Quay lại

Felix Bernd Wienand

Số áo #35

Goalkeeper

Quốc tịch Flag Germany
Tuổi 24
Chiều cao 6' 3"
Cân nặng 174 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Rot-Weiss Essen

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Lực lượng vũ trang SS
Waffen-SS
Thủ lĩnhHeinrich Himmler
Sáng lập17 tháng 3 năm 1933; 93 năm trước (1933-03-17)
Tan rã10 tháng 5 năm 1945; 81 năm trước (1945-05-10)
Quốc gia Đức Quốc xã
Trung thành với Adolf Hitler
Phân nhóm
Trụ sởSS Führungshauptamt, Berlin
Khu vực hoạt độngVùng châu Âu do Đức chiếm đóng
Hệ tư tưởngChủ nghĩa Quốc xã
Lập trườngCực hữu
Khẩu hiệuMeine Ehre heißt Treue
Các hành động đáng chú ý
  • Thảm sát Wormhoudt
  • Thảm sát Koriukivka
  • Thảm sát Oradour-sur-Glane
  • Thảm sát Wola
  • Thảm sát Malmedy
Các vụ tấn công đáng chú ý
Quy mô900,000 (Ước tính vào năm 1944)
Một phần củaSchutzstaffel
Tham chiếnChiến trường châu Âu trong Thế chiến thứ hai

Waffen-SS (tiếng Đức: [ˈvafn̩ʔɛsˌʔɛs]; n.đ. 'SS vũ trang') là binh chủng chiến đấu của tổ chức bán quân sự Schutzstaffel (SS) thuộc Đảng Quốc xã. Các đơn vị của lực lượng này bao gồm đàn ông từ Đức Quốc xã, cùng với những người tình nguyện và lính nghĩa vụ đến từ cả châu Âu bị Đức chiếm đóng lẫn các vùng lãnh thổ không bị chiếm đóng. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, quyền chỉ huy chiến thuật đối với Waffen-SS do Oberkommando der Wehrmacht (OKW, "Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang") nắm giữ, trong khi một số đơn vị lại trực thuộc Kommandostab Reichsführer-SS (n.đ. 'Bộ tham mưu của Reichsführer-SS') do Reichsführer-SS Heinrich Himmler trực tiếp kiểm soát. Lực lượng này bị giải tán vào tháng 5 năm 1945.

Trong Thế chiến II, Waffen-SS phát triển từ ba trung đoàn lên hơn 38 sư đoàn. Kết hợp cả chức năng tác chiến và cảnh sát, lực lượng này hoạt động song song với Lục quân Đức (Heer), Ordnungspolizei (Cảnh sát trật tự), và các đơn vị an ninh khác. Ban đầu, Waffen-SS nằm dưới sự quản lý của SS Führungshauptamt (Văn phòng chỉ huy tác chiến SS) thuộc kiểm soát của Himmler.

Lúc đầu, phù hợp với chính sách chủng tộc của Đức Quốc xã, chỉ những người có nguồn gốc "Germanic" (cái gọi là "dòng máu Aryan") mới được phép gia nhập. Những quy định này được nới lỏng một phần vào năm 1940, và sau cuộc xâm lược Liên Xô tháng 6 năm 1941, tuyên truyền Quốc xã mô tả cuộc chiến là một "cuộc thập tự chinh của châu Âu chống chủ nghĩa Bolshevik", từ đó thành lập thêm nhiều đơn vị gồm phần lớn hoặc hoàn toàn là tình nguyện viên và lính nghĩa vụ nước ngoài. Các đơn vị Waffen-SS này chủ yếu bao gồm công dân đến từ các nước châu Âu bị Đức chiếm đóng. Mặc dù quy định đã được nới lỏng, Waffen-SS vẫn dựa trên hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc của chủ nghĩa Quốc xã, và người Ba Lan (bị coi là "hạ đẳng") bị cấm đặc biệt không được gia nhập các đơn vị này.

Waffen-SS tham gia vào vô số tội ác. Năm 1946, Tòa án Quân sự Quốc tế tại Nürnberg tuyên bố Waffen-SS là một tổ chức tội phạm, do sự dính líu của lực lượng này vào cuộc Diệt chủng người Do Thái (Holocaust), cuộc diệt chủng người Roma (Porajmos) và nhiều tội ác chiến tranh, tội ác chống lại dân thường, bao gồm tra tấn, thí nghiệm trên người, bắt cóc trẻ em, hiếp dâm tập thể, lạm dụng tình dục trẻ em và thảm sát hàng loạt. Vì vậy, các cựu quân nhân Waffen-SS (ngoại trừ những người bị cưỡng bức nhập ngũ, chiếm khoảng một phần ba quân số) bị từ chối nhiều quyền lợi vốn dành cho cựu chiến binh quân đội thông thường.

Nguồn gốc hình thành

Buổi lễ kỷ niệm năm thứ 3 của đơn vị LSSAH. Sepp Dietrich đứng trên bục. Tháng 5, 1935

Nguồn gốc của Waffen-SS có thể lần theo từ việc Sepp Dietrich chọn ra một nhóm 120 người SS vào ngày 17 tháng 3 năm 1933 để lập đơn vị Sonderkommando Berlin. Đến tháng 11 năm 1933, đơn vị này đã có 800 người, và trong một buổi lễ kỷ niệm tại München nhân dịp 10 năm cuộc đảo chính quán bia thất bại, trung đoàn này đã tuyên thệ trung thành với Adolf Hitler. Lời thề là "Chỉ thề trung thành với ông ta" và "Tuân lệnh cho đến chết". Đơn vị được trao tên Leibstandarte (dịch Trung đoàn Cận vệ) Adolf Hitler (LAH). Ngày 13 tháng 4 năm 1934, theo lệnh Himmler, trung đoàn đổi tên thành Leibstandarte SS Adolf Hitler (LSSAH).

Leibstandarte đã thể hiện lòng trung thành với Hitler trong năm 1934, trong sự kiện "Đêm của những con dao dài", khi chế độ Quốc xã tiến hành một loạt vụ ám sát chính trị và thanh trừng lực lượng Sturmabteilung (SA). Được dân dắt bởi đồng minh thân cận của Hitler là Ernst Röhm, SA bị Hitler xem là mối đe dọa đối với quyền lực chính trị mới giành được. Hitler cũng muốn trấn an giới lãnh đạo Reichswehr (lực lượng vũ trang của Cộng hòa Weimar) và phe bảo thủ trong nước, những người mà ông cần sự ủng hộ để củng cố địa vị. Khi Hitler quyết định ra tay với SA, SS được giao nhiệm vụ giết Röhm và các chỉ huy cấp cao khác của SA. "Đêm của những con dao dài" diễn ra từ 30 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1934, khiến tới khoảng 200 người bị giết, gần như toàn bộ ban lãnh đạo SA bị sát hại, qua đó chấm dứt thực quyền của lực lượng này. Hành động đó phần lớn do nhân viên SS (bao gồm Leibstandarte) và Gestapo thực hiện).

Tháng 9 năm 1934, Hitler cho phép thành lập lực lượng vũ trang bán quân sự của Đảng Quốc xã và phê chuẩn việc lập SS-Verfügungstruppe (SS-VT), một lực lượng quân đặc nhiệm trực thuộc quyền chỉ huy của Hitler. SS-VT phải phụ thuộc vào Lục quân Đức để được cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự, và phụ thuộc vào các hội đồng tuyển quân địa phương (chịu trách nhiệm phân bổ lính nghĩa vụ cho các binh chủng khác nhau của Wehrmacht theo chỉ tiêu do Bộ Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Oberkommando der Wehrmacht đặt ra); SS bị xếp mức ưu tiên thấp nhất trong việc nhận tân binh.

Dù gặp khó khăn vì cơ chế chỉ tiêu, Heinrich Himmler vẫn thành lập thêm hai trung đoàn SS mới là SS Germania và SS Deutschland, cùng với Leibstandarte và một đơn vị thông tin liên lạc tạo thành khối SS-VT. Đồng thời, Himmler lập hai Trường sĩ quan SS-Junker (trại đào tạo sĩ quan SS), dưới sự chỉ đạo của cựu Trung tướng Paul Hausser, để đào tạo các chỉ huy SS tương lai. Bên cạnh huấn luyện quân sự, các khóa học còn nhằm nhồi nhét "thế giới quan" ý thức hệ đúng chuẩn, với chủ nghĩa bài Do Thái là trụ cột chính. Một số giảng viên như Matthias Kleinheisterkamp hay những tội phạm chiến tranh tương lai như Franz Magill (thuộc Lữ đoàn Kỵ binh SS khét tiếng) lại có năng lực chuyên môn đáng ngờ.

Leibstandarte SS Adolf Hitler duyệt binh ở Berlin, năm 1938

Năm 1934, Himmler đặt ra các tiêu chuẩn tuyển mộ rất khắt khe. Ứng viên phải là công dân Đức, chứng minh được dòng dõi "Aryan" của mình đến năm 1800, chưa lập gia đình và không có tiền án. Họ phải cam kết phục vụ 4 năm trong SS-VT và LSSAH. Tuổi từ 17 đến 23, cao tối thiểu 1,74 mét (5 ft 9 in)). Lính canh trại tập trung phải cam kết 1 năm, tuổi từ 16 đến 23, cao tối thiểu 1,72 mét (5 ft 8 in). Tất cả tân binh phải có thị lực 10/10, không có bất kỳ miếng trám răng nào, và có giấy chứng nhận y tế. Đến năm 1938, yêu cầu về chiều cao được nới lỏng, cho phép tối đa sáu miếng trám răng, và kính đeo cho loạn thị hoặc cận nhẹ cũng được chấp nhận. Khi chiến tranh bắt đầu, các tiêu chuẩn thể chất không còn được áp dụng nghiêm ngặt nữa, và bất kỳ ai vượt qua được khám sức khỏe cơ bản đều có thể được xem xét tuyển mộ. Thành viên SS có thể thuộc bất kỳ tôn giáo nào, trừ Do Thái giáo; nhưng theo Himmler năm 1937, những người vô thần không được phép gia nhập. Hitler từng nói về thái độ tôn giáo mà ông muốn trong một cuộc trò chuyện tại Hang Sói: "Tôi có sáu sư đoàn SS gồm toàn những người hoàn toàn thờ ơ với chuyện tôn giáo. Điều đó chẳng cản họ đi vào cái chết với tâm hồn thanh thản."

Nhà sử học Bernd Wegner, trong nghiên cứu về đội ngũ sĩ quan, nhận thấy phần lớn các sĩ quan cao cấp của Waffen-SS xuất thân từ tầng lớp trung lưu trên, và theo tiêu chuẩn truyền thống thì họ hoàn toàn đủ điều kiện để được phong sĩ quan. Trong số các tướng lĩnh Waffen-SS về sau, khoảng 6/10 người có bằng tốt nghiệp trung học chuẩn bị vào đại học (Abitur), và không dưới 1/5 có bằng đại học.

Hausser trở thành Thanh tra SS-VT năm 1936. Ở vị trí này, ông phụ trách việc huấn luyện quân sự và ý thức hệ cho quân SS-VT nhưng không có quyền chỉ huy tác chiến. Quyền quyết định sử dụng lực lượng vẫn nằm trong tay Himmler. Điều này phù hợp với ý muốn của Hitler là giữ các đơn vị này "không thuộc về quân đội, cũng không thuộc về cảnh sát", theo lệnh của Hitler ngày 17 tháng 8 năm 1938.

Ngày 17 tháng 8 năm 1938, Hitler tuyên bố SS-VT sẽ có vai trò cả trong đối nội lẫn đối ngoại, biến lực lượng vũ trang đang lớn mạnh này thành đối thủ cạnh tranh mà Lục quân vẫn lo ngại. Ông ra sắc lệnh cho phép thời gian phục vụ trong SS-VT được tính là hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trong khi phục vụ trong SS-Totenkopfverbände (SS-TV) thì không. Một số đơn vị SS-TV, trong trường hợp chiến tranh, sẽ được dùng làm lực lượng dự bị cho SS-VT, vốn chưa có lực lượng dự bị riêng. Dù được huấn luyện nhiều, SS-VT vẫn chưa từng bị thử thách trong chiến đấu. Năm 1938, một tiểu đoàn Leibstandarte được chọn đi cùng Lục quân trong cuộc sát nhập Áo Anschluss,và ba trung đoàn SS-VT tham gia chiếm đóng vùng Sudetenland vào tháng 10 cùng năm. Trong cả hai chiến dịch, họ đều không gặp kháng cự.

Việc tuyển mộ người Đức gốc ở các nước khác bắt đầu từ tháng 4 năm 1940, và các đơn vị gồm tân binh không thuộc nhóm chủng tộc Germanic được thành lập từ năm 1942. Các đơn vị không-Germanic không được xem là một phần đích thực của SS (vì SS vẫn giữ tiêu chuẩn chủng tộc), mà chỉ được coi là người nước ngoài phục vụ dưới quyền chỉ huy của SS. Nói chung, một Sư đoàn SS gồm người Đức hoặc gốc Germanic, còn một Sư đoàn của SS là đơn vị gồm tình nguyện viên và lính nghĩa vụ không thuộc chủng tộc Germanic.

Thế chiến II

1939

Xâm lược Ba Lan

Members of the Einsatzgruppen murdering Polish civilians in Kórnik shortly after the outbreak of World War II in Europe

Các đơn vị vũ trang dưới quyền Himmler khi chiến tranh bùng nổ gồm nhiều nhóm nhỏ, sau này trở thành nòng cốt của Waffen-SS:

  • Leibstandarte SS Adolf Hitler (LSSAH), do SS-Obergruppenführer Josef "Sepp" Dietrich chỉ huy lúc bấy giờ
  • Thanh tra lực lượng SS-Verfügungstruppe (SS-VT), do SS-Gruppenführer Paul Hausser chỉ huy, quản lý các trung đoàn Deutschland, Germania và Der Führer regiments. Trung đoàn Der Führer được tuyển quân ở Áo sau cuộc Anschluss và khi đó vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu.
  • Thanh tra các trại tập trung, do SS-Gruppenführer Theodor Eicke nắm quyền, với bốn Standarten bộ binh và một Standarten kị binh Đầu lâu, gồm các lính canh SS-Totenkopfverbände (SS-TV). Những đơn vị này mang phù hiệu đầu lâu SS-TV chứ không mang phù hiệu "rune SS" của SS-VT.
  • Các đơn vị cảnh sát thuộc Ordnungspolizei dưới quyền Obergruppenführer und General der Polizei Kurt Daluege, báo cáo trực tiếp cho Himmler trong cương vị Cục trưởng Cảnh sát Đức. Những đơn vị này dùng cấp bậc và phù hiệu theo hệ thống cảnh sát, chứ không dùng hệ thống của SS

Tháng 8 năm 1939, Hitler đặt Leibstandarte và SS-VT dưới quyền chỉ huy tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh Lục quân (OKH). Himmler vẫn giữ quyền chỉ huy các Totenkopfstandarten để sử dụng phía sau các đơn vị chiến đấu đang tiến quân, với nhiệm vụ được nói giảm là "các nhiệm vụ đặc biệt mang tính cảnh sát".

Mặc dù chiến thắng quân sự trước Ba Lan vào tháng 9 năm 1939 diễn ra nhanh chóng, Lục quân chính quy vẫn cho rằng SS-VT chiến đấu kém: đơn vị này chấp nhận rủi ro không cần thiết và có tỷ lệ thương vong cao hơn quân đội. Họ cũng nhận xét SS-VT huấn luyện kém và sĩ quan không phù hợp với chỉ huy tác chiến. Ví dụ, OKW ghi nhận rằng Leibstandarte đã phải được một trung đoàn lục quân cứu thoát sau khi bị quân Ba Lan bao vây ở Pabianice. Về phía mình, SS khẳng định họ bị thiệt thòi vì buộc phải chiến đấu rời rạc, từng mảnh, chứ không được dùng như một khối thống nhất, và vì bị Lục quân trang bị không đầy đủ so với nhiệm vụ được giao. Himmler yêu cầu SS-VT phải được chiến đấu trong các đội hình riêng, dưới quyền các chỉ huy SS của chính họ, trong khi OKW thì tìm cách giải tán SS-VT hoàn toàn. Hitler không muốn làm phật ý cả Lục quân lẫn Himmler, nên chọn giải pháp thứ ba: ông ra lệnh SS-VT lập các sư đoàn riêng, nhưng các sư đoàn này vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của Lục quân. Hitler chống lại việc sáp nhập Waffen-SS vào quân đội, vì ông muốn lực lượng này tiếp tục là cánh vũ trang của Đảng và về lâu dài sẽ trở thành lực lượng cảnh sát tinh nhuệ sau khi chiến tranh kết thúc với thắng lợi của Đức.

Trong chiến dịch xâm lược, nhiều tội ác chiến tranh đã được thực hiện đối với người dân Ba Lan. Leibstandarte nhanh chóng trở nên khét tiếng vì đốt phá các làng mạc mà không có lý do quân sự chính đáng. Thành viên Leibstandarte cũng gây ra nhiều vụ thảm sát ở nhiều thị trấn, trong đó có vụ giết 50 người Do Thái Ba Lan tại Błonie và vụ xử bắn khoảng 200 dân thường, bao gồm cả trẻ em, bị bắn bằng súng máy ở Złoczew. Các vụ bắn giết cũng xảy ra tại Bolesławiec, Torzeniec, Goworowo, Mława, và Włocławek. Lực lượng SS-TV của Eicke trên thực tế không hoạt động như một đơn vị quân sự tiền tuyến.

Thay vì sử dụng năng lực quân sự vào chiến đấu, họ dùng nó để khủng bố dân thường, với những hành động như săn lùng lính Ba Lan, tịch thu nông sản và gia súc, tra tấn và sát hại hàng loạt giới lãnh đạo chính trị, quý tộc, doanh nhân, linh mục, trí thức và người Do Thái Ba Lan.

Quân Totenkopfverbände của Eicke được giao thực hiện các "biện pháp cảnh sát và an ninh" ở vùng hậu phương. Những biện pháp đó thực chất là gì được thể hiện rõ qua hoạt động của SS Totenkopf Standarte "Brandenburg". Đơn vị này đến Włocławek ngày 22 tháng 9 năm 1939 và tiến hành một đợt "chiến dịch Do Thái" kéo dài bốn ngày, bao gồm việc đốt các giáo đường Do Thái (synagogue) và xử bắn tập thể giới lãnh đạo cộng đồng Do Thái. Ngày 29 tháng 9, Standarte này tiếp tục di chuyển tới Bydgoszcz để thực hiện một "chiến dịch trí thức" (Intelligenzaktion), nhằm vào tầng lớp tinh hoa địa phương.

Sư đoàn đầu tiên

Vào tháng 10 năm 1939, các trung đoàn Deutschland, Germania, và Der Führer được tổ chức lại thành Sư đoàn SS-Verfügungs. Đơn vị Leibstandarte vẫn giữ độc lập và được tăng cường lên quy mô một trung đoàn cơ giới tăng cường. Hitler cho phép thành lập hai sư đoàn mới: Sư đoàn SS Totenkopf, được hình thành từ các Standarte đã quân sự hóa của lực lượng SS-Totenkopfverbände, and the Sư đoàn Polizei, , được thành lập từ các thành viên của lực lượng cảnh sát quốc gia. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, lực lượng mà OKW từng tìm cách giải tán đã tăng quân số từ 18.000 lên hơn 100.000 người. Tiếp đó, vào tháng 3 năm 1940, Hitler cho phép thành lập bốn tiểu đoàn pháo binh cơ giới, mỗi sư đoàn và đơn vị Leibstandarte. có một tiểu đoàn. OKW được giao nhiệm vụ cung cấp pháo cho các tiểu đoàn mới này, nhưng lại do dự trong việc chuyển giao pháo từ kho vũ khí của chính mình. Vũ khí được cấp phát rất chậm, và đến thời điểm diễn ra Trận chiến nước Pháp, chỉ có tiểu đoàn của Leibstandarte là đạt đủ biên chế.

1940

Pháp và Hà Lan

Ba sư đoàn SS và đơn vị Leibstandarte đã dành mùa đông 1939 và mùa xuân 1940 để huấn luyện, chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới ở mặt trận phía tây. Tháng 5, họ được điều ra tiền tuyến, và Leibstandarte được biên chế trực thuộc Sư đoàn bộ binh 227 của lục quân. Trung đoàn Der Führer được tách khỏi Sư đoàn SS-VT và đi cùng cho Sư đoàn bộ binh 207. Sư đoàn SS-VT (trừ Der Führer) được tập trung gần Münster chờ lệnh tấn công Hà Lan. Các sư đoàn SS Totenkopf và Polizei được giữ lại làm lực lượng dự bị.

Ngày 10 tháng 5, Leibstandarte đánh bại lực lượng biên phòng Hà Lan để đi đầu cho mũi tiến công của Quân đoàn X vào Hà Lan, tiến vào phía bắc các con sông, hướng tới phòng tuyến Grebbe của Hà Lan rồi sau đó là khu vực Amsterdam. Trung đoàn Der Führer ở cánh bên cạnh cũng tiến về tuyến Grebbe ở khu vực Grebbeberg, với mục tiêu tiếp theo là thành phố Utrecht. Trận Grebbeberg kéo dài ba ngày và gây nhiều tổn thất cho Der Führer. Ngày 11 tháng 5, Sư đoàn SS-VT vượt qua biên giới Hà Lan ở phía nam các con sông và tiến về Breda. Đơn vị giao chiến trong một loạt trận nhỏ trước khi trung đoàn Germania tiến vào tỉnh Zeeland của Hà Lan vào ngày 14 tháng 5. Phần còn lại của Sư đoàn SS-VT thì nhập vào mặt trận phía bắc chống lại quân phòng thủ ở Antwerp. Cũng trong ngày hôm đó, Leibstandarte tiến vào Rotterdam. Sau khi Rotterdam đầu hàng, Leibstandarte rời đi hướng tới Den Haag (La Hay), nơi họ đến vào ngày 15 tháng 5 và bắt 3.500 binh sĩ Hà Lan làm tù binh..

Tại Pháp, Sư đoàn SS Totenkopf tham gia vào cuộc phản công thiết giáp duy nhất của phe Đồng Minh trong Trận chiến nước Pháp. Ngày 21 tháng 5, các đơn vị thuộc Lữ đoàn xe tăng 1 của Anh, được Sư đoàn bộ binh số 50 (Northumbrian) hỗ trợ, tham chiến trong Trận Arras. Ở cánh nam của Sư đoàn xe tăng 7, Sư đoàn Totenkopf bị đánh tan, và phát hiện ra rằng pháo chống tăng tiêu chuẩn 3,7 cm PaK 36 của họ hoàn toàn không có tác dụng trước xe tăng hạng nặng Matilda II của Anh.

Sau khi Hà Lan đầu hàng, Leibstandarte di chuyển xuống phía nam tới Pháp vào ngày 24 tháng 5. Được biên chế vào Quân đoàn xe tăng XIX, dưới quyền tướng Heinz Guderian, họ chiếm vị trí cách Dunkirk 15 dặm về phía tây nam, dọc theo kênh Aa, đối diện tuyến phòng thủ của Đồng Minh gần Watten. Một toán trinh sát của Sư đoàn SS-VT vượt kênh tại Saint-Venant nhưng bị xe tăng Anh tiêu diệt. Một lực lượng lớn hơn của Sư đoàn SS-VT sau đó vượt kênh, lập đầu cầu ở Saint-Venant, cách Dunkirk 30 dặm. Đêm đó, OKW ra lệnh dừng tiến công, khi Lực lượng Viễn chinh Anh bị dồn vào thế kẹt. Leibstandarte dừng lại nghỉ qua đêm. Tuy nhiên, ngày hôm sau, bất chấp mệnh lệnh của Hitler, Sepp Dietrich ra lệnh cho tiểu đoàn 3 vượt kênh, chiếm các điểm cao phía bên kia – nơi các trinh sát pháo binh Anh đang điều chỉnh hoả lực vào trung đoàn. Họ tấn công chiếm điểm cao và đẩy lui các trinh sát pháo binh. Thay vì bị khiển trách vì hành động bất tuân, Dietrich lại được trao Huân chương Thập tự Hiệp sĩ Thập tự Sắt. Cùng ngày, quân Anh tấn công Saint-Venant, buộc Sư đoàn SS-VT phải rút lui.

Ngày 26 tháng 5, quân Đức tiếp tục tiến công. Ngày 27 tháng 5, Trung đoàn Deutschland của Sư đoàn SS-VT tới tuyến phòng thủ của Đồng Minh trên sông Leie, gần Merville. Họ chiếm được đầu cầu bên kia sông, rồi chờ Sư đoàn SS Totenkopf tới để che sườn. Nhưng đến trước lại là một đơn vị xe tăng Anh, đột nhập vào vị trí của họ. Sư đoàn SS-VT vẫn trụ vững trước lực lượng xe tăng Anh, lực lượng này đã tiến được tới cách sở chỉ huy của chỉ huy trung đoàn Felix Steiner chỉ khoảng 5 mét. Chỉ khi trung đội pháo chống tăng (Panzerjäger) của Totenkopf đến nơi, Trung đoàn Deutschland mới thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt và giữ được đầu cầu.

Cũng trong ngày hôm đó, khi Sư đoàn SS Totenkopf tiến gần Merville, họ vấp phải sự kháng cự quyết liệt từ các đơn vị thuộc Quân đội Anh khiến đà tiến bị chậm lại. Đại đội 4 của Sư đoàn SS Totenkopf sau đó gây ra vụ thảm sát Le Paradis, nơi 97 binh sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Royal Norfolk của Anh bị bắn bằng súng máy sau khi đã đầu hàng; những người sống sót bị đâm chết bằng lưỡi lê. Chỉ có hai người sống sót.

Đến ngày 28 tháng 5, Leibstandarte đã chiếm được làng Wormhout, chỉ cách Dunkirk mười dặm. Sau khi đầu hàng, binh sĩ Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Royal Warwickshire, cùng với một số đơn vị khác (bao gồm cả binh sĩ Pháp), bị dẫn tới một nhà kho ở La Plaine au Bois, gần Wormhout và Esquelbecq. Tại đây, binh lính Tiểu đoàn 2 của Leibstandarte đã gây ra vụ thảm sát Wormhout, sát hại 81 tù binh Anh và Pháp.

Đến ngày 30 tháng 5, quân Anh bị dồn về Dunkirk, và các sư đoàn SS tiếp tục tiến sâu vào Pháp. Leibstandarte tiến tới Saint-Étienne, cách Paris 250 dặm về phía nam, và là đơn vị tiến xa nhất vào lãnh thổ Pháp. Ngày hôm sau, chiến sự hầu như đã kết thúc. Quân Đức vào Paris mà không gặp kháng cự vào ngày 14 tháng 6, và nước Pháp chính thức đầu hàng vào ngày 25 tháng 6. Hitler bày tỏ sự hài lòng với màn trình diễn của Leibstandarte tại Hà Lan và Pháp, nói với họ: "Từ nay trở đi, đó sẽ là vinh dự của các anh, những người mang tên ta, được dẫn đầu mọi cuộc tiến công của người Đức."

Mở rộng và đặt tên năm 1940

Ngày 19 tháng 7 năm 1940, Hitler đọc diễn văn trước Reichstag (Quốc hội Đức ), trong đó ông tổng kết chiến dịch ở mặt trận phía tây và ca ngợi các lực lượng Đức tham chiến. Khi nhắc đến các đơn vị thuộc LSSAH và SS-VT tham gia chiến đấu, ông dùng cụm từ "Waffen-SS" . Từ ngày đó trở đi, thuật ngữ Waffen-SS trở thành tên gọi chính thức cho các đơn vị tác chiến của SS. Himmler giành được sự chấp thuận để Waffen-SS thành lập bộ chỉ huy riêng của mình, Kommandoamt der Waffen-SS trực thuộc SS Führungshauptamt, được thành lập vào tháng 8 năm 1940. Cơ quan này nắm quyền chỉ huy SS-VT (Sư đoàn Leibstandarte và Sư đoàn Verfügungs, lúc này đổi tên thành Reich) và các trung đoàn vũ trang của SS-TV (Sư đoàn Totenkopf cùng với một số Standarte Totenkopf độc lập).

Năm 1940, tham mưu trưởng SS Gottlob Berger trình bày với Himmler kế hoạch tuyển mộ tình nguyện viên tại các vùng lãnh thổ bị chiếm, từ cộng đồng người Đức và các dân tộc "gốc Đức". Ban đầu, Hitler còn hoài nghi về việc tuyển mộ người nước ngoài, nhưng sau đó đã bị Himmler và Berger thuyết phục. Ông cho phép thành lập một sư đoàn mới gồm binh sĩ là người nước ngoài, do sĩ quan Đức chỉ huy. Đến tháng 6 năm 1940, các tình nguyện viên Đan Mạch và Na Uy tập hợp lại thành Trung đoàn SS Nordland, còn các tình nguyện viên Hà Lan và Flemish (vùng Flanders, Bỉ) hợp thành Trung đoàn SS Westland. Hai trung đoàn này, cùng với Trung đoàn Germania (chuyển từ Sư đoàn Reich sang), tạo thành Sư đoàn SS Wiking Số lượng tình nguyện viên đông đến mức SS phải mở một trại huấn luyện mới dành riêng cho lực lượng tình nguyện nước ngoài tại Sennheim vùng Alsace-Lorraine.

1941

Áp phích tuyển mộ

Vào đầu năm mới, Sư đoàn Polizei được đưa dưới sự quản lý của FHA, dù phải đến năm 1942 đơn vị này mới được sáp nhập chính thức vào Waffen-SS Đồng thời, các Totenkopf-Standarten, ngoại trừ ba đơn vị cấu thành TK-Division, đã mất tên gọi và phù hiệu "Đầu lâu" (Death's Head) và được phân loại lại thành các trung đoàn SS-Infanterie- (hay Kavallerie-) Regimente. Trung đoàn số 11 được chuyển sang Sư đoàn Reich để thay thế Germania; số còn lại được gom thành ba lữ đoàn độc lập và một cụm chiến đấu tại Na Uy.

Đến mùa xuân năm 1941, Waffen-SS có quy mô tương đương sáu hoặc bảy sư đoàn: các sư đoàn Reich, Totenkopf, Polizei, và Wiking, Kampfgruppe (về sau là sư đoàn) Nord, cùng với Leibstandarte, Lữ đoàn Bộ binh SS số 1, Lữ đoàn Bộ binh SS số 2 và Lữ đoàn Kỵ binh SS.

Vùng Balkan

Binh sĩ Sư đoàn Leibstandarte SS Adolf Hitler tiến vào Balkan, 1941

Tháng 3 năm 1941, một cuộc phản công lớn của Ý chống lại lực lượng Hy Lạp thất bại, và Đức đã đến hỗ trợ đồng minh. Chiến dịch Marita bắt đầu vào ngày 6 tháng 4 1941, với việc quân Đức xâm lược Hy Lạp qua Bulgaria và Nam Tư nhằm bảo đảm sườn phía nam của họ.

Sư đoàn Reich được lệnh rời Pháp để tiến tới Romania, còn Leibstandarte được lệnh tới Bulgaria. Leibstandarte, trực thuộc Quân đoàn Thiết giáp XL, tiến về phía tây rồi phía nam từ Bulgaria vào vùng núi, và đến ngày 9 tháng 4 đã tới Prilep ở Nam Tư, cách biên giới Hy Lạp 30 dặm. Ở phía bắc, sư đoàn Reich cùng Quân đoàn Thiết giáp XLI vượt qua biên giới Romania và tiến về Belgrade, thủ đô Nam Tư. Fritz Klingenberg, một chỉ huy đại đội thuộc Reich, dẫn quân tiến vào Belgrade; một nhóm nhỏ ở mũi tiến công đã tiếp nhận việc đầu hàng của thành phố vào ngày 13 tháng 4. Vài ngày sau, Quân đội Hoàng gia Nam Tư đầu hàng.

Lúc này Leibstandarte đã vượt biên giới vào Hy Lạp và ngày 10 tháng 4 họ giao chiến với Sư đoàn Úc số 6 trong Trận đèo Klidi. Sau 48 giờ, họ chiến đấu để giành quyền kiểm soát các điểm cao, nhiều lần diễn ra các cuộc cận chiến, và cuối cùng giành được ưu thế khi chiếm được Điểm cao 997, mở thông con đèo và cho phép Lục quân Đức tiến sâu vào Hy Lạp. Chiến thắng này được OKW khen ngợi: trong mệnh lệnh trong ngày, họ được ca ngợi vì "tinh thần tấn công không lay chuyển" và được nói rằng "chiến thắng lần này đánh dấu đối với Leibstandarte một trang danh dự mới và không thể phai mờ trong lịch sử của họ."

Leibstandarte tiếp tục tiến công vào ngày 13 tháng 5. Khi Tiểu đoàn Trinh sát dưới quyền Kurt Meyer bị quân Hy Lạp phòng thủ đèo Klisura bắn phá dữ dội, họ đã chọc thủng phòng tuyến và bắt 1.000 tù binh chiến tranh, với tổn thất chỉ sáu người chết và chín người bị thương. Ngày hôm sau, Meyer chiếm Kastoria và bắt thêm 11.000 tù binh. Đến ngày 20 tháng 5, Leibstandarte đã cắt đường rút của quân Hy Lạp tại Metsovo và tiếp nhận lời đầu hàng của Quân đội Epirus–Macedonia của Hy Lạp. Như một phần thưởng, Leibstandarte trên danh nghĩa được đổi thành một sư đoàn cơ giới hóa đầy đủ, dù đến khi chiến dịch Liên Xô bắt đầu thì rất ít thành phần bổ sung được thêm vào, và "sư đoàn" trên thực tế vẫn chỉ là một lữ đoàn tăng cường.

Liên Xô

Chiến dịch Barbarossa, kế hoạch xâm lược Liên Xô của Đức, bắt đầu ngày 22 June 1941, và tất cả các đơn vị Waffen-SS đều tham gia (bao gồm Sư đoàn Reich, vốn đến mùa thu 1941 được đổi tên chính thức thành Das Reich).

Thành viên Einsatzgruppen tại một địa điểm hành quyết người Do Thái ở làng Zboriv, Ukraine, 1941

Sư đoàn SS Nord, đóng ở miền bắc Phần Lan, tham gia Chiến dịch Arctic Fox cùng Quân đội Phần Lan và giao chiến tại Trận Salla. Trước lực lượng Liên Xô mạnh, họ chịu 300 người chết và 400 người bị thương chỉ trong hai ngày đầu của cuộc xâm lược. Rừng rậm dày và khói dày từ các vụ cháy rừng làm quân lính mất phương hướng và các đơn vị của sư đoàn tan rã hoàn toàn. Đến cuối năm 1941, Nord chịu thương vong nghiêm trọng. Trong mùa đông 1941–42, họ nhận quân bổ sung từ nguồn tuyển mộ chung của Waffen-SS, được cho là trẻ hơn và được huấn luyện tốt hơn so với lực lượng SS ban đầu của đơn vị, vốn phần lớn được rút từ các Totenkopfstandarten (lính gác trại tập trung của Đức Quốc xã).

Các sư đoàn và lữ đoàn còn lại của Waffen-SS có kết quả chiến đấu tốt hơn. Các sư đoàn Totenkopf và Polizei được biên chế cho Cụm Tập đoàn quân Bắc, với nhiệm vụ tiến qua các nước Baltic và hướng tới Leningrad. Sư đoàn Das Reich thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và tiến về Moscow. Các sư đoàn Leibstandarte và Wiking thuộc Cụm Tập đoàn quân Nam, tiến về Ukraine và thành phố Kiev.

Cuộc xâm lược Liên Xô ban đầu tiến triển thuận lợi, nhưng cái giá mà Waffen-SS phải trả là rất lớn: đến cuối tháng 10, Leibstandarte chỉ còn một nửa quân số do chiến đấu với đối phương và do bệnh kiết lỵ lan rộng trong hàng ngũ. Das Reich mất 60% quân số và vẫn còn phải tham gia Trận Moscow. Sau đó đơn vị này còn bị "đánh tơi tả" trong đợt phản công của Liên Xô. Trung đoàn Der Führer bị giảm xuống còn 35 người, từ 2.000 người khi chiến dịch bắt đầu vào tháng 6. Tổng cộng, Waffen-SS đã chịu 43.000 thương vong.

Trong khi Leibstandarte và các sư đoàn SS chiến đấu ở tuyến đầu, thì ở hậu phương lại là một câu chuyện khác. Lữ đoàn Bộ binh SS số 1 và số 2 (được thành lập từ số lính gác trại tập trung dư thừa của SS-TV) và Lữ đoàn Kỵ binh SS tiến vào Liên Xô phía sau các đạo quân đang tiến công. Ban đầu, họ chiến đấu chống du kích Liên Xô và cắt đứt các đơn vị Hồng quân ở hậu phương của Cụm Tập đoàn quân Nam, bắt 7.000 tù binh chiến tranh; nhưng từ giữa tháng 8 năm 1941 đến cuối năm 1942, họ được giao cho Văn phòng an ninh do Reinhard Heydrich đứng đầu. Các lữ đoàn lúc này được dùng cho an ninh và cảnh sát hậu phương, và không còn nằm dưới quyền chỉ huy của lục quân hay Waffen-SS. Vào mùa thu năm 1941, họ chuyển vai trò chống du kích cho các đơn vị khác và tích cực tham gia vào Holocaust. Khi hỗ trợ Einsatzgruppen, họ tham gia vào việc tiêu diệt người Do Thái tại Liên Xô, lập các đội xử bắn khi cần. Ba lữ đoàn này chịu trách nhiệm cho cái chết của hàng chục nghìn người vào cuối năm 1941.[

Kỵ binh của Lữ đoàn Kỵ binh SS, tháng 9 năm 1941

Vì cơ động hơn và có khả năng tiến hành các chiến dịch quy mô lớn tốt hơn, Lữ đoàn Kỵ binh SS có 2 trung đoàn với quân số 3.500 người và đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển sang việc tiêu diệt hàng loạt người Do Thái. Mùa hè năm 1941, Himmler giao Hermann Fegelein chỉ huy cả hai trung đoàn. Ngày 19 tháng 7 năm 1941, Himmler đặt các trung đoàn của Fegelein dưới quyền chỉ huy chung của HSSPF Erich von dem Bach-Zelewski để tiến hành việc "càn quét có hệ thống" các đầm lầy Pripyat, một chiến dịch nhằm gom bắt và tiêu diệt người Do Thái, du kích và dân thường trong khu vực thuộc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia.

Fegelein chia khu vực cần càn quét thành hai phần, bị chia cắt bởi sông Pripyat: Trung đoàn số 1 đảm nhiệm nửa phía bắc, Trung đoàn số 2 đảm nhiệm phía nam. Các trung đoàn tiến từ đông sang tây trong khu vực được giao và nộp báo cáo hằng ngày về số người bị giết và bị bắt. Đến ngày 1 tháng 8, Trung đoàn Kỵ binh SS số 1 dưới quyền Gustav Lombard chịu trách nhiệm cho cái chết của 800 người; đến ngày 6 tháng 8, tổng số này đạt 3.000 "người Do Thái và quân du kích". Trong những tuần sau đó, quân của trung đoàn dưới quyền Lombard giết ước tính 11.000 người Do Thái và hơn 400 binh sĩ Hồng quân bị tản mát. Vì vậy, các đơn vị của Fegelein nằm trong số những đơn vị đầu tiên trong Holocaust xóa sổ hoàn toàn các cộng đồng Do Thái. Báo cáo tác chiến cuối cùng của Fegelein đề ngày 18 tháng 9 năm 1941 nêu rằng họ đã giết 14.178 người Do Thái, 1.001 du kích, 699 binh sĩ Hồng quân; bắt 830 tù binh và chịu tổn thất 17 chết, 36 bị thương và 3 mất tích. Sử gia Henning Pieper ước tính số người Do Thái bị giết thực tế gần hơn với con số 23.700.

1942

Đợt mở rộng năm 1942

Cuộc tấn công của Hồng quân ở phía nam hồ Ilmen, 7 tháng một – 21 tháng hai năm 1942, tạo ra Cái túi Demyansk
Binh sĩ của Sư đoàn SS số 3 Totenkopf trên Mặt trận phía Đông, 1942

Năm 1942, Waffen-SS tiếp tục được mở rộng và một sư đoàn mới được thành lập vào tháng 3. Đến nửa sau năm 1942, số người nước ngoài gia nhập ngày càng tăng, trong đó nhiều người không phải là tình nguyện viên. Sư đoàn Sơn cước Tình nguyện SS số 7 Prinz Eugen được tuyển từ Volksdeutsche (người Đức theo sắc tộc) bị gọi nhập ngũ dưới đe dọa trừng phạt bởi giới lãnh đạo Đức tại địa phương ở Croatia, Serbia, Hungary và Romania, và được dùng cho các hoạt động chống du kích ở vùng Balkan. Himmler chấp thuận việc áp dụng nghĩa vụ phục vụ bắt buộc chính thức đối với Volksdeutsche tại vùng Serbia bị Đức chiếm đóng. Cùng thời điểm đó, một sư đoàn mới khác cũng được thành lập khi Lữ đoàn Kỵ binh SS được dùng làm khung nòng cốt (cadre) để thành lập Sư đoàn Kỵ binh SS số 8 Florian Geyer.

Các sư đoàn Panzergrenadier

Các sư đoàn tuyến đầu của Waffen-SS đã chịu tổn thất trong mùa đông 1941–1942 và trong đợt phản công của Liên Xô được rút về Pháp để hồi phục và tái tổ chức thành các sư đoàn Panzergrenadier. Nhờ nỗ lực của Himmler và Hausser, chỉ huy mới của Quân đoàn Thiết giáp SS (SS Panzer Corps), ba sư đoàn Panzergrenadier SS gồm Leibstandarte, Das Reich, và Totenkopf sẽ được tổ chức với một trung đoàn xe tăng đầy đủ, thay vì chỉ một tiểu đoàn. Điều này có nghĩa là các sư đoàn Panzergrenadier SS về thực chất là sư đoàn thiết giáp đủ quân, chỉ khác tên gọi. Mỗi sư đoàn được bổ sung chín xe tăng Tiger I, được biên chế thành các đại đội thiết giáp hạng nặng.

Vây hãm Demyansk

Cuộc tấn công của Liên Xô vào tháng 1 năm 1942 đã kẹt một số sư đoàn Đức trong "cái túi" Demyansk từ tháng hai đến tháng tư 1942; Sư đoàn SS số 3 Totenkopf là một trong các sư đoàn bị Hồng quân bao vây. Hồng quân giải phóng Demyansk vào ngày 1 tháng 3 năm 1943 khi quân Đức rút lui. "Vì năng lực chỉ huy xuất sắc và các trận chiến đặc biệt ác liệt của Totenkopf", Eicke được trao Lá sồi cho Huân chương Chữ thập Hiệp sĩ vào ngày 20 tháng 5 năm 1942.

1943

Đợt mở rộng năm 1943

Người Hồi giáo Bosnia (sắc tộc Bosniak), thành viên Sư đoàn Handschar — sư đoàn Waffen-SS đa sắc tộc đầu tiên không thuộc nhóm Germanic, năm 1943
Giám mục Công giáo Đông phương Joseph Iosafat Kotsilovsky ban phước cho binh sĩ của Sư đoàn Galician

Waffen-SS tiếp tục mở rộng trong năm 1943: vào tháng 2, Sư đoàn Thiết giáp SS số 9 Hohenstaufen và "sư đoàn chị em" của nó là Sư đoàn Thiết giáp SS số 10 Frundsberg được thành lập tại Pháp. Tiếp theo vào tháng 7 là Sư đoàn Panzergrenadier Tình nguyện SS số 11 Nordland, được lập từ các tình nguyện viên Na Uy và Đan Mạch. Tháng 9 chứng kiến sự ra đời của Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend, sử dụng tình nguyện viên từ Đoàn Thanh niên Hitler. Himmler và Berger đã thuyết phục Hitler thành công để thành lập một sư đoàn người Hồi giáo Bosnia; do đó Sư đoàn Núi Waffen số 13 của SS Handschar — sư đoàn đầu tiên không thuộc nhóm Germanic — được thành lập để chiến đấu chống lại lực lượng du kích Nam Tư của Josip Broz Tito. Sau đó là Sư đoàn Grenadier Waffen số 14 của SS, được lập từ các tình nguyện viên vùng Galicia ở miền tây Ukraine. Sư đoàn Grenadier Waffen số 15 của SS được thành lập năm 1943, sử dụng nghĩa vụ quân sự bắt buộc tại Ostland. Sư đoàn mới cuối cùng của năm 1943 là Sư đoàn Panzergrenadier SS số 16 Reichsführer-SS, được lập bằng cách dùng Lữ đoàn Xung kích Reichsführer SS làm khung nòng cốt. Đến cuối năm, Waffen-SS tăng quy mô từ tám sư đoàn và một số lữ đoàn lên 16 sư đoàn. Đến năm 1943, Waffen-SS không còn có thể tự nhận là một lực lượng chiến đấu "tinh nhuệ" nữa. Việc tuyển mộ và động viên theo hướng "mở rộng số lượng hơn chất lượng" diễn ra, và nhiều đơn vị "nước ngoài" chỉ phù hợp cho nhiệm vụ hậu phương.

Kharkov

Xe tăng Đức tại Kharkov, 1943

Trên Mặt trận phía Đông, quân Đức chịu một thất bại nặng nề khi Tập đoàn quân số 6 bị tiêu diệt trong Trận Stalingrad. Hitler ra lệnh đưa Quân đoàn Thiết giáp SS trở lại Mặt trận phía Đông để phản công với mục tiêu là thành phố Kharkov. Ngày 19 tháng 2, Quân đoàn Thiết giáp SS đang trong tình trạng rút lui toàn diện sau khi bị Tập đoàn quân số 6 của Liên Xô tấn công, thì nhận được lệnh phản công. Bất chấp mệnh lệnh của Hitler yêu cầu "giữ vững và chiến đấu đến chết", Hausser rút quân trước Hồng quân. Trong cuộc phản công của Thống chế Erich von Manstein, Quân đoàn Thiết giáp SS, không có yểm trợ từ Luftwaffe hay các đội hình Đức lân cận, đã chọc thủng phòng tuyến Liên Xô và tiến về Kharkov. Dù có lệnh phải bao vây Kharkov từ phía bắc, Quân đoàn Thiết giáp SS lại tấn công trực diện trong Trận Kharkov lần thứ ba vào ngày 11 tháng 3. Điều này dẫn đến bốn ngày giao tranh "nhà kề nhà" trước khi Kharkov được Sư đoàn Leibstandarte chiếm lại vào ngày 15 March. Hai ngày sau, quân Đức tái chiếm Belgorod, tạo ra phần lồi mặt trận mà đến July 1943 đã dẫn tới Trận Kursk. Cuộc tấn công của Đức khiến Hồng quân thiệt hại ước tính 70.000 thương vong, nhưng các trận đánh nhà kề nhà ở Kharkov đặc biệt đẫm máu đối với Quân đoàn Thiết giáp SS: họ mất khoảng 44% quân số vào thời điểm chiến dịch kết thúc cuối tháng 3.

Cuộc nổi dậy Warsaw Ghetto

Chú thích gốc từ Báo cáo Stroop: "Người chỉ huy chiến dịch lớn." SS-Brigadeführer Jürgen Stroop (ở giữa) quan sát các dãy nhà bốc cháy.

Cuộc khởi nghĩa Khu Do Thái Warsaw là một cuộc nổi dậy của người Do Thái diễn ra trong Khu Do Thái Warsaw từ 19 tháng 4 đến 16 tháng 5, nhằm ngăn chặn việc đưa những người còn lại trong khu Do Thái đến trại hành quyết Treblinka. Các đơn vị Waffen-SS tham gia gồm 821 lính Panzergrenadier Waffen-SS đến từ năm tiểu đoàn dự bị và một tiểu đoàn kỵ binh dự bị.

Kursk

Trong Trận Kursk, Quân đoàn Thiết giáp SS được đổi tên thành Quân đoàn Thiết giáp SS số II và thuộc biên chế Tập đoàn quân Thiết giáp số 4. II SS Panzer Corps là mũi nhọn tấn công xuyên qua các tuyến phòng ngự Liên Xô. Cuộc tấn công tiến sâu được 35 km (22 mi) rồi bị Tập đoàn quân Xe tăng số 1 của Liên Xô chặn lại.

Các lực lượng dự bị của Liên Xô đã được điều xuống phía nam để phòng thủ trước đòn tấn công của Quân đoàn Thiết giáp số III của Đức. Khi mất lực lượng dự bị, bất kỳ hy vọng nào về việc gây ra một thất bại lớn cho II SS Panzer Corps cũng chấm dứt. Tuy nhiên, các mũi tiến công của Đức sau đó vẫn thất bại — dù tổn thất cực lớn, các tập đoàn quân xe tăng Liên Xô vẫn giữ vững phòng tuyến và ngăn Quân đoàn Thiết giáp SS số II tạo ra đột phá như kỳ vọng.

Đại đội Tiger I của sư đoàn Das Reich trong Trận Kursk, tháng 7 năm 1943

Việc không thể phá vỡ khu vực chiến thuật của Liên Xô, cùng với nhu cầu phải dừng cuộc tấn công của Tập đoàn quân số 9 của Đức ở "vai" phía bắc của phần lồi Kursk do Chiến dịch Kutuzov, đã góp phần khiến Hitler quyết định ngừng chiến dịch. Một đòn tấn công song song của Hồng quân nhằm vào Tập đoàn quân số 6 mới của Đức trên sông Mius ở phía nam Kharkov buộc Đức phải rút các lực lượng dự bị vốn dành để khai thác thành công ở "vai" phía nam Kursk. OKW cũng phải điều một số quân Đức từ Mặt trận phía Đông sang tăng cường cho mặt trận Địa Trung Hải sau khi quân Đồng minh đổ bộ Sicily. Ngày 17 tháng 7, Hitler hủy chiến dịch và ra lệnh rút lui. Liên Xô không bị đánh bại, và thế chủ động chiến lược chuyển sang Hồng quân. Quân Đức buộc phải chuyển sang phòng ngự khi Hồng quân bắt đầu giải phóng miền tây nước Nga.

Italy

Sư đoàn Leibstandarte sau đó được điều sang Ý để giúp ổn định tình hình tại đây, sau khi Benito Mussolini bị chính phủ Badoglio phế truất và phe Đồng minh đổ bộ lên Sicily, sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của chiến dịch Ý. Sư đoàn này để lại phần xe thiết giáp và trang bị, và số đó được chuyển cho các sư đoàn Das Reich và Totenkopf. Sau khi Ý đầu hàng và chính quyền Ý sụp đổ vào ngày 8 tháng 9 năm 1943, Leibstandarte được lệnh bắt đầu tước vũ khí các đơn vị Ý ở gần. Họ cũng có nhiệm vụ canh giữ các nút giao thông đường bộ và đường sắt trọng yếu ở miền Bắc nước Ý và đã tham gia một số cuộc đụng độ với lực lượng du kích. Mọi việc diễn ra khá suôn sẻ, ngoại trừ một cuộc đụng độ ngắn với quân Ý đóng tại Parma vào ngày 9 tháng 9. Đến ngày 19 tháng 9, toàn bộ lực lượng Ý ở vùng đồng bằng sông Po đã bị tước vũ khí, nhưng OKW nhận được báo cáo rằng một số thành phần của Tập đoàn quân số 4 của Ý đang tập hợp lại ở Piedmont, near the French border. gần biên giới Pháp. Tiểu đoàn cơ giới số 3 của Trung đoàn SS Panzergrenadier số 2 do Joachim Peiper chỉ huy được phái đi để tước vũ khí các đơn vị này. Khi đến tỉnh Cuneo, Peiper gặp một sĩ quan Ý cảnh báo rằng lực lượng của họ sẽ tấn công nếu đơn vị của Peiper không rời khỏi tỉnh ngay lập tức. Peiper từ chối, và quân Ý đã tấn công. Tiểu đoàn của Peiper đánh bại quân Ý, rồi sau đó pháo kích và đốt cháy ngôi làng Boves, khiến ít nhất 34 thường dân thiệt mạng. Sau đó, tiểu đoàn của Peiper tiếp tục tước vũ khí các lực lượng Ý còn lại trong khu vực.

Trong khi Leibstandarte hoạt động ở miền Bắc, Sư đoàn SS số 16 Reichsführer-SS cử một cụm tác chiến nhỏ để kiềm chế cuộc đổ bộ của Đồng minh tại Anzio vào tháng 1 năm 1944. Đến tháng 3, phần lớn Lữ đoàn xung kích tình nguyện Ý số 1 (tiếng Đức: 1st Italienische Freiwilligen Sturmbrigade; tiếng Ý: Brigata d'Assalto, Volontari) được điều tới đầu cầu Anzio, nơi họ chiến đấu לצד bên cạnh các đồng minh Đức, nhận được các báo cáo đánh giá thuận lợi nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Để ghi nhận thành tích của họ, Himmler tuyên bố đơn vị này được sáp nhập hoàn toàn vào Waffen-SS.

1944

Mở rộng lực lượng năm 1944

Sau D-Day, Quân đoàn Ấn Độ được chuyển từ Heer sang Waffen-SS.

Waffen-SS tiếp tục mở rộng trong năm 1944. Tháng 1 chứng kiến việc thành lập Sư đoàn Waffen-SS Grenadier số 19 (Sư đoàn Latvia số 2), được hình thành từ hai lữ đoàn bộ binh SS làm khung nòng cốt, cùng lính nghĩa vụ Latvia. Sư đoàn Waffen-SS Grenadier số 20 (Sư đoàn Estonia số 1) được thành lập thông qua tổng động viên vào tháng 2 năm 1944, dựa trên khung nòng cốt của Lữ đoàn Tình nguyện SS Estonia số . Sư đoàn Sơn cước Waffen-SS số 21 Skanderbeg (Sư đoàn Albania số 1) được thành lập vào tháng 3 năm 1944 từ các tình nguyện viên Albania và Kosovo; cũng như các "đơn vị phương Đông" khác, lực lượng này được dự định dùng để chống lại các "lực lượng bất quy tắc". Một sư đoàn kỵ binh Waffen-SS thứ hai được thành lập vào tháng 4 năm 1944: Sư đoàn Kỵ binh Tình nguyện SS số 22 Maria Theresia. Phần lớn quân số là lính nghĩa vụ Volksdeutsche (người gốc Đức) trong Quân đội Hungary, được chuyển sang Waffen-SS theo một thỏa thuận giữa Đức và Hungary. Tiếp theo là Sư đoàn Panzergrenadier Tình nguyện SS số 23 Nederland, được thành lập từ Lữ đoàn Panzergrenadier Tình nguyện SS số 4 Nederland, nhưng trên thực tế nó chưa bao giờ vượt quá quy mô của một lữ đoàn lớn. Sư đoàn Sơn cước Waffen-SS số 24 Karstjäger là một sư đoàn khác cũng chưa bao giờ vượt quá quy mô lữ đoàn, gồm chủ yếu các tình nguyện viên người gốc Đức từ Ý và Nam Tư, cùng các tình nguyện viên từ Slovenia, Croatia, Serbia và Ukraine. Họ chủ yếu tham gia chiến đấu chống du kích ở vùng Kras thuộc dãy Alps, tại khu vực giáp ranh Slovenia, Ý và Áo; địa hình núi non đòi hỏi lính sơn cước và trang bị chuyên dụng. Sau đó là hai sư đoàn Hungary: Sư đoàn Waffen-SS Grenadier số 25 Hunyadi (Sư đoàn Hungary số 1) và Sư đoàn Waffen-SS Grenadier số 26 (Sư đoàn Hungary số 2). Hai sư đoàn này được thành lập dưới thẩm quyền của Bộ trưởng Quốc phòng Hungary theo đề nghị của Himmler. Một trung đoàn từ Quân đội Hungary được lệnh gia nhập, nhưng phần lớn quân số gồm các tình nguyện viên Hungary và Romania.

Các thành viên Waffen-SS đứng trước một xe tăng ngụy trang ở Pháp, tháng 6 năm 1944

Sư đoàn SS Langemarck được thành lập tiếp theo vào tháng 10 năm 1944, từ các tình nguyện viên Flemish được bổ sung vào Lữ đoàn Xung kích Tình nguyện SS số 6 Langemarck, nhưng một lần nữa nó cũng chỉ ở mức một lữ đoàn lớn. Lữ đoàn Xung kích Tình nguyện SS số 5 Wallonien cũng được nâng cấp thành Sư đoàn SS Wallonien, nhưng thực tế cũng không bao giờ vượt quá quy mô một lữ đoàn lớn. Kế hoạch chuyển Lữ đoàn Kaminski thành Sư đoàn Grenadier Waffen số 29 của SS RONA (v Nga số 1) bị hủy bỏ sau khi chỉ huy của họ, Bronislav Kaminski, bị xử tử; thay vào đó, Lữ đoàn Lựu đạn Waffen của SS (Ý số 1) trở thành Sư đoàn Lựu đạn Waffen số 29 của SS (Sư đoàn Ý số 1). Sư đoàn Grenadier Waffen số 30 của SS (Sư đoàn Nga số 2) được thành lập từ Schutzmannschaft-Brigade Siegling. Sư đoàn mới cuối cùng vào cuối năm 1944 là Sư đoàn Grenadier Tình nguyện SS số 31, được thành lập từ người Hungary và lực lượng Volksdeutsche bị động viên.

Tháng 11 năm 1944, Sư đoàn Cossack số 1, vốn do Lục quân Đức tuyển mộ ban đầu vào năm 1943, được chuyển sang cho Waffen-SS tiếp quản.SS Führungshauptamt (Văn phòng Chỉ huy Tác chiến SS) tái tổ chức sư đoàn này và sử dụng thêm các đơn vị chiến đấu Cossack từ quân đội và lực lượng Ordnungspolize để lập ra Sư đoàn Cossack số 2. Cả hai sư đoàn được đặt dưới quyền chỉ huy của Quân đoàn Kỵ binh Cossack SS số XV vào ngày 1 tháng 2 năm 1945. Cùng ngày, với việc chuyển Trung đoàn Cossack-Stamm Tình nguyện số 5 từ Sư đoànFreiwilligen-Stamm, việc tiếp quản các đơn vị Cossack bởi Waffen-SS được xem là hoàn tất.

Túi vây Korsun-Cherkassy

Túi vây Korsun-Cherkassy được hình thành vào tháng 1 năm 1944 khi các đơn vị của Quân đoàn 8 rút lui về Tuyến Panther-Wotan, một vị trí phòng thủ dọc theo Sông Dnieper ở Ukraine. Hai quân đoàn đã bị bỏ lại để giữ một điểm lồi ăn sâu vào phòng tuyến của Liên Xô khoảng 100 kilômét (62 mi). Phương diện quân Ukraine số 1 và số 2 của Hồng quân đã bao vây túi này. Bị mắc kẹt trong túi vây là tổng cộng sáu sư đoàn Đức, bao gồm Sư đoàn SS số 5 Wiking, cùng với Lữ đoàn Xung kích Tình nguyện SS số 5 Wallonien và Tiểu đoàn SS Estonia Narwa. Quân Đức đã phá vây nhờ sự phối hợp với các lực lượng Đức khác từ bên ngoài, bao gồm Sư đoàn Panzer SS số 1 Leibstandarte. Cứ khoảng ba người bị bao vây thì có hai người trốn thoát thành công khỏi túi vây.

Cuộc đột kích vào Drvar

Cuộc đột kích vào Drvar, mật danh là Chiến dịch Rösselsprung, là một cuộc tấn công của lực lượng Waffen-SS và Luftwaffe vào cấu trúc chỉ huy của lực lượng du kích Nam Tư. Mục tiêu của họ là tiêu diệt Tổng hành dinh do du kích kiểm soát và bắt giữ Tito. Cuộc tấn công diễn ra vào tháng 4 và tháng 5 năm 1944. Các đơn vị Waffen-SS tham gia bao gồm Tiểu đoàn Nhảy dù SS số 500 và Sư đoàn SS số 7 Prinz Eugen.

Cuộc tấn công bắt đầu khi một nhóm nhỏ nhảy dù xuống Drvar để chiếm giữ các bãi đổ bộ cho lực lượng tàu lượn theo sau. Tiểu đoàn Nhảy dù SS số 500 đã chiến đấu mở đường tới trụ sở hang động của Tito và đấu súng dữ dội, gây ra nhiều thương vong cho cả hai bên. Vào thời điểm quân Đức xâm nhập được vào hang, Tito đã trốn thoát. Khi trận chiến kết thúc, chỉ còn 200 người thuộc Tiểu đoàn Nhảy dù SS số 500 là không bị thương.

Các quốc gia Baltic

Tại Estonia, Trận Narva bắt đầu vào tháng 2. Trận đánh có thể chia thành hai giai đoạn: Trận chiến tại đầu cầu Narva từ tháng 2 đến tháng 7 và Trận chiến tại phòng tuyến Tannenberg từ tháng 7 đến tháng 9. Một số đơn vị tình nguyện và nghĩa vụ của Waffen-SS từ Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ và Estonia đã chiến đấu tại Narva. Tất cả các đơn vị này đều thuộc Quân đoàn Panzer SS số III ''Germanic'' thuộc Cụm tập đoàn quân phía Bắc, bao gồm Sư đoàn Panzergrenadier SS số 11 Nordland, Lữ đoàn Panzergrenadier Tình nguyện SS số 4 Nederland, Lữ đoàn Xung kích Tình nguyện SS số 5 Wallonien, Lữ đoàn Xung kích Tình nguyện SS số 6 Langemarck, và Sư đoàn Grenadier Waffen số 20 của SS (Estonia số 1) thuộc diện quân dịch, dưới sự chỉ huy của Obergruppenführer Felix Steiner.

Cũng nằm trong Cụm tập đoàn quân phía Bắc là Quân đoàn SS số VI, bao gồm Sư đoàn Grenadier Waffen số 15 của SS (Latvia số 1) và Sư đoàn Grenadier Waffen số 19 của SS (Latvia số 2). Các đơn vị Waffen SS Latvia và quân đội Đức đã cầm cự tại Túi vây Courland cho đến khi kết thúc chiến tranh.

Normandy

Tuyến xuất phát của Chiến dịch Spring. Các đơn vị Waffen-SS được xác định bao gồm các Sư đoàn SS số 1, 9, 10 và 12 cùng các Tiểu đoàn Thiết giáp hạng nặng SS số 101 và 102.

Chiến dịch Overlord, cuộc đổ bộ của Đồng minh vào Normandy ("Ngày D"), diễn ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944. Để chuẩn bị đối phó với cuộc đổ bộ dự kiến, Quân đoàn Thiết giáp SS số I đã được chuyển đến Septeuil ở phía tây Paris vào tháng 4 năm 1944. Quân đoàn này bao gồm Sư đoàn Thiết giáp SS số 1 Leibstandarte SS Adolf Hitler, Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend, và Sư đoàn Bộ binh Cơ giới SS số 17 Götz von Berlichingen, cùng với Sư đoàn Panzer-Lehr của lục quân được phối thuộc. Quân đoàn này là một phần của Cụm thiết giáp phía Tây do Tướng Leo Geyr von Schweppenburg chỉ huy, lực lượng dự bị thiết giáp của chiến trường phía Tây. Quân đoàn được tái cấu trúc vào ngày 4 tháng 7 năm 1944 và chỉ còn lại Sư đoàn SS số 1 Leibstandarte và Sư đoàn SS số 12 Hitlerjugend trong biên chế.

Sau cuộc đổ bộ, đơn vị Waffen-SS đầu tiên tham chiến là Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend, đơn vị này đã đến mặt trận xâm lược vào ngày 7 tháng 6, tại khu vực Caen. Cùng ngày hôm đó, họ đã gây ra Vụ thảm sát Tu viện Ardenne chống lại các tù binh chiến tranh của Lục quân Canada. Đơn vị tiếp theo đến nơi là Sư đoàn SS số 17 Götz von Berlichingen vào ngày 11 tháng 6, đơn vị này đã chạm trán với Sư đoàn Không vận 101 của Hoa Kỳ. Tiểu đoàn Thiết giáp hạng nặng SS số 101 đến sau đó để bảo vệ cánh trái của Quân đoàn Thiết giáp SS số I. Sư đoàn Thiết giáp SS số 1 Leibstandarte đến vào cuối tháng với các đơn vị tiền phương bị cuốn vào cuộc tấn công Chiến dịch Epsom của Anh.

Đơn vị Waffen-SS duy nhất khác ở Pháp vào thời điểm này là Sư đoàn Thiết giáp SS số 2 Das Reich, tại Montauban, phía bắc Toulouse. họ được lệnh tiến về phía bắc đến các bãi đổ bộ và vào ngày 9 tháng 6 đã chịu trách nhiệm về Vụ thảm sát Tulle, nơi 99 người đàn ông bị sát hại. Ngày hôm sau, họ đến ngôi làng Oradour-sur-Glane, nơi họ đã thảm sát 642 thường dân bao gồm 247 trẻ em.

Quân đoàn Thiết giáp SS số II, bao gồm các Sư đoàn Thiết giáp SS số 9 Hohenstaufen và số 10 Frundsberg cùng Tiểu đoàn Thiết giáp hạng nặng SS số 102, đã được chuyển từ Mặt trận phía Đông để dẫn đầu một cuộc tấn công nhằm tiêu diệt bàn đạp đổ bộ của Đồng minh. Tuy nhiên, quân Anh đã phát động Chiến dịch Epsom và hai sư đoàn này được đưa vào trận chiến một cách phân tán, đồng thời phát động nhiều cuộc phản công trong những ngày sau đó.

Các đợt phản công của Đức chống lại các vị trí của quân Canada-Ba Lan vào ngày 20 tháng 8 năm 1944

Nếu không có thêm bất kỳ sự tăng viện nào về quân số hay khí tài, các sư đoàn Waffen-SS không thể ngăn chặn bước tiến của Đồng minh. Cả hai sư đoàn thiết giáp SS số 1 và số 2 đều tham gia vào Chiến dịch Lüttich thất bại vào đầu tháng 8. Kết thúc diễn ra vào giữa tháng 8 khi quân đội Đức bị bao vây và mắc kẹt trong Túi Falaise, bao gồm các Sư đoàn SS số 1, 10, 12 và 17, trong khi các Sư đoàn Thiết giáp SS số 2 và số 9 được lệnh tấn công Đồi 262 từ bên ngoài để giữ cho vòng vây không bị đóng lại hoàn toàn. Đến ngày 22 tháng 8, túi Falaise đã bị đóng lại, và tất cả lực lượng Đức ở phía tây chiến tuyến Đồng minh đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Chỉ riêng trong các cuộc giao tranh quanh Đồi 262, tổng thương vong là 2.000 người tử trận và 5.000 người bị bắt làm tù binh. Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend đã mất 94% lực lượng thiết giáp, gần như toàn bộ pháo binh và 70% phương tiện cơ giới. Sư đoàn này có gần 20.000 người và 150 xe tăng trước khi chiến dịch bắt đầu, và giờ đây chỉ còn lại 300 người và 10 xe tăng.

Các binh sĩ thuộc Sư đoàn Thiết giáp SS số 12 Hitlerjugend bị bắt làm tù binh tại Normandy

Trong bối cảnh quân đội Đức đang rút lui hoàn toàn, có thêm hai đơn vị Waffen-SS nữa tham chiến tại Pháp là Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới SS số 49 và Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới SS số 51. Cả hai đều được thành lập vào tháng 6 năm

Hy Lạp

Trong khi phần lớn lực lượng Waffen-SS lúc bấy giờ đang tập trung ở Mặt trận phía Đông hoặc Normandy, Sư đoàn Bộ binh Cơ giới SS số 4 Polizei lại đóng quân tại Hy Lạp để thực hiện các nhiệm vụ an ninh nội bộ và các chiến dịch chống du kích. Vào ngày 10 tháng 6, đơn vị này đã gây ra Thảm sát Distomo; trong khoảng thời gian hai giờ, họ đã đi từng nhà và tàn sát thường dân Hy Lạp, được cho là để trả đũa một cuộc tấn công của lực lượng kháng chiến. Tổng cộng có 218 đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã bị sát hại. Theo những người sống sót, lực lượng SS đã "dùng lưỡi lê đâm chết trẻ sơ sinh ngay trong nôi, đâm phụ nữ mang thai và chặt đầu linh mục của làng."

Ý

Tại mặt trận Ý, Sư đoàn Bộ binh Cơ giới SS số 16 Reichsführer-SS, trong khi thực hiện các chiến dịch chống du kích, đã được nhớ đến nhiều hơn vì những hành động tàn bạo mà đơn vị này gây ra hơn là khả năng chiến đấu; sư đoàn đã gây ra vụ thảm sát Sant'Anna di Stazzema vào tháng 8 năm 1944 và vụ thảm sát Marzabotto trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1944.

Phần Lan

Tại Phần Lan, Sư đoàn Bộ binh Sơn cước SS số 6 Nord đã giữ vững các tuyến phòng thủ của mình trong cuộc tổng tấn công mùa hè của Liên Xô cho đến khi nhận được lệnh rút khỏi Phần Lan sau khi hiệp định đình chiến giữa Phần Lan và Liên Xô được ký kết vào tháng 9 năm 1944. Sau đó, sư đoàn này đóng vai trò là lực lượng đoạn hậu cho ba quân đoàn Đức đang rút khỏi Phần Lan trong Chiến dịch Birch; từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1944, đơn vị này đã hành quân 1.600 km đến Mo i Rana, Na Uy, nơi họ lên tàu hỏa để đi về phía nam đất nước và băng qua eo biển Skagerrak để đến Đan Mạch.

Arnhem và Chiến dịch Market Garden

Vào đầu tháng 9 năm 1944, Quân đoàn Thiết giáp SS số II (bao gồm các Sư đoàn Thiết giáp SS số 9 và số 10) đã được rút khỏi tiền tuyến và điều đến khu vực Arnhem ở Hà Lan. Khi đến nơi, họ bắt đầu nhiệm vụ tái trang bị, và phần lớn các xe bọc thép còn lại đã được đưa lên tàu hỏa để chuẩn bị vận chuyển đến các xưởng sửa chữa ở Đức. Vào ngày 17 tháng 9 năm 1944, Đồng minh phát động Chiến dịch Market Garden, và Sư đoàn Không vận 1 của Anh đã được thả xuống Oosterbeek, phía tây Arnhem. Nhận thấy mối đe dọa, Wilhelm Bittrich, chỉ huy Quân đoàn Thiết giáp SS số 2, đã ra lệnh cho các sư đoàn Hohenstaufen và Frundsberg chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Cũng có mặt trong khu vực lúc đó là Tiểu đoàn Huấn luyện và Dự bị của Sư đoàn SS số 16. Chiến dịch không vận của Đồng minh đã thất bại, và Arnhem không được giải phóng cho đến tận ngày 14 tháng 4 năm 1945.

Khởi nghĩa Warszawa

Đống đổ nát của Quảng trường Chợ Phố Cổ tại Warszawa. Tổng cộng, 85% thành phố đã bị hủy diệt và gần 200.000 dân thường bị giết hại.

Ở đầu kia của châu Âu, lực lượng Waffen-SS đang tham gia đối phó với Khởi nghĩa Warszawa. Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1944, Trung đoàn đặc biệt SS Dirlewanger (được tuyển mộ từ các binh sĩ đang trong thời gian thử thách, tội phạm phổ thông và những người mắc bệnh tâm thần trên khắp nước Đức), bao gồm cả Binh đoàn Azerbaijan (một phần của Ostlegionen), và Lữ đoàn Xung kích SS RONA (Quân đội Giải phóng Quốc gia Nga), vốn được tạo thành từ các cộng tác viên người Nga, Belarus và Ukraine có tư tưởng chống Xô viết, đều được điều đến Warszawa để dập tắt cuộc khởi nghĩa. Trong trận chiến, Trung đoàn đặc biệt SS Dirlewanger đã hành xử cực kỳ tàn bạo, hãm hiếp, cướp bóc và giết hại người dân bất kể họ có thuộc lực lượng kháng chiến Ba Lan hay không; chỉ huy của đơn vị là SS-Oberführer Oskar Dirlewanger đã khuyến khích những hành động thái quá này. Hành vi của đơn vị này được báo cáo là thú tính và bừa bãi đến mức Himmler buộc phải cử một tiểu đoàn cảnh sát quân sự SS đến để đảm bảo các phạm nhân của lực lượng Dirlewanger không quay sang tấn công ban lãnh đạo lữ đoàn hoặc các đơn vị Đức khác gần đó. Đồng thời, họ được Himmler khuyến khích tự do khủng bố, không bắt tù binh, và nhìn chung là được thỏa mãn những khuynh hướng biến thái của mình. Các chiến thuật được ưa chuộng trong cuộc vây hãm, đặc biệt là của Trung đoàn đặc biệt SS Dirlewanger, bao gồm việc cưỡng hiếp tập thể phổ biến đối với phụ nữ Ba Lan, cả phụ nữ và trẻ em; chơi trò "bắt lưỡi lê" với trẻ sơ sinh còn sống; và tra tấn tù nhân đến chết bằng cách chặt đứt tay chân, đổ xăng lên người rồi châm lửa để họ chạy không tay và bốc cháy trên phố. Đơn vị Cảnh sát dưới quyền Reinefarth theo sau Trung đoàn đặc biệt SS Dirlewanger đã phạm phải những tội ác gần như liên tục trong giai đoạn này, đặc biệt là Thảm sát Wola.

Ảnh do Lực lượng ngầm Ba Lan chụp cho thấy thi thể của phụ nữ và trẻ em bị quân đội SS sát hại trong cuộc Khởi nghĩa Warszawa, tháng 8 năm 1944

Đơn vị còn lại, Lữ đoàn Kaminski, được giao nhiệm vụ càn quét quận Ochota tại Warszawa vốn được bảo vệ bởi các thành viên của Quân đội Quốc nội Ba Lan. Cuộc tấn công của họ được lên kế hoạch vào sáng ngày 5 tháng 8, nhưng khi đến giờ, Lữ đoàn Kaminski lại không thấy đâu; sau một hồi tìm kiếm của cảnh sát quân sự SS, các thành viên của đơn vị được tìm thấy đang cướp phá những ngôi nhà bỏ hoang ở phía sau đoàn quân Đức. Sau đó, hàng ngàn thường dân Ba Lan đã bị giết trong các sự kiện được gọi là Thảm sát Ochota; nhiều nạn nhân cũng bị hãm hiếp. Trong những tuần tiếp theo, đơn vị này được chuyển xuống phía nam đến quận Wola, nhưng tình hình chiến đấu ở đó cũng không khả quan hơn ở Ochota; trong một sự cố, một phân đội của Lữ đoàn Kaminski đã tiến lên để cướp bóc một tòa nhà bị chiếm đóng trên tiền tuyến, nhưng sau đó bị cắt đứt khỏi phần còn lại của đội hình SS và bị quân Ba Lan tiêu diệt hoàn toàn. Sau thất bại này, Waffen-Brigadeführer Bronislav Vladislavovich Kaminski, chỉ huy của đơn vị, đã được gọi đến Łódź để tham dự một hội nghị lãnh đạo SS. Ông đã không bao giờ đến nơi; các nguồn tin chính thức của Đức Quốc xã đổ lỗi cho quân du kích Ba Lan về một cuộc phục kích được cho là đã giết chết chỉ huy RONA. Tuy nhiên, theo nhiều nguồn tin khác, ông đã bị SS bắt giữ và xét xử, hoặc đơn giản là bị Gestapo bắn ngay tại chỗ. Hành vi của Lữ đoàn Kaminski trong trận chiến là một nỗi hổ thẹn ngay cả đối với SS, và vụ hãm hiếp và sát hại hai cô gái người Đức thuộc tổ chức Strength Through Joy có thể đã góp phần dẫn đến việc hành quyết chỉ huy lữ đoàn cuối cùng.

Phòng tuyến sông Vistula

Vào cuối tháng 8 năm 1944, Sư đoàn Thiết giáp SS số 5 Wiking được lệnh quay trở lại Modlin trên tuyến sông Vistula gần Warszawa, nơi đơn vị này gia nhập Cụm tập đoàn quân Vistula mới thành lập. Chiến đấu bên cạnh Sư đoàn Thiết giáp-Nhảy dù số 1 Hermann Göring của Luftwaffe, họ phải đối mặt với Quân đoàn Thiết giáp số 3 (thuộc Sư đoàn Thiết giáp Cận vệ số 16) của Liên Xô. Sự bùng nổ của cuộc Khởi nghĩa Warszawa đã khiến đợt tấn công của Liên Xô bị đình trệ, và sự bình yên tương đối đã trở lại trên tiền tuyến. Sư đoàn này vẫn ở lại khu vực Modlin, cùng với Sư đoàn Thiết giáp SS số 3 Totenkopf nằm trong Quân đoàn Thiết giáp SS số IV. Các trận chiến phòng thủ ác liệt quanh Modlin tiếp tục diễn ra trong suốt thời gian còn lại của năm.

Các binh sĩ thuộc Cánh quân (Kampfgruppe) Knittel trên đường đến Stavelot để hỗ trợ Peiper

Cuộc phản công Ardennes (thường được biết đến với tên gọi "Trận Bulge"), diễn ra từ ngày 16 tháng 12 năm 1944 đến ngày 25 tháng 1 năm 1945, là một cuộc tấn công lớn của Đức xuyên qua vùng núi rừng Ardennes của Bỉ. Các đơn vị Waffen-SS tham chiến bao gồm Tập đoàn quân Thiết giáp số 6 dưới quyền Sepp Dietrich. Được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1944, tập đoàn quân này bao gồm Quân đoàn Thiết giáp SS số I (Sư đoàn Thiết giáp SS số 1 và số 12 cùng với Tiểu đoàn Thiết giáp hạng nặng SS số 101). Nó cũng bao gồm Quân đoàn Thiết giáp SS số II (Sư đoàn Thiết giáp SS số 2 và số 9). Một đơn vị khác tham gia là Lữ đoàn Thiết giáp SS số 150 của Otto Skorzeny.

Mục đích của cuộc tấn công là chia cắt đôi chiến tuyến của Anh và Mỹ, chiếm Antwerp, đồng thời bao vây và tiêu diệt bốn tập đoàn quân Đồng minh, buộc các nước Đồng minh phương Tây phải đàm phán một hiệp ước hòa bình với các điều khoản có lợi cho Phe Trục. Tuy nhiên, việc tiến quân qua những cánh rừng và đồi núi rậm rạp của vùng Ardennes tỏ ra rất khó khăn trong điều kiện thời tiết mùa đông. Ban đầu, quân Đức đạt được tiến triển tốt ở mũi nhọn phía bắc. Tuy nhiên, họ đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ bất ngờ từ các Sư đoàn Bộ binh số 2 và số 99 của Hoa Kỳ. Đến ngày 23 tháng 12, điều kiện thời tiết bắt đầu cải thiện, cho phép lực lượng không quân Đồng minh (vốn đã bị đình chỉ bay trước đó) xuất kích tấn công. Trong điều kiện ngày càng khó khăn, đà tiến quân của Đức chậm lại. Cuộc tấn công cuối cùng đã thất bại. Bất chấp những nỗ lực của Waffen-SS và Lục quân Đức, tình trạng thiếu hụt nhiên liệu, sự kháng cự kiên cường của Mỹ (bao gồm cả trong và xung quanh thị trấn Bastogne) và các cuộc không kích của Đồng minh vào các đoàn tiếp tế của Đức đã gây ra áp lực quá lớn, khiến quân Đức mất 700 xe tăng và hầu hết lực lượng cơ động còn lại ở phía tây. Cuộc phản công thất bại của Hitler đã tiêu tốn hầu hết nguồn dự trữ nhân lực và khí tài còn lại của Đức, vốn là những thứ không thể thay thế được.

Hiện trường sau vụ Thảm sát Malmedy

Trong trận chiến, Kampfgruppe Peiper, một phần của Sư đoàn Leibstandarte, đã để lại một con đường hủy diệt, bao gồm việc các binh sĩ Waffen-SS thảm sát tù binh Mỹ, hãm hiếp phụ nữ Bỉ, cũng như cướp bóc và sát hại những thường dân Bỉ không vũ trang. Đơn vị này trở nên khét tiếng với vụ Thảm sát Malmedy, trong đó khoảng 90 tù binh chiến tranh Mỹ không vũ trang đã bị sát hại vào ngày 17 tháng 12 năm 1944. Cũng trong trận chiến này, đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn Thiết giáp Trinh sát SS số 1 (3./SS-PzAA1 LSSAH) đã bắt giữ và bắn chết 11 binh sĩ người Mỹ gốc Phi thuộc Tiểu đoàn Pháo binh số 333 của Hoa Kỳ tại làng Wereth. Thi thể của họ được quân Đồng minh tìm thấy hai tháng sau đó. Các binh sĩ đã bị chặt ngón tay và bẻ gãy chân, và một người bị bắn khi đang cố gắng băng bó vết thương cho đồng đội.

Cuộc vây hãm Budapest

Vào cuối tháng 12 năm 1944, các lực lượng Phe Trục, bao gồm Quân đoàn Sơn cước SS số 9, đang phòng thủ Budapest, đã bị bao vây trong Cuộc vây hãm Budapest. Quân đoàn Thiết giáp SS số 4 (bao gồm các Sư đoàn Thiết giáp SS số 3 và số 5) được lệnh tiến xuống phía nam để gia nhập Tập đoàn quân số 6 của Tướng Hermann Balck (Cụm tập đoàn quân Balck), lực lượng đang tập hợp cho một nỗ lực giải vây mang mật danh Chiến dịch Konrad.

Là một phần của Chiến dịch Konrad I, Quân đoàn Thiết giáp SS số IV bắt đầu tham chiến vào ngày 1 tháng 1 năm 1945, gần Tata, với các đội hình tiền phương của Sư đoàn Wiking đâm sầm vào Tập đoàn quân Cận vệ số 4 của Liên Xô. Một trận chiến ác liệt đã diễn ra, trong đó các Sư đoàn Wiking và Totenkopf đã tiêu diệt nhiều xe tăng Liên Xô. Trong ba ngày, các mũi nhọn thiết giáp của họ đã tiến được 45 km, hơn một nửa khoảng cách từ điểm xuất phát đến Budapest. Hồng quân đã điều động các lực lượng để chặn đứng đà tiến quân, buộc họ phải dừng lại tại Bicske, cách Budapest 28 kilômét (17 mi). Hai cuộc tấn công tiếp theo, Chiến dịch Konrad II và III, cũng thất bại.

Tập đoàn quân số 3 Hungary đã bị bao vây tại Budapest cùng với Quân đoàn Sơn cước SS số 9 (bao gồm các Sư đoàn Kỵ binh SS số 8 và số 22). Cuộc vây hãm kéo dài từ ngày 29 tháng 12 năm 1944 cho đến khi thành phố đầu hàng không điều kiện vào ngày 13 tháng 2 năm 1945. Chỉ có 170 người thuộc Sư đoàn Kỵ binh SS số 22 Maria Theresa là quay trở lại được chiến tuyến của Đức.

Năm 1945

Mở rộng lực lượng năm 1945

Lực lượng Waffen-SS tiếp tục được mở rộng về mặt phiên chế trong năm 1945. Tháng 1 chứng kiến sự ra đời của Sư đoàn Lực lượng Tình nguyện Grenadier SS số 32 30 Januar, được thành lập từ tàn quân của các đơn vị khác cùng đội ngũ cán bộ từ các trường Võ bị SS Junker. Sang tháng 2, Lữ đoàn Grenadier Waffen thuộc SS Charlemagne được nâng cấp thành cấp sư đoàn với tên gọi Sư đoàn Grenadier Waffen số 33 của SS Charlemagne (Pháp số 1). Thời điểm này, đơn vị có quân số 7.340 người. Lữ đoàn Tình nguyện Grenadier SS Landstorm Nederland cũng được nâng cấp thành Sư đoàn Tình nguyện Grenadier SS số 34 Landstorm Nederland. Sư đoàn cảnh sát SS thứ hai tiếp tục ra đời khi Sư đoàn Grenadier Cảnh sát SS số 35 được thành lập từ các đơn vị cảnh sát SS chuyển ngạch sang Waffen-SS. Lữ đoàn Dirlewanger tai tiếng được tổ chức lại thành Sư đoàn Grenadier Waffen số 36 của SS. Do tình trạng khan hiếm nghiêm trọng lực lượng tình nguyện viên lẫn lính nghĩa vụ của Waffen-SS, nhiều đơn vị thuộc lục quân thông thường (Heer) đã được điều động sáp nhập vào để bù đắp đủ quân số. Sư đoàn kỵ binh SS thứ ba, Sư đoàn Kỵ binh Tình nguyện SS số 37, được lập nên từ những mảnh tàn quân còn sót lại sau khi các Sư đoàn Kỵ binh SS số 8 và 22 gần như bị xóa sổ hoàn toàn. Sư đoàn Waffen-SS cuối cùng mang phiên hiệu Sư đoàn Grenadier SS số 38 Nibelungen, thành lập từ các học viên cùng ban giảng huấn của các trường Võ bị SS Junker, nhưng thực tế chỉ tập hợp được khoảng 6.000 lính, tương đương quân số của một lữ đoàn thông thường.

Chiến dịch Nordwind

Chiến dịch Nordwind là đòn tiến công quy mô lớn cuối cùng của quân đội Đức tại Mặt trận phía Tây. Chiến dịch bùng nổ vào ngày 1 tháng 1 năm 1945 tại vùng Alsace và Lorraine ở đông bắc nước Pháp, rồi khép lại vào ngày 25 tháng 1. Mũi công kích mở màn do ba quân đoàn thuộc Tập đoàn quân số 1 của Đức đảm nhiệm. Đến ngày 15 tháng 1, ít nhất 17 sư đoàn Đức (bao gồm cả các đơn vị trong Túi vây Colmar) đã bị cuốn vào vòng chiến, trong đó có Quân đoàn XIII SS (gồm các Sư đoàn SS 17 và 38) cùng các Sư đoàn Thiết giáp SS số 6 và số 10. Cùng thời điểm đó, Không quân Đức Luftwaffe đã tung ra một chiến dịch tập kích đường không ồ ạt trên bầu trời nước Pháp. Khoảng 240 tiêm kích bị bắn rơi kéo theo cái chết của ngần ấy phi công dày dạn kinh nghiệm. Đây được coi là nỗ lực vùng vẫy trong cơn hấp hối cuối cùng của Không quân Đức nhằm giằng lại quyền làm chủ bầu trời từ tay phe Đồng Minh phương Tây.

Chiến dịch Solstice

Chiến dịch Solstice, hay còn gọi là "Trận đấu xe tăng Stargard" (tháng 2 năm 1945), là một trong những chiến dịch tiến công thiết giáp cuối cùng của quân Đức trên Mặt trận phía Đông. Đây thực chất là một đòn phản kích giới hạn do ba quân đoàn thuộc Tập đoàn quân thiết giáp SS số 11 (đang tập kết tại Pomerania) giáng vào các mũi nhọn thọc sâu của Phương diện quân Belorussia 1 thuộc Liên Xô. Ban đầu được trù tính như một chiến dịch tấn công quy mô lớn, kế hoạch tác chiến trên thực tế bị thu hẹp đáng kể. Cuộc đột kích bị Hồng quân bẻ gãy, song nó đã góp phần khiến Đại bản doanh Stavka quyết định trì hoãn kế hoạch tiến đánh Berlin.

Giai đoạn đầu, đòn phản kích tạo được yếu tố bất ngờ hoàn toàn, tiến sát tới bờ sông Ina và đánh chiếm Arnswalde vào ngày 17 tháng 1. Các đợt phản công mãnh liệt của Hồng quân sau đó chặn đứng bước tiến của Đức, buộc chiến dịch phải đình chỉ. Quân đoàn Thiết giáp III SS (Germanic) được rút về cố thủ tại Stargard và Stettin trên hướng bắc bờ sông Oder.

Chiến dịch Đông Pomerania

Chiến dịch Đông Pomerania kéo dài từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 4 tháng 4, diễn ra trên khắp địa bàn Pomerania và Tây Phổ. Các đơn vị Waffen-SS tham gia tác chiến gồm Sư đoàn SS 11 Nordland, Sư đoàn SS 20 Estonia, Sư đoàn SS 23 Nederland, Sư đoàn SS 27 Langemark và Sư đoàn SS 28 Wallonien, tất cả đều trực thuộc Quân đoàn Thiết giáp III SS (Germanic) cùng Quân đoàn X SS (vốn không trực tiếp nắm quyền chỉ huy đơn vị SS thực thụ nào).

Tháng 3 năm 1945, Quân đoàn X SS bị Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1, Tập đoàn quân Xung kích số 3 và Tập đoàn quân Ba Lan số 1 siết chặt vòng vây tại khu vực Dramburg. Chiếc túi vây này bị Hồng quân xóa sổ hoàn toàn vào ngày 7 tháng 3 năm 1945. Sang ngày 8 tháng 3 năm 1945, phía Liên Xô tuyên bố bắt sống Tướng Krappe cùng 8.000 binh sĩ thuộc quân đoàn này.

Chiến dịch Mùa xuân Khởi sắc

Các đơn vị Đức rút lui trong Chiến dịch Hồ Balaton, tháng 3 năm 1945

Sau thất bại nặng nề tại vùng Ardennes, trong toan tính của Hitler, các mỏ dầu Nagykanizsa ở phía tây nam Hồ Balaton là nguồn dự trữ nhiên liệu chiến lược sống còn nhất còn sót lại trên Mặt trận phía Đông. Toàn bộ các sư đoàn SS được rút về hậu phương nước Đức để tái trang bị nhằm chuẩn bị cho Chiến dịch Mùa xuân Khởi sắc (Frühlingserwachen). Hitler hạ lệnh cho Tập đoàn quân thiết giáp số 6 của Sepp Dietrich đóng vai trò mũi nhọn chủ lực hành quân sang Hungary để bảo vệ các mỏ dầu cùng nhà máy lọc dầu tại đây. Tập đoàn quân thiết giáp số 6 bao gồm Quân đoàn Thiết giáp I SS (gồm Sư đoàn Thiết giáp SS số 1 và số 12) cùng Quân đoàn Thiết giáp II SS (gồm Sư đoàn Thiết giáp SS số 2 và số 10). Phối hợp tham chiến nhưng không thuộc biên chế Tập đoàn quân 6 còn có Quân đoàn Thiết giáp IV SS (gồm Sư đoàn Thiết giáp SS số 3 và số 5).

Chiến dịch tiến công cuối cùng của Đức ở miền Đông nổ súng vào ngày 6 tháng 3. Các lực lượng Đức đồng loạt xuất kích gần khu vực hồ Balaton: Tập đoàn quân thiết giáp số 6 thọc sâu lên phía bắc hướng về Budapest, còn Tập đoàn quân thiết giáp số 2 cơ động đánh sang phía đông và phía nam. Đạo quân của Dietrich ban đầu thu được "nhiều bước tiến khả quan", song khi tiến sát bờ sông Danube, sự kết hợp giữa địa hình sình lầy lội do băng tan cùng sự kháng cự kiên cường của Hồng quân đã ghìm chặt họ tại chỗ. Ưu thế quân số áp đảo tuyệt đối của quân đội Liên Xô khiến mọi nỗ lực phòng thủ hay công kích của Đức đều không thể thành công, dẫu vậy Hitler vẫn ảo tưởng mù quáng rằng chiến thắng nằm trong tầm tay.

Sau khi Chiến dịch Mùa xuân Khởi sắc phá sản, Tập đoàn quân thiết giáp số 6 phải tháo lui về hướng Viên và bị cuốn vào diễn biến của Chiến dịch Viên. Lực lượng lớn duy nhất của Đức còn đủ khả năng nghênh chiến các mũi tiến công của Hồng quân là Quân đoàn Thiết giáp II SS (gồm các Sư đoàn Thiết giáp SS số 2 và số 3) dưới quyền chỉ huy của Wilhelm Bittrich, phối hợp cùng các đơn vị chắp vá lâm thời gồm lính đồn trú và pháo phòng không. Thủ đô Viên rơi vào tay Liên Xô vào ngày 13 tháng 4. Quân đoàn Thiết giáp II SS của Bittrich đã chủ động rút quân về phía tây ngay trong đêm đó để tránh nguy cơ bị hợp vây. Riêng sư đoàn khét tiếng LSSAH khi tháo lui về phía tây chỉ còn lại vỏn vẹn chưa đầy 1.600 binh sĩ cùng 16 cỗ xe tăng.

Thất bại cay đắng này gắn liền với "mệnh lệnh dải băng tay" ô nhục sau đó. Bản mệnh lệnh được Hitler gửi đích danh cho Dietrich, giận dữ chỉ trích các đơn vị tham chiến, đặc biệt là Sư đoàn Thiết giáp SS số 1 Leibstandarte, đã "không chiến đấu dũng cảm như tình thế đòi hỏi". Như một hình phạt sỉ nhục danh dự, toàn bộ các đơn vị Waffen-SS tham gia chiến dịch bị tước quyền đeo dải băng cổ tay đặc trưng trên quân phục. Tuy nhiên, Dietrich đã từ chối truyền đạt mệnh lệnh này xuống các binh sĩ dưới quyền.

Berlin

Cụm tập đoàn quân Vistula được thành lập vào đầu năm 1945 với nhiệm vụ bảo vệ Berlin trước đà tiến quân của Hồng quân. Cụm quân này tham gia vào Trận chiến Cao điểm Seelow (từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 4) và Trận Halbe (từ 21 tháng 4 đến 1 tháng 5), đều là những trận đánh cấu thành nên Chiến dịch Berlin. Đại diện cho lực lượng Waffen-SS tại đây là Quân đoàn Thiết giáp III SS (Germanic).

Ngày 23 tháng 4, Thiếu tướng SS (Brigadeführer) Wilhelm Mohnke được Hitler chỉ định làm Chỉ huy Tác chiến khu vực trung tâm đầu não chính phủ (khu vực Zitadelle), bao gồm cả Văn phòng Thủ tướng Đế chế cùng căn hầm ngầm trú ẩn Führerbunker. Sở chỉ huy của Mohnke đặt sâu trong các hầm ngầm bên dưới Tòa Thủ tướng. Ông tổ chức nên Cụm tác chiến Kampfgruppe Mohnke, chia thành hai trung đoàn yếu ớt. Lực lượng này gồm Đại đội Pháo phòng không LSSAH, các tân binh thuộc Tiểu đoàn Huấn luyện và Dự bị LSSAH chuyển từ Spreenhagen sang (dưới quyền chỉ huy của Đại tá SS Anhalt), 600 lính thuộc Tiểu đoàn Hộ tống Reichsführer-SS, Đại đội Hộ tống Führer, cùng nhóm nòng cốt là 800 lính thuộc Tiểu đoàn Cận vệ LSSAH được giao trọng trách bảo vệ tính mạng cho Hitler.

Cũng trong ngày 23 tháng 4, Tòa Thủ tướng hạ lệnh cho Thiếu tướng SS Gustav Krukenberg tức tốc đưa quân vào Berlin, tổ chức lại đội hình thành Tiểu đoàn Đột kích Charlemagne. Khoảng 320 đến 330 lính SS người Pháp đã vào được Berlin ngày 24 tháng 4 sau một chặng đường vòng dài để tránh các mũi tiến quân của Liên Xô. Krukenberg đồng thời được giao quyền chỉ huy Phân khu Phòng thủ C của Berlin. Khu vực này bao gồm cả Sư đoàn Nordland, đơn vị mà viên tư lệnh tiền nhiệm là Joachim Ziegler vừa bị cách chức cùng ngày. Ngày 27 tháng 4, sau những nỗ lực kháng cự tuyệt vọng, tàn quân của Nordland bị đẩy lùi hoàn toàn vào khu trung tâm chính phủ thuộc Phân khu Phòng thủ Z. Tại đây, sở chỉ huy của Krukenberg đóng tạm trong một toa tàu tại ga tàu điện ngầm Stadtmitte. Toàn bộ binh sĩ thuộc Sư đoàn Nordland lúc này đặt dưới quyền chỉ huy chung của Mohnke, quy tụ những toán lính Waffen-SS đến từ Pháp, Latvia cùng các nước Scandinavia.

Các đợt oanh kích pháo binh dữ dội của Liên Xô nhắm vào khu trung tâm đầu não chính phủ bắt đầu dội xuống từ ngày 20 tháng 4 năm 1945 và kéo dài liên tục cho tới tận khi tiếng súng ngưng hẳn. Dưới làn mưa đạn pháo khủng khiếp, các đơn vị SS vẫn điên cuồng chống trả, tạo nên những cuộc giao tranh đường phố đẫm máu giành giật từng ngôi nhà với Hồng quân. Đến ngày 26 tháng 4, các lực lượng phòng thủ bị dồn ép co cụm vào bên trong Tòa nhà Quốc hội Reichstag và Tòa Thủ tướng. Tại những nơi này, suốt những ngày tiếp theo, những tay súng còn sống sót (chủ yếu là lính SS Pháp thuộc Sư đoàn SS 33 Charlemagne trước đây) đã chiến đấu trong tuyệt vọng chống lại quân đội Liên Xô.

Thi thể Heinrich Himmler sau khi tự sát, tháng 5 năm 1945

Ngày 30 tháng 4, sau khi nhận được tin Hitler đã tự sát, lệnh mở đường máu phá vây được ban bố cho những ai còn khả năng tác chiến. Trước khi hành động, Mohnke đã triệu tập toàn bộ các chỉ huy có thể liên lạc được trong khu vực Zitadelle để thông báo về cái chết của Hitler cùng kế hoạch phá vây. Cuộc phá vây bắt đầu lúc 23 giờ đêm ngày 1 tháng 5. Khoảng mười nhóm chính nỗ lực mở đường chạy về hướng tây bắc tiến tới vùng Mecklenburg. Giao tranh ác liệt bùng lên khắp nơi, đỉnh điểm là tại khu vực Cầu Weidendammer. Những gì còn lại của Sư đoàn Nordland dưới quyền Krukenberg chống trả tuyệt vọng tại đây, nhưng pháo binh, pháo chống tăng cùng xe tăng Liên Xô đã bắn nát và xóa sổ từng toán quân. Chỉ có một vài nhóm rất nhỏ may mắn thoát được sang bờ tây sông Elbe để đầu hàng quân Mỹ, còn phần lớn, bao gồm cả nhóm của Mohnke, đều không thể vượt qua các tầng vòng vây khép kín của Hồng quân.

Himmler bỏ trốn và tìm cách ẩn náu. Sử dụng cuốn sổ quân bạ giả mạo mang tên Trung sĩ Heinrich Hitzinger, ông ta trốn xuống phía nam đến thị trấn Friedrichskoog vào ngày 11 tháng 5. Ngày 21 tháng 5, Himmler cùng hai viên phụ tá bị chặn lại và tạm giữ tại một trạm kiểm soát do các cựu tù binh Liên Xô lập ra, rồi bị bàn giao cho quân đội Anh. Ngày 23 tháng 5, sau khi Himmler buộc phải khai nhận danh tính thực sự, một bác sĩ quân y tiến hành khám người ông ta. Tuy nhiên, Himmler đã bất ngờ cắn vỡ viên nang cyanide giấu sẵn trong kẽ răng rồi ngã gục xuống sàn. Ông ta tử vong chỉ trong vòng 15 phút sau đó.

Xem thêm

Chú thích

Chú giải

  1. ^ Lực lượng Waffen-SS nằm dưới quyền chỉ huy chiến thuật của Lục quân trên chiến trường, mặc dù Himmler vẫn nắm quyền tối cao. Một số chỉ huy cấp chiến trường nổi bật của Waffen-SS gồm có:
    • Sepp Dietrich: Chỉ huy Sư đoàn thiết giáp số 1 SS "Leibstandarte SS Adolf Hitler" và Tập đoàn quân thiết giáp SS số Sáu.
    • Paul Hausser: Chỉ huy Quân đoàn thiết giáp SS số II và là cựu quân nhân của Wehrmacht trước khi gia nhập SS.
    • Theodor Eicke: Cựu trại trưởng trại tập trung Dachau (Dachau) sau trở thành tư lệnh Sư đoàn thiết giáp số 3 SS "Totenkopf".
  2. ^ Tương đương với cấp Đại tướng. Tính độc lập của LSSAH một phần có thể được giải thích bởi cấp bậc của Dietrich, cũng như mối quan hệ cá nhân thân thiết của ông với Hitler.
  3. ^ Tương đương chức thiếu tướng
  4. ^ Đơn vị trung đoàn tiêu chuẩn
  5. ^ "Adolf Hitler không quan tâm đến sự tồn tại tiếp theo của Warszawa ... toàn bộ dân số sẽ bị xử tử và tất cả các tòa nhà bị phá hủy.".
  6. ^ Theo lời khai của Erich von dem Bach tại Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremberg, mệnh lệnh của Himmler (được ban hành dựa trên mệnh lệnh của Hitler) như sau: "1. Những kẻ nổi loạn bị bắt sẽ bị giết bất kể họ chiến đấu theo Công ước La Hay hay vi phạm nó. 2. Những người không tham gia chiến đấu, phụ nữ, trẻ em cũng sẽ bị giết. 3. Toàn bộ thành phố sẽ bị san bằng, nghĩa là các tòa nhà, đường phố, cơ sở vật chất trong thành phố đó, và mọi thứ nằm trong biên giới của nó.".

Tham khảo

Tài liệu

Đọc thêm

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
21 GIỜ : 38 PHÚT : 08 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL