Quay lại
Facundo Cambeses

Facundo Cambeses

Số áo #25

Goalkeeper

Quốc tịch Flag Argentina
Tuổi 29
Chiều cao 6' 1"
Cân nặng 185 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Racing Club

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Argentina
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhLa Selección
(Đội tuyển)
La Albiceleste
(Xanh da trời - trắng)
Los Bailarines De Tango
(Những vũ công xứ Tango)
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Argentina (AFA)
Liên đoàn châu lụcCONMEBOL (Nam Mỹ)
Thi đấu nhiều nhấtLionel Messi (207)
Ghi bàn nhiều nhấtLionel Messi (125)
Sân nhàNhiều sân vận động
Mã FIFAARG
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 2 Giảm 1 (20 tháng 7 năm 2026)
Cao nhất1 (Tháng 3 năm 2007, tháng 10 năm 2007 – tháng 6 năm 2008, tháng 7–10 năm 2015, tháng 4 năm 2016 – tháng 4 năm 2017)
Thấp nhất20 (Tháng 8 năm 1996)
Hạng Elo
Hiện tại1
Cao nhất1 (29 lần từ 1902 đến 2016)
Thấp nhất26 (tháng 6 năm 1990)
Trận quốc tế đầu tiên
 Uruguay 0–6 Argentina 
(Montevideo, Uruguay; 20 tháng 7 năm 1902)
Trận thắng đậm nhất
 Argentina 12–0 Ecuador 
(Montevideo, Uruguay; 22 tháng 1 năm 1942)
Trận thua đậm nhất
 Tiệp Khắc 6–1 Argentina 
(Helsingborg, Thụy Điển; 15 tháng 6 năm 1958)
 Argentina 0–5 Colombia 
(Buenos Aires, Argentina; 5 tháng 9 năm 1993)
 Bolivia 6–1 Argentina 
(La Paz, Bolivia; 1 tháng 4 năm 2009)
 Tây Ban Nha 6–1 Argentina 
(Madrid, Tây Ban Nha; 27 tháng 3 năm 2018)
Giải thế giới
Sồ lần tham dự19 (Lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1978, 1986, 2022)
Cúp bóng đá Nam Mỹ
Sồ lần tham dự44 (Lần đầu vào năm 1916)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1921, 1925, 1927, 1929, 1937, 1941, 1945, 1946, 1947, 1955, 1957, 1959, 1991, 1993, 2021, 2024)
Giải vô địch bóng đá liên Mỹ
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 1956)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1960)
Siêu cúp Liên lục địa CONMEBOL–UEFA
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 1993)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1993, 2022)
Cúp Liên đoàn các châu lục
Sồ lần tham dự3 (Lần đầu vào năm 1992)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1992)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de Argentina) là đội tuyển bóng đá đại diện cho Argentina tại các giải đấu bóng đá nam quốc tế và được quản lý bởi Hiệp hội bóng đá Argentina, cơ quan quản lý bóng đá ở Argentina.

Được xem là một trong những đội tuyển bóng đá hàng đầu và thành công nhất thế giới, tính đến nay, đội đã 7 lần lọt vào chung kết World Cup và có ba lần giành chức vô địch. Trận chung kết đầu tiên của Argentina là vào năm 1930 mà đội thua 2–4 trước chủ nhà Uruguay. Argentina đã giành chiến thắng trong trận chung kết tiếp theo vào năm 1978, đánh bại Hà Lan 3–1 trong hiệp phụ. Argentina lại vô địch vào năm 1986 với chiến thắng 3–2 trước Tây Đức, một giải đấu mang đậm dấu ấn của ngôi sao Diego Maradona. Đội lọt vào trận chung kết World Cup một lần nữa vào năm 1990, và để thua 0–1 trước Tây Đức bởi quả phạt đền ở phút 87 do Andreas Brehme thực hiện. Argentina tiếp tục bị người Đức gieo sầu trong trận chung kết vào năm 2014 với bàn thắng duy nhất trong hiệp phụ của Mario Götze. Tám năm sau, Argentina góp mặt trong trận chung kết World Cup 2022 và đã giành chiến thắng 4–2 ở loạt sút luân lưu trước Pháp sau khi hai đội hòa nhau kịch tính 3–3 trong 120 phút thi đấu chính thức. Bốn năm sau, Argentina lần thứ hai liên tiếp kể từ năm 1990 lọt vào trận chung kết World Cup 2026 và để thua 0–1 trước Tây Ban Nha bởi bàn thắng duy nhất của Ferran Torres được ghi ở phút thứ 106 của hiệp phụ thứ hai.

Các huấn luyện viên vô địch World Cup của đội là César Luis Menotti năm 1978, Carlos Bilardo năm 1986Lionel Scaloni năm 2022. Kể từ khi danh hiệu Quả bóng vàng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu được FIFA chính thức trao tặng từ năm 1982, các cầu thủ Argentina đã giành được danh hiệu này ba lần; Maradona năm 1986 cùng với Lionel Messi các năm 2014 và 2022. Guillermo Stábile năm 1930Mario Kempes năm 1978 là những cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại các kỳ World Cup mà họ tham dự.

Argentina hiện đang là đương kim vô địch Copa América sau khi có hai lần lên ngôi liên tiếp vào các năm 20212024, qua đó trở thành đội tuyển vô địch nhiều lần nhất trong lịch sử giải đấu với 16 lần. Ngoài ra, đội còn giành nhiều chức vô địch nhất tại Siêu cúp Liên lục địa CONMEBOL–UEFA với hai lần lên ngôi vào các năm 19932022. Đội cũng đã giành chức vô địch FIFA Confederations Cup 1992. Tính đến năm 2024, Argentina giữ kỷ lục về số danh hiệu chính thức mà một đội tuyển bóng đá quốc gia nam giành được với tổng cộng 23 danh hiệu.

Brasil, Uruguay, Anh, Đức, Hà Lan, PhápTây Ban Nha là những đội tuyển được xem như kình địch với Argentina. Về cá nhân cầu thủ Argentina, Lionel Messi là cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất mọi thời đại với 207 trận và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 125 bàn (tính đến tháng 7/2026).

Lịch sử

Trận đấu đầu tiên Argentina thi đấu là gặp Uruguay vào ngày 20 tháng 6 năm 1902. Trận đấu quốc tế đầu tiên của cả hai bên được tổ chức tại Montevideo và Argentina thắng 6–0. Trong những năm đầu tiên tồn tại, Argentina chỉ thi đấu giao hữu với các đội Nam Mỹ khác. Lý do cho điều này rất đa dạng, bao gồm thời gian di chuyển dài giữa các quốc gia và sự gián đoạn do Chiến tranh thế giới thứ nhất.

La Albiceleste đã 7 lần góp mặt ở các trận chung kết World Cup, trong đó có trận chung kết đầu tiên vào năm 1930, họ thua 4–2 trước Uruguay. Argentina giành chiến thắng trong trận chung kết tiếp theo vào năm 1978, đánh bại Hà Lan 3–1. Tám năm sau, vào năm 1986, Argentina dưới sự dẫn đầu của Diego Maradona giành chức vô địch lần thứ hai với chiến thắng 3–2 trước Tây Đức. Dưới sự dẫn đầu của Maradona, họ lại lọt vào trận chung kết năm 1990, nhưng cuối cùng để thua 1–0 trước Tây Đức, bởi một quả phạt đền gây nhiều tranh cãi. Được dẫn đầu bởi Lionel Messi, Argentina lọt vào trận chung kết năm 2014, nơi họ bị Đức đánh bại 1–0 trong hiệp phụ. Năm 2022, một lần nữa dưới băng đội trưởng của Messi, Argentina lần thứ ba vô địch World Cup, đánh bại Pháp 4–2 trên chấm phạt đền, sau khi hòa 3–3 trong thời gian thi đấu chính thức. Năm 2026, họ lại lọt vào trận chung kết FIFA World Cup 2026, nhưng cuối cùng để thua 1–0 trước Tây Ban Nha trong hiệp phụ. Các huấn luyện viên vô địch World Cup của đội tuyển là César Luis Menotti năm 1978, Carlos Bilardo năm 1986 và Lionel Scaloni năm 2022.

Argentina là đội tuyển giàu thành tích nhất ở giải vô địch bóng đá lớn nhất Nam Mỹ, Copa América, với 16 lần đăng quang và hiện là đương kim vô địch giải đấu. Đội cũng đã giành được Cúp Liên đoàn các châu lục vào năm 1992 cũng như Siêu cúp Liên lục địa CONMEBOL–UEFA vào năm 1993 và 2022.

Tháng 3 năm 2007, Argentina lần đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA.

Sân nhà

Sân vận động tượng đài Antonio Vespucio Liberti, địa điểm thi đấu thường xuyên của Argentina

Argentina chơi hầu hết các trận đấu trên sân nhà tại sân vận động của River Plate, Estadio Monumental, ở thủ đô Buenos Aires, mặc dù đội cũng thường xuyên sử dụng nhiều địa điểm khác, chẳng hạn như Estadio Único Madre de Ciudades và Sân vận động Boca Juniors, La Bombonera. Những địa điểm đó, cùng với Estadio Mario Alberto KempesEstadio San Juan del Bicentenario, được sử dụng cho vòng loại World Cup 2022. Ngoài ra, Argentina thi đấu một số trận tại Rosario Central trong chiến dịch vòng loại World Cup 2010 của họ.

Sân vận động G.E.B.A. là nơi Argentina thi đấu các trận đấu quốc tế đầu tiên với tư cách là đội địa phương. Trận đấu được tổ chức vào ngày 13 tháng 9 năm 1908, cho Copa Newton và trận đấu với Uruguay có ý nghĩa lịch sử vì đây là lần đầu tiên Argentina mặc áo thi đấu sọc xanh trắng nhạt, đây sẽ là đồng phục chính thức cho đến ngày nay. GEBA cũng là địa điểm tổ chức Copa Centenario Revolución de Mayo, giải đấu quốc tế Nam Mỹ đầu tiên được tổ chức vào năm 1910. Đội tuyển quốc gia Argentina chơi trận cuối cùng tại GEBA vào ngày 19 tháng 10 năm 1919, khi đội giành được Copa Premier Honor Argentino sau đánh bại Uruguay với tỷ số 6–1.

Hơn nữa, Estadio Sportivo Barracas cũng được coi là một địa điểm đáng nhớ của Argentina; sân vận động được Argentina sử dụng phổ biến từ năm 1920 đến năm 1932. Chơi tại sân vận động cho La Albiceleste vào ngày 2 tháng 10 năm 1924, tiền đạo Cesáreo Onzari đã ghi bàn trực tiếp từ một quả phạt góc, sự cố đầu tiên như vậy trong bóng đá, khi Argentina đánh bại Uruguay 2–1; những bàn thắng như vậy ngày nay thường được gọi là bàn thắng Olympic do Argentina vừa giành được danh hiệu Olympic 1924. Sportivo Barracas sau đó bị phá bỏ sau năm 1936.

Hình ảnh đội tuyển

Trang phục

Chiếc áo thi đấu sọc xanh trắng cổ điển được mặc lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 7 năm 1908 trong một trận giao hữu tại Sao Paulo
Chiếc áo xanh mặc trong trận gặp Anh tại World Cup 1986, khi Diego Maradona (1960–2020) ghi bàn thắng được gọi là "Bàn tay của Chúa"

Bộ quần áo bóng đá được Argentina mặc lần đầu tiên trong trận ra mắt chính thức trước Uruguay vào năm 1902 là một chiếc áo màu xanh nhạt. Vào ngày 2 tháng 7 năm 1908, Argentina ra mắt sọc dọc màu xanh lam nhạt trên áo thi đấu màu trắng, khi đội thi đấu với đội được thành lập bởi các cầu thủ Liga Paulista tại Velódromo Paulistano, họ đã sử dụng áo thi đấu này trong trận đấu chính thức với Uruguay vào ngày 13 tháng 9 năm 1908, và áo thi đấu sọc xanh trắng vẫn là trang phục thi đấu chính thức của Argentina kể từ đó đến nay. Trang phục thi đấu sân khách của đội thường có màu xanh đậm, với màu sắc của quần đùi và tất thay đổi theo thời gian.

Argentina cũng đã mặc những bộ quần áo khác; vào ngày 3 tháng 6 năm 1919 tại Rio de Janeiro, thi đấu với Brasil, Argentina mặc trang phục thi đấu màu xanh nhạt, tương tự như của Uruguay, để bày tỏ sự tôn trọng đối với Roberto Chery, thủ môn dự bị của Uruguay, người đã ngã quỵ và qua đời trong trận đấu với Chile tại Giải vô địch Nam Mỹ 1919; trận đấu giữa Argentina và Brasil được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá Brasil vì lợi ích của những người thân của Chery. Tại World Cup 1958, Argentina mặc áo đấu màu vàng của câu lạc bộ Thụy Điển IFK Malmö trong trận đấu với Tây Đức, khi đội đến Thụy Điển mà không có trang phục thi đấu sân khách.

Tại World Cup 1986 ở Mexico, huấn luyện viên lúc bấy giờ, Carlos Bilardo, đã yêu cầu nhà cung cấp trang phục thi đấu của đội, Le Coq Sportif, cung cấp những chiếc áo sơ mi xanh nhạt hơn cho trận tứ kết với Anh sau ba ngày nữa, nhưng họ không thể cung cấp được. Sau đó, một thành viên của ban huấn luyện đã lùng sục các cửa hàng ở Thành phố México để tìm 38 chiếc áo sơ mi trơn, được biến đổi với phiên bản ngẫu hứng của biểu tượng AFA được thêu trên áo và số áo bóng bầu dục Mỹ màu bạc được ủi ở mặt sau. Mặc áo thể thao với số áo tạm thời, Argentina đánh bại Anh vào ngày 22 tháng 6, với Diego Maradona ghi "bàn thắng của Chúa" nổi tiếng của mình. Sau đó, chiếc áo sơ mi trở thành biểu tượng của dịp này và là món đồ quan trọng của các nhà sưu tập.

Tại World Cup 2018 ở Nga, Argentina ra mắt bộ quần áo bóng đá sân khách màu đen; và tại World Cup 2022 ở Qatar, lần đầu tiên họ mặc trang phục thi đấu sân khách màu tím trong một trận đấu chính thức.

Nhà tài trợ trang phục

Biểu tượng AFA đã được thêm vào bộ đồng phục thi đấu vào năm 1976
Nhà cung cấp Giai đoạn Nguồn
St. Margaret 1901–1924
Gath & Chaves 1930–1934
Industria Lanús 1958–1963
Noceto Sports 1964–1965
Sportlandia 1966
Uribarri 1967–1974
Adidas 1974–1979
Le Coq Sportif 1980–1989
Adidas 1990–1998
Reebok 1999–2001
Adidas 2002–nay

Huy hiệu

Argentina đã sử dụng logo của Hiệp hội bóng đá Argentina làm biểu tượng kể từ lần đầu tiên nó được mặc tại World Cup 1958 ở Thụy Điển; biểu tượng đã được thêm vào áo khoác của đội, nhưng không phải áo sơ mi. Biểu tượng này không được sử dụng trên áo thi đấu cho đến ngày 16 tháng 11 năm 1976, khi Argentina đấu với Liên Xô tại Estadio Monumental. Lúc đầu, biểu tượng được sử dụng không bao gồm vòng nguyệt quế, lần đầu tiên được thêm vào cho World Cup 1982.

Như một thông lệ, hai ngôi sao đã được thêm vào phía trên huy hiệu vào năm 2004, tượng trưng cho hai chức vô địch World Cup của Argentina năm 1978 và 1986. Năm 2022, một ngôi sao thứ ba đã được thêm vào sau khi Argentina lần thứ ba lên ngôi vô địch thế giới.

Kết quả và lịch thi đấu

Sau đây là danh sách kết quả các trận đấu trong 12 tháng qua, cùng các trận đấu đã được lên lịch trong tương lai.

Chú thích

      Thắng       Hòa       Thua       Lịch thi đấu

2025

2026

Ban huấn luyện

Vị trí Tên
Huấn luyện viên trưởng Argentina Lionel Scaloni
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Pablo Aimar
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Roberto Ayala
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Walter Samuel
Trợ lý huấn luyện viên (nhà phân tích) Argentina Matías Manna
Huấn luyện viên thể hình Argentina Luis Martín
Huấn luyện viên thủ môn Argentina Martín Tocalli

Lịch sử huấn luyện viên

  • Nguồn:

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2026.

Số lần ra sân và số bàn thắng cập nhật đến ngày 19 tháng 7 năm 2026, sau trận đấu với Tây Ban Nha.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Juan Musso 6 tháng 5, 1994 (32 tuổi) 4 0 Tây Ban Nha Atlético Madrid
12 1TM Gerónimo Rulli 20 tháng 5, 1992 (34 tuổi) 8 0 Pháp Marseille
23 1TM Emiliano Martínez 2 tháng 9, 1992 (33 tuổi) 67 0 Anh Aston Villa

2 2HV Marcos Senesi 10 tháng 5, 1997 (29 tuổi) 5 0 Anh Tottenham Hotspur
3 2HV Nicolás Tagliafico 31 tháng 8, 1992 (33 tuổi) 83 1 Pháp Lyon
4 2HV Gonzalo Montiel 1 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 45 2 Argentina River Plate
6 2HV Lisandro Martínez 18 tháng 1, 1998 (28 tuổi) 35 2 Anh Manchester United
8 2HV Valentín Barco 23 tháng 7, 2004 (22 tuổi) 5 2 Pháp Strasbourg
13 2HV Cristian Romero 27 tháng 4, 1998 (28 tuổi) 58 4 Anh Tottenham Hotspur
25 2HV Facundo Medina 28 tháng 5, 1999 (27 tuổi) 14 0 Pháp Marseille
26 2HV Nahuel Molina 6 tháng 4, 1998 (28 tuổi) 65 1 Tây Ban Nha Atlético Madrid

5 3TV Leandro Paredes 29 tháng 6, 1994 (32 tuổi) 84 5 Argentina Boca Juniors
7 3TV Rodrigo De Paul 24 tháng 5, 1994 (32 tuổi) 94 2 Hoa Kỳ Inter Miami
11 3TV Giovani Lo Celso 9 tháng 4, 1996 (30 tuổi) 68 5 Tây Ban Nha Betis
14 3TV Exequiel Palacios 5 tháng 10, 1998 (27 tuổi) 41 0 Đức Bayer Leverkusen
16 3TV Thiago Almada 26 tháng 4, 2001 (25 tuổi) 21 5 Tây Ban Nha Atlético Madrid
18 3TV Nico Paz 8 tháng 9, 2004 (21 tuổi) 11 1 Ý Como
20 3TV Alexis Mac Allister 24 tháng 12, 1998 (27 tuổi) 54 7 Anh Liverpool
24 3TV Enzo Fernández 17 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 49 8 Anh Chelsea

9 4 Julián Alvarez 31 tháng 1, 2000 (26 tuổi) 59 15 Tây Ban Nha Atlético Madrid
10 4 Lionel Messi (đội trưởng) 24 tháng 6, 1987 (39 tuổi) 207 125 Hoa Kỳ Inter Miami
15 4 Nicolás González 6 tháng 4, 1998 (28 tuổi) 58 6 Ý Juventus
17 4 Giuliano Simeone 18 tháng 12, 2002 (23 tuổi) 16 2 Tây Ban Nha Atlético Madrid
21 4 José Manuel López 6 tháng 12, 2000 (25 tuổi) 7 0 Brasil Palmeiras
22 4 Lautaro Martínez 22 tháng 8, 1997 (28 tuổi) 84 40 Ý Internazionale

Triệu tập gần đây

Những cầu thủ sau đây cũng đã được triệu tập vào đội hình trong 12 tháng qua.

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Santiago Beltrán 4 tháng 10, 2004 (21 tuổi) 1 0 Argentina River Plate 2026 FIFA World Cup PRE; v.  Iceland, 9 June 2026
TM Walter Benítez 19 tháng 1, 1993 (33 tuổi) 1 0 Anh Crystal Palace 2026 FIFA World Cup PRE
TM Facundo Cambeses 9 tháng 4, 1997 (29 tuổi) 1 0 Argentina Racing 2026 FIFA World Cup PRE

HV Agustín Giay 16 tháng 1, 2004 (22 tuổi) 3 0 Brasil Palmeiras 2026 FIFA World Cup PRE; v.  Iceland, 9 June 2026
HV Nicolás Capaldo 14 tháng 9, 1998 (27 tuổi) 1 0 Đức Hamburger SV 2026 FIFA World Cup PRE; v.  Iceland, 9 June 2026
HV Simón Escobar 17 tháng 7, 2009 (17 tuổi) 0 0 Argentina Vélez Sarsfield v.  Iceland, 9 June 2026
HV Ignacio Ovando 29 tháng 6, 2007 (19 tuổi) 0 0 Argentina Rosario Central v.  Iceland, 9 June 2026
HV Leonardo Balerdi 26 tháng 1, 1999 (27 tuổi) 11 0 Pháp Marseille 2026 FIFA World Cup INJ
HV Marcos Acuña 28 tháng 10, 1991 (34 tuổi) 62 0 Argentina River Plate 2026 FIFA World Cup PRE
HV Germán Pezzella 27 tháng 6, 1991 (35 tuổi) 42 3 Argentina River Plate 2026 FIFA World Cup PRE
HV Lucas Martínez Quarta 10 tháng 5, 1996 (30 tuổi) 16 0 Argentina River Plate 2026 FIFA World Cup PRE
HV Kevin Mac Allister 7 tháng 11, 1997 (28 tuổi) 1 0 Bỉ Union Saint-Gilloise 2026 FIFA World Cup PRE
HV Gabriel Rojas 22 tháng 6, 1997 (29 tuổi) 1 0 Argentina Racing 2026 FIFA World Cup PRE
HV Lautaro Di Lollo 10 tháng 3, 2004 (22 tuổi) 0 0 Argentina Boca Juniors 2026 FIFA World Cup PRE
HV Zaid Romero 15 tháng 12, 1999 (26 tuổi) 0 0 Tây Ban Nha Getafe 2026 FIFA World Cup PRE
HV Tomás Palacios 28 tháng 4, 2003 (23 tuổi) 0 0 Argentina Estudiantes v.  Zambia, 31 March 2026
HV Juan Foyth 12 tháng 1, 1998 (28 tuổi) 22 0 Tây Ban Nha Villarreal v.  Angola, 14 November 2025
HV Lautaro Rivero 1 tháng 11, 2003 (22 tuổi) 1 0 Argentina River Plate v.  Puerto Rico, 14 October 2025
HV Julio Soler 16 tháng 2, 2005 (21 tuổi) 0 0 Anh Bournemouth v.  Ecuador, 9 September 2025

TV Guido Rodríguez 12 tháng 4, 1994 (32 tuổi) 30 1 Tây Ban Nha Valencia 2026 FIFA World Cup PRE
TV Nicolás Domínguez 28 tháng 6, 1998 (28 tuổi) 11 1 Anh Nottingham Forest 2026 FIFA World Cup PRE
TV Emiliano Buendía 25 tháng 12, 1996 (29 tuổi) 2 0 Anh Aston Villa 2026 FIFA World Cup PRE
TV Máximo Perrone 7 tháng 1, 2003 (23 tuổi) 2 0 Ý Como 2026 FIFA World Cup PRE
TV Aníbal Moreno 13 tháng 5, 1999 (27 tuổi) 1 0 Argentina River Plate 2026 FIFA World Cup PRE
TV Milton Delgado 16 tháng 6, 2005 (21 tuổi) 0 0 Argentina Boca Juniors 2026 FIFA World Cup PRE
TV Equi Fernández 25 tháng 7, 2002 (24 tuổi) 0 0 Đức Bayer Leverkusen 2026 FIFA World Cup PRE
TV Alan Varela 4 tháng 7, 2001 (25 tuổi) 0 0 Bồ Đào Nha Porto 2026 FIFA World Cup PRE

Joaquín Freitas 2 tháng 12, 2006 (19 tuổi) 1 0 Argentina River Plate v.  Iceland, 9 June 2026
Tomás Aranda 9 tháng 5, 2007 (19 tuổi) 1 0 Argentina Boca Juniors 2026 FIFA World Cup PRE; v.  Iceland, 9 June 2026
Alejandro Garnacho 1 tháng 7, 2004 (22 tuổi) 8 0 Anh Chelsea 2026 FIFA World Cup PRE
Franco Mastantuono 14 tháng 8, 2007 (18 tuổi) 4 0 Tây Ban Nha Real Madrid 2026 FIFA World Cup PRE
Gianluca Prestianni 31 tháng 1, 2006 (20 tuổi) 1 0 Bồ Đào Nha Benfica 2026 FIFA World Cup PRE
Santiago Castro 18 tháng 9, 2004 (21 tuổi) 0 0 Ý Bologna 2026 FIFA World Cup PRE
Claudio Echeverri 2 tháng 1, 2006 (20 tuổi) 0 0 Tây Ban Nha Girona 2026 FIFA World Cup PRE
Mateo Pellegrino 22 tháng 10, 2001 (24 tuổi) 0 0 Ý Parma 2026 FIFA World Cup PRE
Matías Soulé 15 tháng 4, 2003 (23 tuổi) 0 0 Ý Roma 2026 FIFA World Cup PRE
Joaquín Panichelli 7 tháng 10, 2002 (23 tuổi) 1 0 Pháp Strasbourg v.  Mauritanie, 27 March 2026 INJ
Valentín Carboni 5 tháng 3, 2005 (21 tuổi) 3 0 Argentina Racing v.  Ecuador, 9 September 2025
Ángel Correa 9 tháng 3, 1995 (31 tuổi) 28 3 México UANL v.  Venezuela, 4 September 2025 PRE

INJ Rút lui do chấn thương
PRE Đội hình sơ bộ
RET Chia tay đội tuyển quốc gia
SUS Treo giò
at U23 Được gọi vào đội U-23 Argentina

Kỷ lục

Tính đến 19 tháng 7 năm 2026
Cầu thủ in đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển quốc gia.

Khoác áo nhiều nhất

Lionel Messi là cầu thủ khoác áo nhiều nhất, đồng thời là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển quốc gia.
# Cầu thủ Trận Bàn Sự nghiệp
1 Lionel Messi 207 125 2005–
2 Javier Mascherano 147 3 2003–2018
3 Ángel Di María 145 31 2008–2024
Javier Zanetti 145 5 1994–2011
5 Nicolás Otamendi 139 8 2009–2026
6 Roberto Ayala 115 7 1994–2007
7 Diego Simeone 104 11 1988–2002
8 Sergio Agüero 101 41 2006–2021
9 Oscar Ruggeri 97 7 1983–1994
10 Sergio Romero 96 0 2009–2018

Ghi bàn nhiều nhất

# Cầu thủ Bàn Trận Hiệu số Sự nghiệp
1 Lionel Messi (d/s) 125 207 0.61 2005–
2 Gabriel Batistuta 56 78 0.72 1991–2002
3 Sergio Agüero 41 101 0.41 2006–2021
4 Lautaro Martínez 40 84 0.48 2018–
5 Hernán Crespo 35 64 0.55 1995–2007
6 Diego Maradona 34 91 0.37 1977–1994
7 Gonzalo Higuaín 31 75 0.41 2009–2018
Ángel Di María 31 145 0.21 2008–2024
9 Luis Artime 24 25 0.96 1961–1967
10 Leopoldo Luque 22 45 0.49 1975–1981
Daniel Passarella 22 70 0.31 1976–1986

Đội trưởng vô địch World Cup

Những đội trưởng vô địch World Cup của Argentina
Daniel Passarella năm 1978
Diego Maradona năm 1986
Lionel Messi năm 2022
Năm Cầu thủ Trận Bàn
1978 Daniel Passarella 70 22
1986 Diego Maradona 91 34
2022 Lionel Messi 206 125

Ra sân

Bàn thắng

Kỷ lục huấn luyện viên trưởng

Dẫn dắt nhiều trận nhất
Guillermo Stábile: 127 Guillermo đã huấn luyện Argentina trong 123 trận đấu, khiến ông trở thành một trong số ít huấn luyện viên đã cầm quân hơn 100 trận đấu quốc tế. Khi còn làm việc cho đội tuyển quốc gia, ông đã dẫn dắt họ đến những chiến thắng tại Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ vào các năm 1941, 1945, 1946, 1947, 1955, và 1957.

Thành tích và giải thưởng World Cup

Quả bóng vàng World Cup

Quả bóng vàng World Cup được FIFA trao cho cầu thủ xuất sắc nhất tại World Cup kể từ năm 1982; Các cầu thủ Argentina đã ba lần vô địch; Maradona năm 1986 và Messi năm 20142022.

Vua phá lưới World Cup

Guillermo Stábile năm 1930Mario Kempes năm 1978 đều là những cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại các kỳ World Cup tương ứng của họ.

Găng tay vàng World Cup

Thủ môn xuất sắc nhất World Cup được trao giải Găng tay vàng FIFA World Cup. Vào năm 2022, Emiliano Martínez đã giành được giải thưởng này.

Giải cầu thủ trẻ World Cup

Cầu thủ xuất sắc nhất tại World Cup không quá 21 tuổi trong năm dương lịch của giải đấu được trao Giải thưởng Cầu thủ trẻ của World Cup. Vào năm 2022, Enzo Fernández đã giành được giải thưởng này.

Thành tích tại các giải đấu quốc tế

     Vô địch       Á quân       Hạng ba     Giải đấu diễn ra trên sân nhà 

*Các trận hòa bao gồm các trận đấu loại trực tiếp được quyết định trên loạt sút luân lưu.

Giải vô địch bóng đá thế giới

FIFA World Cup Vòng loại
Năm Thành tích Thứ hạng ST T H B BT BB Đội hình ST T H B BT BB
Uruguay 1930 Á quân 2 5 4 0 1 18 9 Đội hình Vượt qua vòng loại với tư cách khách mời
Ý 1934 Vòng 16 đội 9 1 0 0 1 2 3 Đội hình Vượt qua vòng loại tự động
Pháp 1938 Rút lui Rút lui
Brasil 1950
Thụy Sĩ 1954
Thụy Điển 1958 Vòng bảng 13 3 1 0 2 5 10 Đội hình 4 3 0 1 10 2
Chile 1962 Vòng bảng 10 3 1 1 1 2 3 Đội hình 2 2 0 0 11 3
Anh 1966 Tứ kết 5 4 2 1 1 4 2 Đội hình 4 3 1 0 9 2
México 1970 Không vượt qua vòng loại 4 1 1 2 4 6
Tây Đức 1974 Vòng bảng thứ 2 8 6 1 2 3 9 12 Đội hình 4 3 1 0 9 2
Argentina 1978 Vô địch 1 7 5 1 1 15 4 Đội hình Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
Tây Ban Nha 1982 Vòng bảng thứ 2 11 5 2 0 3 8 7 Đội hình Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
México 1986 Vô địch 1 7 6 1 0 14 5 Đội hình 6 4 1 1 12 6
Ý 1990 Á quân 2 7 2 3 2 5 4 Đội hình Vượt qua vòng loại với tư cách đương kim vô địch
Hoa Kỳ 1994 Vòng 16 đội 10 4 2 0 2 8 6 Đội hình 8 4 2 2 9 10
Pháp 1998 Tứ kết 6 5 3 1 1 10 4 Đội hình 16 8 6 2 23 13
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Vòng bảng 18 3 1 1 1 2 2 Đội hình 18 13 4 1 42 15
Đức 2006 Tứ kết 6 5 3 2 0 11 3 Đội hình 18 10 4 4 29 17
Cộng hòa Nam Phi 2010 Tứ kết 5 5 4 0 1 10 6 Đội hình 18 8 4 6 23 20
Brasil 2014 Á quân 2 7 5 1 1 8 4 Đội hình 16 9 5 2 35 15
Nga 2018 Vòng 16 đội 16 4 1 1 2 6 9 Đội hình 18 7 7 4 19 16
Qatar 2022 Vô địch 1 7 4 2 1 15 8 Đội hình 17 11 6 0 27 8
Canada México Hoa Kỳ 2026 Á quân 2 8 7 0 1 19 8 Đội hình 18 12 2 4 31 10
Tổng cộng 18/22
3 lần vô địch
96 54 17 25 171 109 171 98 44 29 293 145

Cúp bóng đá Nam Mỹ

Tính đến hết giải đấu năm 2024, Argentina là đội tuyển thành công nhất với 16 lần vô địch, 14 lần á quân và 5 lần giành vị trí thứ ba.

Copa América
Năm Thành
tích
Thứ hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Argentina 1916 Á quân 2 3 1 2 0 7 2
Uruguay1917 2 3 2 0 1 5 3
Brasil 1919 Hạng ba 3 3 1 0 2 7 7
Chile 1920 Á quân 2 3 1 2 0 4 2
Argentina 1921 Vô địch 1 3 3 0 0 5 0
Brasil 1922 Hạng tư 4 4 2 0 2 6 3
Uruguay 1923 Á quân 2 3 2 0 1 6 6
Uruguay 1924 2 3 1 2 0 2 0
Argentina 1925 Vô địch 1 4 3 1 0 11 4
Chile 1926 Á quân 2 4 2 1 1 14 3
Perú 1927 Vô địch 1 3 3 0 0 15 4
Argentina 1929 1 3 3 0 0 9 1
Perú 1935 Á quân 2 3 2 0 1 8 5
Argentina 1937 Vô địch 1 6 5 0 1 14 5
1939 Rút lui
Chile 1941 Vô địch 1 4 4 0 0 10 2
Uruguay 1942 Á quân 2 6 4 1 1 21 6
Chile 1945 Vô địch 1 6 5 1 0 22 5
Argentina 1946 1 5 5 0 0 17 3
Ecuador 1947 1 7 6 1 0 28 4
1949 Rút lui
1953
Chile 1955 Vô địch 1 5 4 1 0 18 6
Uruguay1956 Hạng ba 3 5 3 0 2 5 3
Perú 1957 Vô địch 1 6 5 0 1 25 6
Argentina 1959 1 6 5 1 0 19 5
Ecuador 1959 Á quân 2 4 2 1 1 9 9
Bolivia 1963 Hạng ba 3 6 3 1 2 15 10
Uruguay 1967 Á quân 2 5 4 0 1 12 3
Nam Mỹ 1975 Vòng bảng 5 4 2 0 2 17 4
Nam Mỹ 1979 8 4 1 1 2 7 6
Nam Mỹ 1983 6 4 1 3 0 5 4
Argentina 1987 Hạng tư 4 4 1 1 2 5 4
Brasil 1989 Hạng ba 3 7 2 3 2 2 4
Chile 1991 Vô địch 1 7 6 1 0 16 6
Ecuador 1993 1 6 2 4 0 6 4
Uruguay 1995 Tứ kết 5 4 2 1 1 8 6
Bolivia 1997 6 4 1 2 1 4 3
Paraguay 1999 8 4 2 0 2 6 6
2001 Rút lui
Perú 2004 Á quân 2 6 4 1 1 16 6
Venezuela 2007 2 6 5 0 1 16 6
Argentina 2011 Tứ kết 7 4 1 3 0 5 2
Chile 2015 Á quân 2 6 3 3 0 10 3
Hoa Kỳ 2016 2 6 5 1 0 18 2
Brasil 2019 Hạng ba 3 6 3 1 2 7 6
Brasil 2021 Vô địch 1 7 5 2 0 12 3
Hoa Kỳ 2024 1 6 5 1 0 9 1
Tổng cộng 44/48
16 lần vô địch
208 132 43 33 483 183

Cúp Liên đoàn các châu lục

Cúp Liên đoàn các châu lục
Năm Thành
tích
Thứ hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Ả Rập Xê Út 1992 Vô địch 1 2 2 0 0 7 1
Ả Rập Xê Út 1995 Á quân 2 3 1 1 1 5 3
Ả Rập Xê Út 1997 Không giành quyền tham dự
México 1999
Hàn Quốc Nhật Bản 2001
Pháp 2003
Đức 2005 Á quân 2 5 2 2 1 10 10
Cộng hòa Nam Phi 2009 Không giành quyền tham dự
Brasil 2013
Nga 2017
Tổng cộng 3/10
1 lần vô địch
10 5 3 2 22 14

Siêu cúp Liên lục địa CONMEBOL–UEFA

Siêu cúp Liên lục địa CONMEBOL–UEFA
Năm Thành
tích
Thứ hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Pháp 1985 Không giành quyền tham dự
Argentina 1993 Vô địch 1 1 0 1 0 1 1
Anh 2022 Vô địch 1 1 1 0 0 3 0
2026 Bị huỷ
Tổng cộng 3/4
2 lần vô địch
2 1 1 0 4 1
*Trận hòa được quyết định bằng loạt sút luân lưu.

Thế vận hội Mùa hè

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Thế vận hội Mùa hè
Năm Thành
tích
Thứ hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
1900 Không tham dự
1904
1908
1912
1920
1924
Hà Lan 1928 Huy chương bạc 2 5 3 1 1 25 7
1936 Không tham dự
1948
1952
1956
Ý 1960 Tứ kết 7 3 2 0 1 6 4
Nhật Bản 1964 Vòng bảng 10 2 0 1 1 3 4
1968 Không vượt qua vòng loại
1972
1976
1980 Vượt qua vòng loại nhưng rút lui
1984 Không vượt qua vòng loại
Hàn Quốc 1988 Tứ kết 8 4 1 1 2 4 5
Tổng cộng 1 lần huy
chương bạc
4/19 14 6 3 5 38 20

Đại hội Thể thao liên Mỹ

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1995)
Đại hội Thể thao liên Mỹ
Năm Thành
tích
Thứ hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Argentina 1951 Huy chương vàng 1 4 4 0 0 16 2
México 1955 1 6 5 1 0 23 7
Hoa Kỳ 1959 1 6 5 1 0 20 4
Brasil 1963 Huy chương bạc 2 4 2 2 0 11 3
Canada 1967 Vòng sơ loại 5 3 1 1 1 7 3
Colombia 1971 Huy chương vàng 1 8 6 2 0 13 4
México 1975 Huy chương đồng 3 6 5 1 0 19 1
Puerto Rico 1979 3 5 4 1 0 9 0
Venezuela 1983 Vòng sơ loại 5 2 0 0 2 0 4
Hoa Kỳ 1987 Huy chương đồng 3 5 3 1 1 11 3
1991 Không vượt qua vòng loại
Argentina 1995 Huy chương vàng 1 6 4 2 0 10 4
Tổng cộng 5 lần huy
chương vàng
11/12 55 39 12 4 139 35

Thành tích đối đầu

Kình địch

Brasil

Argentina và Brasil có một cuộc đối đầu quyết liệt, được xem là một trong những cuộc đối đầu lâu đời nhất ở Nam Mỹ. Các trận đấu giữa hai đội, ngay cả khi chỉ là các trận đấu giao hữu, thường được đánh dấu bởi những sự kiện nổi bật và gây tranh cãi. Cuộc đối đầu này còn được gọi là “Trận chiến của châu Mỹ”. FIFA đã mô tả đây là “bản chất của sự kình địch trong bóng đá”.

Sự kình địch này còn mở rộng đến việc so sánh giữa PeléDiego Maradona. Một số đồng hương của họ cũng thường xuyên xuất hiện trong những cuộc tranh luận như vậy. Cặp đôi nổi bật tiếp theo có lẽ là Garrincha của Brasil và Alfredo Di Stéfano của Argentina. Những nhân vật nổi bật nhất từ hai quốc gia này trong bóng đá hiện đại là Neymar của Brasil và Lionel Messi của Argentina. Cả Pelé và Maradona đều đã tuyên bố Neymar và Messi là “người kế nhiệm” của họ.

Anh

Với mối thù bắt nguồn từ World Cup 1966 và trở nên căng thẳng hơn sau chiến tranh Falkland năm 1982, Argentina và Anh đã có nhiều lần chạm trán tại các kỳ World Cup. Một trong số đó là trận tứ kết của World Cup 1986, nơi Diego Maradona ghi hai bàn thắng vào lưới đội tuyển Anh. Bàn đầu tiên là một pha dùng tay chơi bóng, nhưng trọng tài vẫn công nhận bàn thắng. Bàn thứ hai, được ghi chỉ vài phút sau đó, chứng kiến Maradona vượt qua năm cầu thủ Anh trước khi ghi bàn, và thường được mô tả là một trong những bàn thắng vĩ đại nhất — nếu không muốn nói là vĩ đại nhất — trong lịch sử bóng đá.

Hai đội sau đó lại gặp nhau ở vòng 16 đội của World Cup 1998, nơi Argentina giành chiến thắng trên chấm luân lưu, và tiếp tục đối đầu ở vòng bảng của World Cup 2002, với chiến thắng 1–0 nghiêng về Anh nhờ quả phạt đền của David Beckham, người từng bị truất quyền thi đấu trong trận gặp Argentina bốn năm trước đó.

Đức

Diego MaradonaKarl-Heinz Rummenigge trước trận chung kết World Cup 1986 giữa Argentina và Tây Đức

Argentina đã đối đầu với Đức trong bảy trận đấu tại FIFA World Cup, bao gồm ba trận chung kết World Cup. Tại World Cup 1986 Argentina đã thắng với tỷ số 3–2, nhưng tại World Cup 1990World Cup 2014 đội tuyển Đức là bên giành chiến thắng với tỷ số 1–0 trong cả hai lần.

Lần đầu tiên hai đội gặp nhau là ở vòng bảng của World Cup 1958, nkhi Argentina để thua trước đương kim vô địch Tây Đức với tỷ số 1–3. Tại World Cup 1966, hai đội lại một lần nữa đối đầu nhau ở vòng bảng và trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 0–0. World Cup 2006, hai đội gặp nhau ở vòng tứ kết, Argentina thua trong loạt sút luân lưu sau khi hòa 1–1, sau đó đã xảy ra một cuộc ẩu đả trên sân giữa một số cầu thủ. Họ gặp lại nhau ở vòng tứ kết tại World Cup 2010, lần này Đức giành chiến thắng với tỉ số 4–0. Họ đã đối đầu liên tiếp ba kỳ World Cup, với trận chung kết tại Brasil năm 2014, nơi Argentina bị đánh bại trong hiệp phụ với tỉ số 1–0.

Uruguay

Argentina có một sự đối đầu lâu dài với Uruguay, bắt nguồn từ các giải vô địch Nam Mỹ đầu tiên, Thế vận hội Mùa hè 1928trận chung kết World Cup đầu tiên, được tổ chức vào năm 1930.

Argentina và Uruguay giữ kỷ lục về số trận đấu quốc tế nhiều nhất giữa hai quốc gia. Hai đội đã đối đầu nhau 197 lần kể từ năm 1902. Trận đấu đầu tiên giữa Argentina và Uruguay cũng là trận đấu quốc tế chính thức đầu tiên được tổ chức ngoài Vương quốc Anh.

Hà Lan

Được giới truyền thông thể thao xem là hai đội bóng vĩ đại trong lịch sử, Argentina và Hà Lan đã phát triển một sự cạnh tranh gay gắt. Họ đã gặp nhau tổng cộng mười lần, trong đó có sáu lần tại World Cup.

Hai đội lần đầu gặp nhau vào ngày 26 tháng 5 năm 1974 trong một trận giao hữu quốc tế, với chiến thắng 4–1 thuộc về Hà Lan. Cuộc đối đầu nổi bật nhất của họ diễn ra tại trận chung kết World Cup 1978, nơi Argentina giành chiến thắng. Một trong những lần gặp gỡ gần đây và căng thẳng nhất là tại vòng tứ kết của World Cup 2022, với kết quả hòa 2–2 và Argentina giành chiến thắng trên loạt sút luân lưu, được biết đến với tên gọi "Trận Lusail".

México

Argentina có một mối thù nhỏ với México, phát triển vào những năm 1990. Mối thù này được coi là một chiều khi người Argentina không xem México là đối thủ. Mặc dù trận đấu chính thức đầu tiên giữa hai quốc gia diễn ra tại World Cup 1930, nơi Argentina thắng México 6–3 ở vòng bảng, nhưng mối thù này chỉ nổi lên vào cuối thế kỷ 20, đặc biệt sau trận chung kết Copa América 1993, khi Argentina đánh bại México 2–1. Đó là lần đầu tiên một quốc gia không thuộc Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ góp mặt ở trận chung kết Copa América và cũng là trận chung kết đầu tiên giữa hai đội này.

Mối thù này tiếp tục trong các giải đấu cấp câu lạc bộ, khi Argentina và México lần đầu gặp nhau tại Copa Interamericana 1968. Mối quan hệ cạnh tranh giữa hai quốc gia ở cấp câu lạc bộ tăng lên vào cuối những năm 1990, khi các câu lạc bộ México được mời tham gia Copa Libertadores và đã có những trận đấu đáng nhớ với Boca Juniors.

Trong suốt World Cup 2022 tại Qatar, một số cổ động viên México và Argentina đã xảy ra ẩu đả ở Doha trước trận đấu giữa hai đội, thể hiện sự thù địch gay gắt. Cổ động viên hai bên lại tiếp tục xung đột bên trong sân vận động Lusail sau trận đấu mà Argentina thắng 2–0, giúp Argentina có cơ hội đi tiếp và buộc México phải thắng Ả Rập Xê Út để giành tấm vé đi tiếp, kết quả là Argentina và Ba Lan lọt vào vòng trong còn México bị loại cùng Ả Rập Xê Út.

Cảm giác đối đầu này được cổ động viên và truyền thông México cảm nhận rõ hơn, vì người Argentina không xem México là đối thủ như Brazil, Đức, Uruguay hay Anh.

Nigeria

Một cuộc đối đầu thường xuyên phát triển từ những năm 1990 giữa Argentina và Nigeria, không dựa trên sự gần gũi về địa lý, cuộc chiến lâu dài vì danh hiệu hay các yếu tố bên ngoài bóng đá, mà là do tần suất các trận đấu quan trọng giữa hai đội. Điều này bao gồm năm trận đấu vòng bảng World Cup, tất cả đều do Argentina thắng với cách biệt một bàn: 2–1 năm 1994, 1–0 năm 2002, 1–0 năm 2010, 3–2 năm 20142–1 năm 2018. Cuộc đối đầu này là cặp trận phổ biến nhất trong lịch sử giải đấu có sự góp mặt của một quốc gia châu Phi, và đã diễn ra trong năm trên sáu kỳ World Cup mà Nigeria tham dự. Hai đội cũng từng gặp nhau tại Cúp Nhà vua Fahd 1995 (tiền thân của Confederations Cup) khi là nhà vô địch của các châu lục, hòa 0–0.

Dưới cấp độ đội tuyển quốc gia chính thức, các đội Olympic của họ cũng đã đối đầu trong trận chung kết giành huy chương vàng Olympics 1996 (Nigeria thắng 3–2), và 2008 (Argentina thắng 1–0). Trận chung kết Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới 2005 cũng là cuộc đối đầu giữa hai đội, cả hai bàn thắng của Argentina trong chiến thắng 2–1 đều đến từ các quả phạt đền do Lionel Messi thực hiện. Tuy nhiên, tại Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2023, Nigeria đã đánh bại đội chủ nhà Argentina 2−0 ở vòng 16 đội.

Cảm giác về sự kình địch được cảm nhận rõ rệt hơn từ phía Nigeria, do Argentina gần như luôn giành chiến thắng trong các lần chạm trán, nên họ không coi Nigeria là đối thủ ngang hàng như Brazil, Anh, Uruguay hay Đức — trái ngược với đội bóng Tây Phi, những người vẫn luôn khao khát vượt qua đối thủ danh tiếng hơn.

Danh hiệu

Thế giới

Giải vô địch bóng đá thế giới / Cúp bóng đá thế giới

Cúp Liên đoàn các châu lục

Cúp các đội vô địch CONMEBOL–UEFA / Finalissima

Thế vận hội Mùa hè / Summer Olympics

  • Huy chương vàng (2): 2004, 2008
  • Huy chương bạc (1): 1928

Khu vực

Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ / Cúp bóng đá Nam Mỹ

Giải vô địch Liên châu Mỹ

  • Vô địch (1): 1960
  • Á quân (1): 1956

Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ

Giao hữu

Giải thưởng

  • Đội hình tiêu biểu của FIFA (4): 2007, 2016, 2023, 2024
  • Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus cho Đội hình tiêu biểu của năm (1): 2023
  • Đội hình tiêu biểu của năm do World Soccer bình chọn (2): 1986, 2022
  • Đội hình tiêu biểu của năm do Gazzetta Sports bình chọn (2): 1978, 1986
  • Đội hình tiêu biểu của năm do Guerin Sportivo bình chọn (1): 1986
  • Giải thưởng Fair Play FIFA World Cup (1): 1978
  • Giải thưởng Fair Play Copa America (1): 2016
  • Đội hình tiêu biểu của năm do AIPS bình chọn (2): 2022, 2023

Ghi chú và tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Từ năm 1988, giải đấu bị hạn chế cho các đội có không quá 3 cầu thủ trên 23 tuổi và những trận đấu này không được coi là một phần trong thành tích của đội tuyển quốc gia, cũng như không được tính số lần khoác áo.
  2. ^ Từ năm 1992 trở đi, các huy chương mà Argentina giành được là đối với đội U-23, không phải đội cấp cao, theo quy định của IOC.
  3. ^ Đã có tiền lệ về trận đấu diễn ra giữa đại diện Argentina đấu với đội tuyển Uruguay, vào ngày 16 tháng 5 năm 1901, tại Paso del Molino. Tuy nhiên, hầu hết các nhà sử học loại bỏ trận đấu này là trận đầu tiên, nói rằng trận đấu đó không phải do AUF tổ chức mà bởi Albion F.C.. Trên thực tế, đội hình ban đầu có chín cầu thủ từ Albion và hai người từ Nacional.
  4. ^ Calomino được trích dẫn trên trang web của AFA là một trong những huấn luyện viên đã giành được danh hiệu Copa América. Tuy nhiên, các nguồn khác không bao gồm ông với tư cách là huấn luyện viên.
  5. ^ Mặc dù CanadaHoa Kỳ đã thi đấu hai trận quốc tế vào các năm 1885 và 1886, nhưng không trận nào được coi là chính thức; Canada chỉ bắt đầu thi đấu trận quốc tế chính thức từ năm 1904[cần dẫn nguồn] còn Hoa Kỳ thì từ năm 1916.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Danh hiệu
Tiền nhiệm:
 Brasil
Vô địch thế giới
1978
Kế nhiệm:
 Ý
Tiền nhiệm:
 Ý
Vô địch thế giới
1986
Kế nhiệm:
 Tây Đức
Tiền nhiệm:
giải lần đầu
Vô địch Cúp Confederations
1992
Kế nhiệm:
 Đan Mạch
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1921
Kế nhiệm:
 Brasil
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1925
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1927; 1929
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1937
Kế nhiệm:
 Perú
Tiền nhiệm:
 Perú
Vô địch Nam Mỹ
1941
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1945; 1946; 1947
Kế nhiệm:
 Brasil
Tiền nhiệm:
 Paraguay
Vô địch Nam Mỹ
1955
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1957; 1959
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Brasil
Vô địch Nam Mỹ
1991; 1993
Kế nhiệm:
 Brasil


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng

Thống kê chỉ số

Số trận 3 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0