinidad, với Juan Bautista de Poncevera đảm nhiệm vai trò thủy thủ trưởng. Trong khi đó, Gonzalo Gómez de Espinosa — người ban đầu giữ chức Cảnh sát trưởng của chuyến đi — được giao làm Thuyền trưởng tàu Victoria, còn Juan Sebastián Elcano đảm nhận vị trí thủy thủ trưởng.

Lúc này, lực lượng thủy thủ đoàn chỉ còn vỏn vẹn 116 hoặc 117 người, hoàn toàn không đủ nhân lực để vận hành cùng lúc cả ba con tàu. Hạm đội đành di chuyển tới đảo Bohol và chủ động đốt bỏ tàu Concepción để gom góp nhân lực.

Họ tiếp tục xuôi về phía nam đến đảo Mindanao. Pigafetta kể lại rằng ông đã lên bờ lập mối quan hệ hòa hảo với vị vua địa phương, nhưng vẫn không thu nhận được lương thực. Vua Mindanao đã chỉ hướng cho hạm đội tiến về đảo Borneo. Trên hải trình này, đoàn dừng chân tại đảo Palawan. Nhờ thủy thủ Juan de Campos kết giao được với dân đảo, họ mới mua được một lượng gạo quý giá để duy trì sự sống.

Hạm đội lưu lại Palawan suốt một tháng. Do cư dân bản địa tại đây không hề biết đường đến "Quần đảo Gia vị" (Maluku), Carvalho quyết định thuê một vài người dẫn đường bản địa để cùng tiến về Borneo.

Biến cố tại Brunei và cuộc phế truất Carvalho

Ngày 8 tháng 7 năm 1521, hạm đội tiến vào vùng biển thành Brunei trên đảo Borneo, nơi do Rajah Hồi giáo Siripada cai quản. Nhà vua phát lệnh yêu cầu phái đoàn châu Âu vào yết kiến. Gonzalo Gómez de Espinosa và Juan Sebastián Elcano lên bờ tham dự buổi yết kiến, trong khi Carvalho ở lại trực trên tàu Trinidad.

Theo Ginés de Mafra, đi cùng Elcano và Espinosa còn có hai thủy thủ người Hy Lạp là Juan Gorfo và Mateo Griego. Riêng Pigafetta lại để lại những dòng tường thuật nghi lễ tiếp đón vô cùng tỉ mỉ, chứng tỏ nhiều khả năng ông cũng có mặt trong phái đoàn. Pigafetta ghi nhận họ được chiêu đãi nồng hậu trong hai ngày, song Mafra lại khẳng định phái đoàn thực chất đã bị giam giữ suốt 15 ngày. Một người khác cũng lên bờ là đứa con trai lai gốc Brasil của Carvalho, mang theo nhiều hàng hóa của vương thất Tây Ban Nha để giao thương.

Trong lúc Elcano và Espinosa còn đang ở trên bờ, hai chiếc thuyền mành bất ngờ áp sát hai con tàu Tây Ban Nha. Cùng lúc đó, thủy thủ phát hiện từ xa một hạm đội gồm hơn 200 cánh buồm đang rẽ sóng tiến lại. Nhận thấy nguy cơ bị bao vây, Carvalho chủ động nổ súng tấn công và nhanh chóng khống chế hai chiếc thuyền mành. Ông thả các thủy thủ bản địa về bờ, đe dọa sẽ hủy diệt mọi tàu thuyền áp sát cho đến khi các đồng đội của ông được trả tự do, rồi cho đốt cháy bốn chiếc thuyền mành khác.

Ngay sau đó, một chiếc thuyền mành khác tiến tới; viên thuyền trưởng xưng là người thuộc quyền Vua đảo Luzon. Dù chiếc thuyền này cũng bị bắt giữ, Carvalho lại vô tư thả đi sau khi nhận một khoản châu báu hối lộ. Cuối cùng, Elcano và Espinosa cũng an toàn trở lại tàu.

Tuy nhiên, hai thủy thủ người Hy Lạp đã ở lại Brunei (không rõ tự nguyện hay bị ép buộc). Về phần con trai của Carvalho, người bản địa loan tin anh ta đã chết. Do bị cách ly trong thời gian trên bờ, Espinosa và Elcano không thể kiểm chứng sự thực, và từ đó người con trai này hoàn toàn mất tích.

Sau khi trở lại tàu, Elcano và Espinosa mới vạch trần vụ việc: viên thuyền trưởng thuyền mành Luzon bị thả thực chất chính là Hoàng tử — con trai Vua đảo Luzon. Toàn bộ thủy thủ đoàn tỏ ra vô cùng phẫn nộ trước hành vi tham lam và kém cỏi của Carvalho, cho rằng lẽ ra ông phải giữ vị hoàng tử này làm con bài chiến lược để đổi lấy sự an toàn cho đồng đội thay vì thâu tóm lấy chút châu báu cá nhân. Chưa dừng lại ở đó, Carvalho còn chiếm đoạt riêng ba người phụ nữ bản địa mang lên tàu.

Ngày 29 tháng 7 năm 1521, hai con tàu nhổ neo rời Brunei theo chỉ dẫn của Rajah Brunei rằng đảo Mindanao sẽ có người biết đường tới Maluku.

Đổi chủ tướng và cập bến Quần đảo Gia vị

Khi tới gần mũi cực bắc đảo Borneo, một con tàu không may mắc cạn và bị hư hại nặng. Ngày 15 tháng 8 năm 1521, hạm đội phải hạ trại sửa chữa trên hòn đảo Cimbombón (nằm giữa Borneo và Palawan) và đặt tên nơi này là Nuestra Señora de Agosto.

Ngày 17 tháng 9, ngay tại hòn đảo này, bất bình trước sự tha hóa và năng lực yếu kém của Carvalho, tập thể thủy thủ đoàn đã họp bàn và bỏ phiếu cách chức Tổng chỉ huy của Carvalho. Gonzalo Gómez de Espinosa được bầu lên làm Tổng chỉ huy mới kiêm Thuyền trưởng tàu Trinidad. Do Espinosa bỏ trống vị trí cũ, Juan Sebastián Elcano chính thức được bổ nhiệm làm Thuyền trưởng tàu Victoria.

Hạm đội vượt qua biển Sulu, ghé qua một vài làng mạc trên đảo Mindanao và mua được 17 libra quế trong hai ngày dừng chân.

Tại vùng biển gần Mindanao, một chiếc thuyền parao bản địa tiến lại gần khiến giao tranh bùng nổ. Trận thủy chiến khiến 7 trong số 18 người bản địa Magindanau thiệt mạng. Phía Tây Ban Nha cũng gánh chịu tổn thất khi người thợ chế tác vũ khí Pedro Sánchez và pháo thủ người Pháp Juan Bautista qua đời vì vết thương quá nặng.

Sau trận chiến, một tù binh khai nhận ông chính là em trai của Vua Magindanau và nắm rõ hải trình tới Maluku. Ngay lập tức, phía Tây Ban Nha bắt giữ ông cùng con trai và một số người khác để làm người dẫn đường.

Theo chỉ dẫn của người này, hạm đội tiến tới Sarangani và bắt thêm hai người dẫn đường khác. Đoàn tàu xuôi xuống phía nam vượt qua biển Celebes. Khi ngang qua đảo Sangir, vị em trai Vua Magindanau cùng con trai và một người dẫn đường Sarangani đã liều mình nhảy xuống biển bơi trốn; người con trai không may bị đuối nước. Chỉ còn lại duy nhất một người dẫn đường, hạm đội hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ dẫn của người này để tiếp tục tiến về phía trước.

Cuối cùng, sau bao biến cố thảm khốc và các cuộc đảo chính nội bộ, vào ngày 7 tháng 11 năm 1521, Quần đảo Gia vị (Maluku) huyền thoại đã hiện ra trước mắt đoàn thám hiểm.

Tiếp đón tại Tidore và thu gom đinh hương

Ngày 8 tháng 11 năm 1521, hạm đội cập bờ đảo Tidore và nhận được sự đón tiếp nồng hậu từ Vua Almansur. Tại đây, Gonzalo Gómez de Espinosa và Juan Sebastián Elcano đã dâng tặng nhà vua nhiều lễ vật quý giá. Để bày tỏ thiện chí, họ trao trả toàn bộ tù binh bắt giữ từ chiếc thuyền parao, người dẫn đường vùng Sarangani cùng ba người phụ nữ bản địa, nhờ nhà vua hỗ trợ đưa họ trở về quê nhà.

Đáp lại thịnh tình đó, Vua Almansur đã thu thập toàn bộ lượng đinh hương sẵn có tại Tidore cùng hai đảo lân cận là Maquian và Motil để bán cho người Tây Ban Nha chất đầy các khoang tàu. Ông cũng gửi nhiều thông điệp giao hảo tới Vua Carlos I và nhận lại những cuộn vải vóc quý từ đoàn thám hiểm. Trong suốt một tháng dừng chân tại Tidore, đoàn còn đón tiếp nhiều thủ lĩnh và Quốc vương từ các hòn đảo lân cận tìm đến để thiết lập quan hệ hữu nghị.

Tại Tidore, đoàn thám hiểm hay tin nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Francisco Serrão — bạn thân của Magalhães — đã qua đời tại đảo Ternate gần đó từ 8 tháng trước.

Trong số những vị khách đến Tidore có con trai của Vua Ternate, đi cùng góa phụ và các con của Francisco Serrão, cùng một người bản địa tên là Manuel. Manuel là gia nhân của Pedro Afonso de Lorosa — một người Bồ Đào Nha đang sinh sống tại Ternate. Manuel tiết lộ rằng Lorosa có nguyện vọng muốn sang phục vụ Vua Carlos I của Tây Ban Nha. Nghe vậy, người Tây Ban Nha lập tức nhắn anh báo cho Lorosa thu xếp đến hội quân cùng họ.

Khi tới Tidore, Lorosa tiết lộ rằng người Bồ Đào Nha thực chất đã đặt chân tới Maluku từ 10 năm trước nhưng cố tình giữ bí mật với thế giới. Ông còn cho biết thêm: một năm trước, thuyền trưởng Bồ Đào Nha Tristão de Meneses đã tới Maluku và tiết lộ việc Vua Bồ Đào Nha tìm mọi cách phá hỏng chuyến viễn chinh của năm con tàu Magalhães. Triều đình Bồ Đào Nha từng phái tàu đến đón chặn ở mũi Hảo Vọng cùng mũi Santa María (châu Phi), đồng thời lệnh cho chỉ huy Diogo Lopes de Sequeira tại Ấn Độ gửi 6 chiến hạm tới Maluku. Tuy nhiên, hạm đội này buộc phải chuyển hướng sang Aden để nghênh chiến với lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến đánh Malacca. Sau cuộc gặp, Lorosa cùng vợ chính thức gia nhập đoàn thám hiểm Tây Ban Nha.

Sự cố tàu Trinidad và quyết định xé lẻ hạm đội

Ý thức được nguy cơ bị hạm đội Bồ Đào Nha tấn công bất cứ lúc nào, người Tây Ban Nha khẩn trương hoàn tất việc bốc xếp đinh hương để nhổ neo. Vua Almansur vô cùng lưu luyến và liên tục khẳng định lòng trung thành với Vua Tây Ban Nha, khiến đoàn quyết định hoãn giờ khởi hành thêm 15 ngày.

Trong khi đó, Vua Chechili de Roix của Ternate tìm cách giữ Lorosa ở lại. (Hiện nay, Cục Lưu trữ Quốc gia Torre do Tombo của Bồ Đào Nha vẫn còn lưu giữ một thư tịch bằng chữ Jawi của vị vua này gửi cho viên chỉ huy Bồ Đào Nha tại Malacca, báo tin người Tây Ban Nha đã tới và đang duy trì mối quan hệ rất tốt với Vua Tidore).

Đoàn thám hiểm sau đó sang đảo Gilolo (nay là Halmahera) mua nhiều ống tre lớn chứa nước ngọt. Lượng đinh hương thu mua được nhiều đến mức hai con tàu không thể chở hết, buộc họ phải dựng một nhà kho trên đảo và cử 5 người ở lại trông giữ.

Ngày 18 tháng 12 năm 1521, công tác chuẩn bị hoàn tất. Tuy nhiên, khi vừa nhổ neo, tàu Trinidad gặp sự cố nghiêm trọng và vận hành vô cùng khó khăn, buộc cả đoàn phải quay lại cảng Tidore. Sau khi dỡ bớt hàng hóa, Vua Almansur cử thợ lặn bản địa xuống kiểm tra và phát hiện sống tàu đã bị gãy, xuất hiện một lỗ thủng lớn ngay bên cạnh. Dù Almansur đã cử những thợ mộc giỏi nhất đến hỗ trợ, việc khắc phục sự cố dự kiến sẽ mất nhiều tháng.

Trước nguy cơ bị người Bồ Đào Nha bao vây, một quyết định chiến lược đã được đưa ra: tàu Victoria sẽ tiếp tục hành trình trở về một mình.

Theo kế hoạch, sau khi sửa chữa xong, tàu Trinidad sẽ quay đầu vượt Thái Bình Dương hướng về vùng Darién (châu Mỹ). Tại đó, thủy thủ đoàn sẽ vận chuyển đinh hương bằng đường bộ qua eo đất ra biển Caribe rồi đóng tàu về Tây Ban Nha.

Về phần tàu Victoria, Thuyền trưởng Elcano quyết định chọn tuyến đường mạo hiểm hơn: đi về phía tây, băng qua các vùng biển thuộc chủ quyền của Bồ Đào Nha theo Hiệp ước Tordesillas. Trên lộ trình này, họ buộc phải tuyệt đối tránh xa các cảng biển để không bị người Bồ Đào Nha phát hiện.

Hải trình gian khổ của tàu Victoria qua Ấn Độ Dương

Ngày 21 tháng 12 năm 1521, tàu Victoria chính thức nhổ neo rời Tidore cùng 47 thủy thủ.

Elcano chọn lộ trình đi qua vùng biển phía nam Ấn Độ Dương để hướng về mũi Hảo Vọng. Hai sĩ quan Francisco Albo và Miguel Rodas đề xuất dừng chân tại quần đảo Maldives để lấy thêm nhu yếu phẩm, nhưng Elcano kiên quyết bác bỏ vì lo ngại rơi vào tay người Bồ Đào Nha.

Ngày 25 tháng 1 năm 1522, con tàu cập bến đảo Timor và dừng lại 11 ngày để thu mua gỗ đàn hương.

Đến ngày 7 tháng 2 năm 1522, Victoria rời Timor trong tình trạng hư hại nặng, nước biển rò rỉ vào khoang liên tục đến mức thủy thủ đoàn phải luân phiên bơm nước 12 lần mỗi ngày và 12 lần mỗi đêm.

Con tàu di chuyển song song và chỉ cách bờ biển Úc khoảng 500 km. Ngày 18 tháng 3, họ nhìn thấy hòn đảo mà sau này được đặt tên là đảo Amsterdam. Dù mất 2 ngày tìm kiếm điểm neo đậu không thành, họ đành phải tiếp tục ra khơi.

Victoria tiến xuống vĩ tuyến 40 độ nam, đi vào vùng gió hú Roaring Forties (dải gió Tây hung tợn mà sau này người Anh hay lợi dụng để sang Úc). Trong suốt tháng 4, con tàu bị kẹt giữa những cơn bão dữ dội suốt 8 ngày liên tiếp. Đến ngày 21 tháng 4, khi gió đổi chiều, Elcano lập tức quyết định bẻ lái về hướng tây bắc để thoát khỏi khu vực vĩ độ nguy hiểm này.

Ngày 4 tháng 5, ngỡ rằng đã vượt qua mũi Hảo Vọng để vào Đại Tây Dương, họ chuyển hướng tây bắc nhưng hụt hẫng nhận ra mình vẫn đang mắc kẹt ở bờ biển phía đông Nam Phi, ngang khu vực sông Infante (nay là sông Great Fish). Nhiều khả năng họ nhận ra vị trí này nhờ tấm hải đồ Bồ Đào Nha mang theo. Để tránh bị bắt, họ quyết định lập tức quay trở lại hải phận quốc tế.

Khi tiến đến mũi Hảo Vọng, một trận bão cuồng phong đã đánh gãy cột buồm mũi và trục buồm của tàu. Đứng trước ranh giới sinh tử, thủy thủ đoàn từng tính đến phương án hất bỏ toàn bộ đinh hương xuống biển để giảm tải, nhưng cuối cùng họ vẫn kiên trì giữ lại. Từ ngày 17 đến 19 tháng 5, ngay ngoài khơi mũi Hảo Vọng, con tàu vật lộn sinh tồn giữa giông bão mà hầu như không thể tiến thêm được dặm nào.

(Sử gia Bồ Đào Nha Gaspar Correia từng ghi nhận rằng sau khi qua mũi Hảo Vọng, tàu Victoria đã ghé vịnh Saldanha và chạm trán tàu Bồ Đào Nha của Pedro Quaresma. Tuy nhiên, chi tiết này bị coi là nhầm lẫn do Correia ghi sai tên thuyền trưởng tàu Victoria thành Juan de la Rosa).

Băng qua Đại Tây Dương và biến cố tại Cabo Verde

Ngang qua vùng biển Namibia, con tàu đạt tốc độ kỷ lục: từ ngày 25 đến 26 tháng 5, tàu di chuyển tới 560 km (trung bình khoảng 12,6 hải lý/giờ). Dù vậy, nguồn lương thực dự trữ đã hoàn toàn cạn kiệt; thủy thủ đoàn chỉ còn chút cơm hẩm nấu bằng nước biển để cầm chừng, khiến số người chết vì bệnh tật và suy kiệt tăng lên từng ngày.

Nhận thấy nếu tiếp tục hành trình thì toàn bộ thủy thủ sẽ chết trước khi về tới nhà, Elcano buộc phải tìm cách vào bờ. Họ tiếp cận bờ biển Guinea nhưng các dải rừng ngập mặn dày đặc khiến tàu không thể thả neo. Từ ngày 14 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7, con tàu vô vọng men theo bờ biển Guinea mà không tìm được lối vào.

Ngày 1 tháng 7, Elcano cho toàn bộ thủy thủ đoàn biểu quyết: tiếp tục dấn thân hay chấp nhận rủi ro dừng chân tại quần đảo Cabo Verde (lãnh thổ thuộc Bồ Đào Nha). Đa số quyết định chọn ghé Cabo Verde.

Ngày 9 tháng 7, tàu Victoria cập cảng Cidade Velha trên đảo Santiago. 13 thủy thủ được cử chèo xuồng lên bờ, giả vờ khai rằng họ là tàu buôn trở về từ châu Mỹ. Theo Francisco Albo, ban đầu chức trách Bồ Đào Nha không chút nghi ngờ và đã cung cấp đầy đủ lương thực, nhu yếu phẩm cho họ.

Chính tại đây, người Tây Ban Nha đã phát hiện ra một hiện tượng vô cùng thú vị: Trong khi sổ nhật ký hải trình của họ ghi nhận hôm đó là thứ Tư, ngày 9 tháng 7, thì chính quyền Bồ Đào Nha địa phương lại khẳng định đó là thứ Năm, ngày 10 tháng 7. Do thực hiện chuyến hành trình liên tục đi về hướng tây vòng quanh quả địa cầu, đoàn thám hiểm đã mất đi đúng một ngày trong lịch trình mà không hề hay biết — đây cũng chính là bằng chứng thực tế đầu tiên lịch sử ghi nhận về sự tồn tại của các múi giờ và đường đổi ngày quốc tế.

Tuy nhiên, sự cố đã xảy ra khi nhóm 13 thủy thủ trên bờ định dùng 3 tạ đinh hương để mua thêm hàng hóa và nô lệ phụ trách bơm nước. Chính quyền Bồ Đào Nha lập tức nhận ra số đinh hương này xuất xứ từ Quần đảo Gia vị (Maluku) và tiến hành bắt giữ toàn bộ nhóm thủy thủ.

Ở ngoài khơi, tàu Victoria di chuyển quanh đảo Santiago để chờ đồng đội. Ngày 15 tháng 7, sau nhiều ngày mất liên lạc, Elcano quyết định cho tàu tiến thẳng vào cảng. Một tàu chiến Bồ Đào Nha lập tức áp sát, thông báo toàn bộ nhóm lên bờ đã bị bắt giam và yêu cầu tàu Victoria phải đầu hàng. Không một chút đắn đo, Elcano hạ lệnh giương toàn bộ buồm tháo chạy.

Con tàu quyết định dấn bước hướng thẳng về bán đảo Iberia, bỏ qua quần đảo Canaria của Tây Ban Nha ở gần đó. Họ buộc phải đi vòng qua phía tây của quần đảo vì tuyến đường thẳng bị luồng gió mậu dịch đông bắc thổi ngược liên tục — một chướng ngại quá tầm đối với kỹ thuật buồm thời bấy giờ.

Họ tiếp tục lướt qua quần đảo Açores của Bồ Đào Nha mà không thể dừng lại. Vài ngày sau, vùng áp cao Açores rơi vào trạng thái lặng gió, khiến con tàu Victoria kiệt quệ bị mắc kẹt và đứng yên giữa biển suốt một tuần liền.

Về tới Tây Ban Nha (09/1522)

Tàu Victoria trên tấm bản đồ năm 1589 của Abraham Ortelius

Ngày 6 tháng 9 năm 1522, con tàu Victoria kiệt quệ cập bến Sanlúcar de Barrameda, đánh dấu sự trở về lịch sử của 18 thành viên sống sót cùng ít nhất 3 người bản địa Maluku (trong số 13 người đã bước lên tàu tại Tidore 9 tháng trước). Ngay trong ngày cập bờ, từ trên mạn tàu Victoria, Thuyền trưởng Elcano đã khẩn cấp viết một lá thư gửi lên Vua Carlos I để báo cáo về toàn bộ hải trình gian khổ và sự kiện con tàu đã an toàn trở về bán đảo Iberia. (Hiện nay, một số bản sao đương thời của bức thư mang giá trị lịch sử vô giá này vẫn được lưu giữ cẩn thận).

Ngày 7 tháng 9, Cơ quan Quản lý Thương mại Tây Ấn (Casa de la Contratación) đã chi ra 15 đồng ducado để thuê một chiếc thuyền lớn trang bị 6 mái chèo nhằm hỗ trợ kéo tàu Victoria đi ngược dòng sông Guadalquivir. Cơ quan này cũng phái một đoàn 15 người xuống Sanlúcar để tiếp ứng cho các thủy thủ đã hoàn toàn kiệt sức. Một người dân địa phương tên là Gaspar García cũng tự nguyện dùng chiếc thuyền của mình để góp sức vào cuộc hộ tống.

Đến ngày 8 tháng 9 năm 1522, tàu Victoria cùng thủy thủ đoàn chính thức cập cảng Sevilla. Sau hơn 3 năm đối mặt với ranh giới sinh tử giữa trùng khơi, các thủy thủ đã xin những cây nến lớn, chân trần bước lên bờ tiến thẳng về Tu viện Đức Mẹ Chiến Thắng và Nhà nguyện Đức Mẹ Antigua bên trong Nhà thờ lớn Sevilla để dâng lễ tạ ơn Thiên Chúa.

Nhà biên niên sử Antonio Pigafetta đã xúc động ghi lại giây phút trở về lịch sử trong cuốn nhật ký của mình:

"Nhờ ơn Thiên Chúa, vào thứ Bảy ngày 6 tháng 9 năm 1522, chúng tôi đã tiến vào vịnh San Lúcar... Kể từ thời điểm rời vịnh San Lúcar cho tới ngày trở về, theo tính toán của chúng tôi, đoàn đã vượt qua hành trình dài hơn 14.460 legua và hoàn thành trọn vẹn một vòng quanh Trái Đất... Đến thứ Hai ngày 8 tháng 9, chúng tôi thả neo gần bến cảng Sevilla và hạ lệnh dỡ toàn bộ pháo xuống tàu."

Danh sách 18 người anh hùng sống sót trở về

Dưới đây là danh sách 18 thành viên cuối cùng của hạm đội Magalhães đã vượt qua vô vàn thử thách để trở về Tây Ban Nha trên con tàu Victoria, hoàn thành chuyến hải trình vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử nhân loại:

STT Họ và tên Chức danh / Vai trò
1 Juan Sebastián Elcano Thuyền trưởng
2 Francisco Albo Hoa tiêu
3 Miguel de Rodas Thủy thủ trưởng
4 Juan de Acurio Phó thủy thủ trưởng
5 Antonio Pigafetta Nhà biên niên sử / Tùy viên
6 Martín de Judicibus Quản kho
7 Hernando de Bustamante Thợ cạo kiêm Thầy thuốc
8 Hans de Aquisgrán Pháo thủ
9 Diego Carmena Thủy thủ
10 Nicolás de Nápoles Thủy thủ
11 Miguel Sánchez de Rodas Thủy thủ
12 Francisco Rodrigues Thủy thủ
13 Juan Rodríguez de Huelva Thủy thủ
14 Antón Hernández Colmenero Thủy thủ
15 Juan de Arratia Thủy thủ học việc (Grumete)
16 Juan de Santander Thủy thủ học việc (Grumete)
17 Vasco Gómez Gallego Thủy thủ học việc (Grumete)
18 Juan de Zubileta Tiểu đồng (Paje)

Vinh danh

Tên ông được đặt cho:

Chú thích

Tham khảo

Thư mục

Đọc thêm

Các nguồn chính

Các nguồn thứ cấp

Các nguồn trực tuyến

Liên kết ngoài


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "ghi chú", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="ghi chú"/> tương ứng

Thống kê chỉ số

Số trận 3 (6)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 2
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
17 GIỜ : 36 PHÚT : 53 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL