Ezequiel Muñoz
Số áo #4Defender
Argentina
Câu lạc bộ hiện tại
Gimnasia (Mendoza)
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
| Biệt danh | La Furia Roja (Cơn thịnh nộ màu đỏ) La Roja (Đội quân đỏ) La Furia (Cơn thịnh nộ) Manada De Toros (Đàn bò tót) | ||
|---|---|---|---|
| Liên đoàn châu lục | UEFA (châu Âu) | ||
| Huấn luyện viên trưởng | Luis de la Fuente | ||
| Đội trưởng | Rodri | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Sergio Ramos (180) | ||
| Ghi bàn nhiều nhất | David Villa (59) | ||
| Mã FIFA | ESP | ||
| |||
| Hạng FIFA | |||
| Hiện tại | 1 | ||
| Cao nhất | 1 (Tháng 7 năm 2008-tháng 6 năm 2009 Tháng 10 năm 2009–tháng 3 năm 2010 Tháng 7 năm 2010–tháng 7 năm 2011 Tháng 10 năm 2011–tháng 7 năm 2014) | ||
| Thấp nhất | 25 (Tháng 3 năm 1998) | ||
| Hạng Elo | |||
| Hiện tại | 3 | ||
| Cao nhất | 1 (Tháng 9 năm 1920-tháng 5 năm 1924 Tháng 9–tháng 12 năm 1925 Tháng 6 năm 2008–tháng 6 năm 2009 Tháng 7 năm 2010–tháng 6 năm 2013) | ||
| Thấp nhất | 19 (Tháng 6–tháng 10 năm 1969 Tháng 11 năm 1991) | ||
| Trận quốc tế đầu tiên | |||
(Forest, Bỉ; 28 tháng 8 năm 1920) | |||
| Trận thắng đậm nhất | |||
(Madrid, Tây Ban Nha; 22 tháng 8 năm 1933) | |||
| Trận thua đậm nhất | |||
(Amsterdam, Hà Lan; 4 tháng 6 năm 1928) (Luân Đôn, Anh, 9 tháng 12 năm 1931) | |||
| Giải thế giới | |||
| Sồ lần tham dự | 17 (Lần đầu vào năm 1934) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (2010, 2026) | ||
| Giải vô địch bóng đá châu Âu | |||
| Sồ lần tham dự | 12 (Lần đầu vào năm 1964) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (1964, 2008, 2012, 2024) | ||
| UEFA Nations League | |||
| Sồ lần tham dự | 2 (Lần đầu vào năm 2021) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (2023) | ||
| Cúp Liên đoàn các châu lục | |||
| Sồ lần tham dự | 2 (Lần đầu vào năm 2009) | ||
| Kết quả tốt nhất | Á quân (2013) | ||
| Thành tích huy chương Thế vận hội | ||
|---|---|---|
| Bóng đá nam | ||
| Antwerp 1920 | Tokyo 2020 | |
Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de España) là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha (Real Federación Española de Fútbol ;RFEF) và đại diện cho Tây Ban Nha trên bình diện quốc tế chính thức kể từ năm 1920. Tây Ban Nha có những biệt danh như La Roja ("Đội Quân Màu Đỏ"), La Furia Roja ("Cơn Thịnh Nộ Màu Đỏ"), Manada De Toros ("Đàn Bò Tót"), La Furia Española ("Cơn Thịnh Nộ Của Tây Ban Nha") hay đơn giản là La Furia ("Cơn Thịnh Nộ"). Tây Ban Nha trở thành thành viên chính thức của FIFA vào năm 1904 nhưng Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha lại được thành lập vào năm 1909.
Tây Ban Nha là 1 trong những đội tuyển giàu thành tích nhất thế giới, ở cấp độ châu lục Tây Ban Nha đang nắm giữ kỷ lục 4 chức vô địch châu Âu (1964, 2008, 2012, 2024), cùng 1 lần vô địch UEFA Nations League. Tây Ban Nha là 1 trong 8 đội tuyển từng vô địch World Cup, với 2 lần lên ngôi vô địch vào năm 2010 và 2026, Tây Ban Nha và Đức là 2 đội tuyển có cả đội nam và nữ vô địch thế giới, trong đó đội nam và nữ Tây Ban Nha hiện đang là đương kim vô địch thế giới. Tây Ban Nha giữ kỷ lục có số trận bất bại liên tiếp nhiều nhất thế giới với 38 trận kéo dài trong gần 2 năm và có 7 lần nhận giải thưởng "Đội bóng của năm", trong đó có 6 năm hoàng kim từ 2008 đến 2013. Đội đã tham dự 17 trong tổng số 23 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới (liên tục kể từ năm 1978) và 12 trong tổng số 17 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu.
Lịch sử
Những năm đầu
Tây Ban Nha là thành viên của FIFA kể từ khi tổ chức này được thành lập vào năm 1904, mặc dù RFEF được thành lập lần đầu tiên vào năm 1909. Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1920, đại diện cho Tây Ban Nha tham dự Thế vận hội Mùa hè tổ chức tại Bỉ trong năm đó. Tây Ban Nha có trận đấu đầu tiên vào ngày 29 tháng 8 năm 1920 đấu với Đội tuyển Đan Mạch. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 1–0 cho Tây Ban Nha. Ở trận đấu tiếp theo, Tây Ban Nha không thể giành chiến thắng khi để thua Bỉ 1–3, qua đó có tấm huy chương bạc đầu tiên. Tây Ban Nha giành quyền tham dự FIFA World Cup lần đầu tiên vào năm 1934, đánh bại Brazil trong trận ra quân và thua trong trận đá lại trước đội chủ nhà và nhà vô địch sau đó là Ý ở tứ kết.
Những cuộc nội chiến và Chiến tranh thế giới lần thứ hai làm Tây Ban Nha không thể chơi 1 trận đấu nào sau World Cup 1934 và World Cup 1950. Tại vòng chung kết năm 1950 ở Brazil, họ đứng đầu bảng và tiến vào vòng chung kết, nơi họ giành vị trí thứ 4.
Euro 1964
Tây Ban Nha có danh hiệu đầu tiên khi đánh bại Hungary 2–1 để tiến tới trận chung kết và thi đấu với Liên Xô. Tây Ban Nha tiếp tục giành chiến thắng 2–1 để có danh hiệu lớn đầu tiên sau 44 năm.
World Cup 1982
Năm 1976, Tây Ban Nha được chọn là chủ nhà của World Cup 1982, được kỳ vọng rất cao nhưng Tây Ban Nha chỉ vào được tới vòng 2.
Euro 1984
Cựu huấn luyện viên Real Madrid Miguel Muñoz, người đã dẫn dắt Tây Ban Nha trong năm 1969, trở lại và huấn luyện tuyển. Vòng loại Euro 1984 thì Tây Ban Nha nằm ở bảng 7 cùng với Hà Lan, Ireland, Iceland và Malta. Trong trận đấu cuối cùng, Tây Ban Nha cần thắng ít nhất trên 11 bàn để có thể vượt qua Hà Lan ở vị trí dẫn đầu. Sau khi dẫn 3–1. ở hiệp 1, hiệp 2 Tây Ban Nha ghi thêm 9 bàn thắng biến tỉ số thành 12–1, dẫn đầu nhóm để tới vòng chung kết. Tại vòng chung kết, Tây Ban Nha nằm ở bảng B cùng với Romania, Bồ Đào Nha và Tây Đức, sau hai trận hòa 1–1, Tây Ban Nha thắng 1–0 trước Tây Đức ở trận đấu cuối cùng để đứng đầu bảng B. Bán kết họ gặp Đan Mạch, hòa 1–1 và thắng 5–4 trên chấm penalty. Sau đó Tây Ban Nha đã bị Pháp đánh bại 2–0 ở chung kết và để tuột mất chức vô địch.
Euro 2000 và World Cup 2002
Sau khi thất bại ở trận đấu đầu tiên của vòng loại Euro 2000 (thua Síp 2-3), Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha quyết định sa thải huấn luyện viên Javier Clemente, José Antonio Camacho lên thay. Tây Ban Nha thắng những trận còn lại của vòng bảng. Nhưng thất bại ở tứ kết khi để thua Pháp 2-1 và chấp nhận dừng bước.
Vòng loại World Cup 2002 diễn ra đúng như mong đợi,đứng đầu bảng đấu có rất nhiều đối thủ mạnh. Tại VCK World Cup, Tây Ban Nha đứng đầu bảng B với ba trận toàn thắng. Ở vòng tứ kết thì Tây Ban Nha đối đầu với Hàn Quốc và để thua trên chấm luân lưu.
Euro 2004
Euro 2004 diễn ra tại Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha rơi vào bảng A với Bồ Đào Nha, Nga và Hy Lạp. Họ đánh bại Nga 1–0, hòa Hy Lạp 1–1 nhưng lại thất bại trước Bồ Đào Nha và không đủ điểm để vượt qua vòng bảng. Iñaki Sáez bị sa thải 1 tuần sau đó và Luis Aragones lên thay.
2006-2014: Thế hệ vàng thống trị thế giới
Tại World Cup 2006 tổ chức tại Đức, Tây Ban Nha lọt vào bảng H và xuất sắc thắng tất cả các trận đấu nhưng lại thất bại trước Pháp 1–3 tại vòng 2. Họ được an ủi bằng giải thưởng Fair-play (chia sẻ cùng Brazil).
Sau khi bị loại khỏi giải, Luis Aragonés nhận ra đội bóng không có đủ thể lực và tranh chấp không quyết liệt để gây khó khăn cho đối thủ, họ bắt đầu tập trung nghiên cứu Tiki-Taka, chiến thuật sử dụng các đường chuyền ngắn, nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng.
Euro 2008

Tại vòng loại Euro 2008, Tây Ban Nha rơi vào bảng đứng đầu F với 28 điểm. Tại lễ bốc thăm cho vòng chung kết, đội rơi vào bảng D với Nga, Thụy Điển và đương kim vô địch Hy Lạp, tại trận mở màn đội giành chiến thắng thuyết phục với tỷ số 4–1 trước Nga. Tây Ban Nha sau đó đánh bại Thụy Điển và đương kim vô địch Hy Lạp cùng tỷ số 2–1 để vào tứ kết với ngôi đầu.
Đương kim vô địch thế giới lúc đó, Ý, là đối thủ của họ trong trận tứ kết. Hai đội chơi giằng co và 120 phút kết thúc với tỷ số 0–0, buộc cả hai phải phân định thắng thua trên chấm phạt đền. Tây Ban Nha chiến thắng ở loạt luân lưu với tỉ số 4-2. Trong loạt sút luân lưu, ngoại trừ Guiza không thắng được Buffon ở loạt sút thứ tư, Tây Ban Nha đã thực hiện thành công cả bốn quả luân lưu còn lại bằng những cú sút lạnh lùng quyết đoán của Villa, Santi Cazorla, Senna rồi Fabregas. Nhưng công lớn nhất phải thuộc về thủ môn Iker Casillas. Trong một ngày thi đấu xuất thần, anh đã phán đoán chuẩn xác, đổ người từ chối các pha dứt điểm của Daniele De Rossi ở loạt sút thứ hai rồi Antonio Di Natale ở loạt sút thứ tư. Tây Ban Nha gặp lại Nga tại bán kết và cũng đánh bại họ một lần nữa với chiến thắng 3-0, qua đó lọt vào chung kết gặp Đức. Tại trận chung kết tại Sân vận động Ernst Happel, Viên. Tây Ban Nha đánh bại Đức 1-0 với bàn thắng duy nhất của Fernando Torres ở phút thứ 33. Đây là danh hiệu lớn đầu tiên của Tây Ban Nha kể từ năm 1964. Tây Ban Nha cũng là đội ghi được nhiều bàn nhất với 12 bàn thắng, David Villa giành danh hiệu vua phá lưới, Xavi được bầu chọn là cầu thủ hay nhất giải, và có tới 9 cầu thủ của Tây Ban Nha được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.
Luis Aragonés đã quyết định ra đi trong vinh quang sau khi giành chức vô địch Euro 2008, người lên thay là Vicente del Bosque. Năm 2008, David Villa ghi được 16 bàn sau 15 trận cho đội tuyển, phá vỡ kỷ lục của Raúl. Ngày 11 tháng 2 năm 2009, anh tiếp tục lập kỷ lục với bàn thắng vào lưới Anh, trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên ghi bàn trong sáu trận liên tiếp. Chức vô địch Euro 2008 đưa Tây Ban Nha tham dự Confederation Cup 2009 lần đầu tiên, nơi họ toàn thắng tại vòng bảng. Trong trận thắng New Zealand 5-0, Fernando Torres cũng lập kỷ lục khi lập cú hat-trick nhanh nhất lịch sử. Hai trận đấu còn lại, Tây Ban Nha thắng Iraq 1-0 và thắng chủ nhà Nam Phi 2-0. Ngày 24 tháng 6 năm 2009, kỉ lục bất bại 35 trận liên tiếp của Tây Ban Nha chấm dứt khi họ để thua Mỹ 0-2 ở bán kết. Tây Ban Nha sau đó đánh bại Nam Phi 3-2 sau hiệp phụ tại trận tranh giải 3 để đoạt huy chương đồng.
World Cup 2010: Lần đầu lên đỉnh thế giới
Xem thêm:Giải vô địch bóng đá thế giới 2010, Trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2010

Tại World Cup 2010, Tây Ban Nha nằm ở bảng H cùng với Thụy Sĩ, Honduras và Chile. Tây Ban Nha bất ngờ thua 0-1 trong trận mở màn với Thụy Sĩ. Ở trận đấu thứ hai, họ đánh bại Honduras với hai bàn thắng của David Villa. Tây Ban Nha đánh bại Chile 2-1 tại lượt trận cuối cùng, qua đó giành quyền vào vòng knock-out với ngôi đầu, nơi họ thắng Bồ Đào Nha 1-0 ở vòng 1/8. Ở tứ kết, đội tiếp tục thắng Paraguay 1-0 để giành quyền vào bán kết. Tây Ban Nha lần đầu tiên vào đến một trận chung kết World Cup sau khi đánh bại Đức 1-0 ở bán kết với bàn thắng duy nhất tới từ cú đánh đầu của Carles Puyol.
Trận chung kết với Hà Lan diễn ra không bàn thắng trong suốt 90 phút, buộc hai đội phải bước vào hiệp phụ. Andrés Iniesta ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường kiến tạo của Cesc Fàbregas ở phút thứ 116 tại hiệp phụ thứ 2. Qua đó, đội bóng đã giành chức vô địch World Cup lần đầu tiên trong lịch sử. Tây Ban Nha cũng giành được giải thưởng Fair play của FIFA ngoài ra một số cầu thủ trong đội hình cũng có danh hiệu. Thủ môn Iker Casillas giành danh hiệu Găng tay vàng, David Villa giành Quả bóng đồng và chiếc giày bạc.
Euro 2012

Ở vòng loại Euro 2012, Tây Ban Nha nằm ở bảng I với tỉ lệ chiến thắng tuyệt đội. Họ đánh bại CH Séc, Scotland, Litva và Liechtenstein để tiến vào vòng chung kết.

Ở vòng chung kết, Tây Ban Nha nằm ở bảng C cùng với Ý, Croatia và Cộng hòa Ireland. Trận mở màn với Ý diễn ra vào ngày 10 tháng 6 năm 2012. Ý vượt lên dẫn trước ở phút thứ 61, sau tình huống tấn công chớp nhoáng. Pirlo tung ra đường chuyền chính xác để tiền đạo vào thay người Antonio Di Natale dứt điểm hiểm hóc mở tỉ số của trận đấu. Những phút sau đó, Tây Ban Nha tìm lại được thế trận, và họ đã có bàn gỡ nhờ công của Cesc Fàbregas nhưng đó cũng là tất cả những gì họ làm được. Hai đội buộc phải chia điểm sau trận mở màn.
Trận đấu tiếp theo với Cộng hòa Ireland vào ngày 14 tháng 6, tiền đạo của Chelsea Fernando Torres lập cú đúp, hai bàn thắng còn lại của David Silva và Cesc Fàbregas giúp Tây Ban Nha đại thắng 4-0. Trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Croatia vào ngày 18 tháng 6 khó khăn hơn các trận đấu khác, vì Croatia đã có những cơ hội ghi bàn khá rõ rệt. Khi trận đấu dần đi đến hồi kết, phút thứ 88, Jesús Navas ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp Tây Ban Nha tiến tới tứ kết với ngôi đầu bảng.
Tây Ban Nha đối đầu với Pháp ở tứ kết vào ngày 23 tháng 6 năm 2012. Đội mở tỷ số trận đấu, với cú đánh đầu của Xabi Alonso. Họ hoàn tất chiến thắng khi Pedro bị phạm lỗi trong vòng cấm địa, và Alonso ghi bàn từ chấm penalty giúp Tây Ban Nha thắng chung cuộc 2-0. Đây cũng là trận đấu mà Xabi Alonso đánh dấu cột mốc 100 trận của anh cho tuyển.
Ở bán kết, Tây Ban Nha gặp Bồ Đào Nha, đội đánh bại Cộng hòa Séc ở tứ kết với bàn thắng muộn của Cristiano Ronaldo. Bồ Đào Nha ép sân ngay từ những phút đầu, tạo ra nhiều cơ hội nhưng không thể chuyển hóa thành bàn thắng. Tây Ban Nha vẫn bình tĩnh phòng ngự buộc trận đấu phải đi vào loạt sút luân lưu. Bước ngoặc đã đến khi Bruno Alves sút hỏng quả penalty thứ 4 giúp Tây Ban Nha giành chiến thắng 4-2 trên chấm luân lưu, khiến Ronaldo không có cơ hội sút quả luân lưu cuối cùng. Đây đã là trận chung kết Euro thứ 4 của Tây Ban Nha, lần trước vào các năm 1964, 1984 và 2008, lần nay họ tái ngộ Ý, đội duy nhất giành điểm trước họ tại vòng bảng ở chung kết.
Trong trận chung kết Euro 2012, Tây Ban Nha giành chức vô địch thuyết phục khi ghi 4 bàn thắng vào lưới Ý. Trong hiệp 1, họ nhanh chóng kiểm soát thế trận với 2 bàn thắng ở phút thứ 14 do công của David Silva và phút 41 của Jordi Alba. Sang hiệp 2, Ý sử dụng lượt thay người cuối cùng của mình bằng việc thay Antonio Di Natale bằng Thiago Motta. Tuy nhiên, ngay sau khi vào sân, Motta đã bị chấn thương gân kheo và không thể tiếp tục thi đấu. Vì đã hết quyền thay người, Ý chỉ còn thi đấu với 10 cầu thủ. Tây Ban Nha ghi thêm hai bàn thắng ở cuối hiệp 2, nhờ công của hai ngôi sao đang chơi cho Chelsea Fernando Torres và Juan Mata, giúp Tây Ban Nha vô địch Euro 2012 lần thứ hai liên tiếp. Đây cũng là danh hiệu thứ 3 liên tiếp của họ sau Euro 2008 và World Cup 2010. Fernando Torres kết thúc giải với 3 bàn thắng và nhận danh hiệu vua phá lưới.
Tây Ban Nha cũng lập nên một vài kỷ lục sau chức vô địch:
- Tây Ban Nha trở thành đội bóng đầu tiên vô địch ba giải đấu lớn liên tiếp (Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012)
- Trận Chung kết Euro 2012 có cách biệt lớn nhất (4-0) nhiều hơn 1 bàn so với trận chung kết năm 1972 (Tây Đức 3-0 Liên Xô)
- Tây Ban Nha trở thành đội bóng thành công nhất lịch sử Euro, cùng với đội tuyển Đức (ba danh hiệu vô địch)
- Tây Ban Nha trở thành đội có hiệu số bàn thắng lớn nhất lịch sử một kỳ Euro, 12-1.
Cúp Liên đoàn các châu lục 2013
Tây Ban Nha bắt đầu chiến dịch Confederation Cup 2013 bằng trận thắng 2-1 trước Uruguay, trận đấu mà Tây Ban Nha kiểm soát hoàn toàn thế trận, tung ra 9 cú sút trúng đích, trong khi Uruguay chỉ có 1 và cũng là cú sút mang lại bàn thắng của Luis Suárez. Trong trận đấu thứ hai của vòng bảng gặp đại diện châu Đại Dương Tahiti, Tây Ban Nha đã phá kỷ lục về trận thắng đậm nhất ở một giải đấu FIFA với chiến thắng hủy diệt 10-0, nhờ cú poker của Fernando Torres và hat-trick của David Villa. Trận đấu cuối cùng họ ở vòng bảng là trận thắng Nigeria 3-0, qua đó hoàn tất vòng bảng với 3 trận toàn thắng.
Trong trận bán kết với Ý, 2 đội cầm hòa 0-0 trong cả thời gian đá chính và hiệp phụ. Đội thắng 7-6 trên chấm penalty khi Jesús Navas thực hiện thành công còn Bonucci đá hỏng, giúp Tây Ban Nha tiến tới trận chung kết Confederation Cup đầu tiên. Tuy nhiên, đội thất bại trong việc thâu tóm danh hiệu FIFA cuối cùng còn thiếu trong bảng thành tích của mình, khi thua chủ nhà Brazil 0-3. Họ được an ủi với danh hiệu chiếc giày vàng cho Fernando Torres.
2014-2022: Suy thoái & tái thiết
Tại World Cup 2014, với tư cách đương kim vô địch, Tây Ban Nha được đánh giá là một trong những ứng cử viên của chức vô địch. Đội được bốc thăm vào một bảng đấu được đánh giá khó nhằn khi tái ngộ Hà Lan, Chile và Úc. Trận đấu đầu tiên của họ tái hiện trận chung kết World Cup 2010. Tây Ban Nha dẫn trước nhờ cú sút phạt đền thành công của Xabi Alonso, nhưng Hà Lan mới chứng tỏ họ là đội mạnh hơn. Tây Ban Nha mất khả năng điều khiển trận đấu và thất bại với tỉ số bất ngờ 1-5. Trong trận tiếp theo gặp Chile, Tây Ban Nha buộc phải thắng để duy trì hi vọng đi tiếp, nhưng tiếp tục thua 0-2. Với 2 trận thua liên tiếp, Tây Ban Nha trở thành một trong những đội đầu tiên bị loại khỏi giải này và gia nhập vào danh sách những nhà đương kim vô địch thế giới bị chính thức loại ở vòng bảng World Cup cùng với Brasil năm 1966, Pháp năm 2002 và Ý năm 2010 (Ý cũng bị loại từ vòng bảng World Cup 1950). Ở trận đấu cuối cùng mang tính thủ tục, Tây Ban Nha thắng Úc với tỉ số 3-0 để kết thúc giải ở vị trí thứ ba bảng đấu.
Tại vòng loại Euro 2016, Tây Ban Nha cùng bảng C cùng với Ukraine, Slovakia, Belarus, Macedonia và Luxembourg. Họ đã giành vị trí nhất bảng, chỉ thua một trận trước Slovakia. Trong vòng chung kết Euro 2016, Tây Ban Nha cùng bảng D cùng với Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ và Cộng hòa Séc. Vào ngày 13 tháng 6, họ đánh bại Cộng hòa Séc 1-0 tại Toulouse, và 4 ngày sau đó, họ đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ 3-0 tại Nice; tuy nhiên, Tây Ban Nha bất ngờ để Croatia đánh bại 2-1 tại Bordeaux, qua đó đứng nhì bảng D. Ở vòng 16 đội, Tây Ban Nha đối đầu với Ý, đội nhất bảng E, cũng là trận tái đấu chung kết Euro 2012. Trận đấu diễn ra tại Stade de France vào ngày 27 tháng 6 chứng kiến Azzurri giành chiến thắng 2-0 trước Tây Ban Nha, loại nhà đương kim vô địch khỏi giải đấu. Sau Euro 2016, huấn luyện viên Vicente del Bosque giã từ sự nghiệp huấn luyện.
Sau khi Vicente del Bosque rời đội, Julen Lopetegui được chọn là người kế nhiệm. Ông giúp Tây Ban Nha vượt qua vòng loại World Cup 2018 với 9 chiến thắng. Dù vậy, trước khi World Cup 2018 khởi tranh, Tây Ban Nha quyết định sa thải ông do ông sẽ đảm nhiệm vị trí huấn luyện viên trưởng của Real Madrid với hợp đồng 3 năm sau khi Tây Ban Nha kết thúc giải đấu, Fernando Hierro sau đó dẫn dắt đội tuyển thay ông, Tây Ban Nha mở màn World Cup 2018 với trận hòa 3-3 trước Bồ Đào Nha, đây là trận đấu đội có 3 bàn thắng của Diego Costa và Nacho Fernández, còn Bồ Đào Nha là hattrick của Cristiano Ronaldo. Sau đó, Tây Ban Nha có chiến thắng 1-0 trước Iran với bàn thắng của Diego Costa. Lượt trận thứ 3, đội hòa 2-2 Maroc bằng các bàn thắng của Isco, Iago Aspas để có ngôi đầu bảng. Bước vào vòng 16 đội, Tây Ban Nha gặp chủ nhà Nga, trận đấu mở màn bằng bàn phản lưới nhà của lão tướng Sergei Ignashevich bên phía Nga, nhưng Gerard Piqué để bóng chạm tay trong vòng cấm và Artem Dzyuba chớp lấy cơ hội để gỡ hòa. Hai đội kéo nhau vào loạt sút 11m, tại đây Tây Ban Nha để thủ thành Igor Akinfeev cản phá 2 quả pen và thua với tỉ số 4-3 trên loạt đấu súng. Đây là trận đấu cuối cùng của Fernando Hierro, ông sau đó tuyên bố từ chức.
Luis Enrique được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển lần đầu tiên vào ngày 9 tháng 7 năm 2018. Ông sau đó rời đội vào năm 2019, Robert Moreno là người thay thế ông và giúp Tây Ban Nha dự Euro 2020, nhưng Luis Enrique trở lại dẫn dắt đội vào cuối năm 2019. Luis Enrique giúp đội lọt vào bán kết giải đấu, để thua Ý (đội sau đó vô địch) sau loạt sút 11m. Tại UEFA Nations League 2020–21, Tây Ban Nha đứng đầu bảng A4, bao gồm chiến thắng 6-0 trước Đức trên sân nhà, và có lần đầu tham dự vòng chung kết UEFA Nations League 2021, nhưng để thua Pháp 1-2 tại chung kết.
Tại World Cup 2022 ở Qatar, Tây Ban Nha mở đầu giải đấu với chiến thắng 7–0 trước Costa Rica, sau đó họ hòa 1–1 với Đức, và thua 2–1 trước Nhật Bản, kết thúc ở vị trí thứ 2 bảng E. Ở vòng 16, họ thua Morocco 3–0 trong loạt sút luân lưu, đây là lần thứ 3 liên tiếp họ bị loại khỏi một giải đấu lớn bằng loạt sút luân lưu. Luis Enrique bị sa thải ngay sau khi đội tuyển bị loại khỏi World Cup.
2022–nay: Kỷ nguyên Luis de la Fuente

Vào ngày 8 tháng 12 năm 2022, Luis de la Fuente được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng sau khi Luis Enrique mất việc do thất bại ở vòng 16 đội FIFA World Cup 2022 trước Maroc. Ông chính thức được giới thiệu 4 ngày sau đó và ký hợp đồng có thời hạn đến UEFA Euro 2024 với tùy chọn gia hạn.
Ông có chiến thắng trong trận đấu ra mắt trên sân nhà trước Na Uy với tỷ số 3–0 ở vòng loại UEFA Euro 2024 vào ngày 25 tháng 3 năm 2023 với cú đúp của cầu thủ ra mắt 32 tuổi Joselu. Ông dẫn dắt Tây Ban Nha giành chức vô địch UEFA Nations League 2022–23 lần đầu tiên sau khi đánh bại Croatia 5–4 trên chấm phạt đền sau trận hòa 0–0 ở Rotterdam.
Tây Ban Nha kết thúc vòng bảng UEFA Euro 2024 với ngôi nhất bảng B cùng 3 trận toàn thắng, ghi 5 bàn và giữ sạch lưới. Họ tiếp tục đánh bại Gruzia, Đức và Pháp trong vòng đấu loại trực tiếp để lọt vào chung kết kể từ giải đấu năm 2012. Đội giành chức vô địch ở Berlin sau khi đánh bại Anh 2–1 trong trận chung kết, qua đó trở thành đội tuyển giàu thành tích nhất với 4 lần vô địch. Bên cạnh đó, Tây Ban Nha cũng lập kỷ lục khi giành chức vô địch với thành tích toàn thắng cả 7 trận trong toàn bộ giải đấu. Tây Ban Nha cũng thâu tóm các giải thưởng cá nhân, khi Dani Olmo nhận giải vua phá lưới với 3 bàn thắng, Lamine Yamal nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất, còn Rodri nhận giải Cầu thủ xuất sắc nhất.
Vào tháng 1 năm 2025, ông gia hạn hợp đồng đến hết Euro 2028. Sau đó, ông giúp Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng UEFA Nations League 2024–25 với thành tích bất bại, và vượt qua Hà Lan tại tứ kết để có lần thứ 3 liên tiếp lọt vào vòng chung kết UEFA Nations League, dù vượt qua Pháp 5-4 tại bán kết, nhưng đội để thua Bồ Đào Nha sau loạt sút 11m tại chung kết, qua đó có lần thứ 2 đạt ngôi á quân.
Tại vòng loại World Cup 2026 khu vực châu Âu, Tây Ban Nha vượt qua vòng loại với ngôi đầu cùng thành tích bất bại, tại World Cup 2026 dù để Cape Verde cầm hòa tại trận ra quân, nhưng Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng với ngôi đầu sau 2 chiến thắng trước Ả Rập Xê Út & Uruguay, Tây Ban Nha lần lượt vượt qua Áo, Bồ Đào Nha, Bỉ và Pháp tại vòng loại trực tiếp để lọt vào trận chung kết lần đầu tiên từ 2010, nơi họ đánh bại đương kim vô địch Argentina trên Sân vận động MetLife với bàn thắng của Ferran Torres ở hiệp phụ để có lần thứ 2 vô địch giải đấu. Ngoài ra, Tây Ban Nha còn thống trị các giải thưởng cá nhân, khi Pau Cubarsí nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất, Rodri giành Quả bóng vàng World Cup 2026, còn Unai Simón cũng được vinh danh là Thủ môn xuất sắc nhất. Bản thân Luis de la Fuente trở thành người lớn tuổi nhất vô địch giải đấu này khi 65 tuổi và 28 ngày, vượt qua kỷ lục trước đó do người đồng hương Vicente del Bosque nắm giữ.
Phong cách thi đấu
Tiqui-Taca là lối chơi sử dụng các đường chuyền ngắn nhằm nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng. Sơ đồ chiến thuật lý tưởng cho Tiqui-Taca là 4-3-3, hay đôi khi có biến thể là 4-1-2-3 và 3-4-3. Bên cạnh đó, đi kèm phải là lối tấn công phối hợp nhóm và phòng ngự khu vực đạt độ ăn ý cao.
Tiqui-Taca là chuyền và chạy. Bóng được chuyền sệt, và chuyền liên tục từ cầu thủ này sang cầu thủ khác. Các cầu thủ không có bóng phải linh động di chuyển để đón bóng. Nhưng vì chỉ tăng tốc và di chuyển trong phạm vi ngắn nên cầu thủ mất sức không nhiều; ngược lại, đội đối phương nếu không thích nghi sẽ bị mất sức do đeo bám và dễ bị rối loạn đội hình.
Barcelona và Tây Ban Nha đã gây dựng một tiqui-taca gần như hoàn hảo và nó đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Tất cả các đội trẻ của Barcelona hiện giờ đều phải học đá và vận hành chiến thuật theo kiểu tiqui-taca.
Logo và trang phục thi đấu
Logo chính thức của Đội tuyển Tây Ban Nha là hình Quốc huy với phía trên là số 1909 tương ứng với năm thành lập Liên đoàn, phía dưới là một dải băng in 4 chữ "RFEF" là viết tắt của Real Federación Española de Fútbol ("Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha" trong tiếng Tây Ban Nha) và một quả bóng ở giữa. Tại các kỳ World Cup, hai ngôi sao vàng sẽ được in lên trên cùng, tượng trung cho 2 lần vô địch.
Trang phục thi đấu truyền thống của Đội tuyển Tây Ban Nha là áo màu đỏ, quần xanh đậm hoặc đen, tất đỏ hoặc đen hay xanh đậm. Trang phục thi đấu phụ hiện tại là màu áo trắng với hoa văn màu đỏ hoặc vàng, quần trắng và tất trắng. Đội cũng từng sử dụng màu áo thi đấu phụ là màu đen hay xanh da trời.
|
1920-21 |
1921-22 |
1922-24 |
1924-31 |
1931-36 |
1936-38 |
1938-45 |
|
1945-47 |
1947-59 |
1959-79 |
1959-79 (sân khách) |
1979-81 |
1981-83 |
1984-86 |
|
1984-86 (sân khách) |
1986-87 |
1986-87 (sân khách) |
1988-91 |
1988-91 (sân khách) |
1988-91 (thứ ba) |
1991-92 |
|
1992-94 |
1994-96 |
1994-96 (sân khách) |
1996-98 |
1998-2000 |
1998-2000 (sân khách) |
2000-02 |
|
2002-04 |
2004-06 |
2004-06 (sân khách) |
2006-08 |
2006-08 (sân khách) |
2008-09 |
2008-10 (sân khách) |
|
2009-10 |
2010-11 |
2010-11 (sân khách) |
2011-12 |
2011-12 (sân khách) |
2012-13 |
2012-14 (sân khách) |
|
2013-14 |
2014-15 |
2014-15 (sân khách) |
2015-26 |
2015-26 (sân khách) |
Tài trợ trang phục
|
Kết quả và lịch thi đấu
Sau đây là danh sách kết quả các trận đấu trong 12 tháng qua, cùng các trận đấu đã được lên lịch trong tương lai.
- Chú thích
Thắng Hòa Thua Lịch thi đấu
2025
| 5 tháng 9 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Bulgaria |
0–3 | Sofia, Bulgaria | |
|---|---|---|---|---|
| 02:45 UTC+7 | Chi tiết |
|
Sân vận động: Quốc gia Vasil Levski Lượng khán giả: 40,582 Trọng tài: Srđan Jovanović (Serbia) |
| 8 tháng 9 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Thổ Nhĩ Kỳ |
0–6 | Konya, Thổ Nhĩ Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 01:45 UTC+7 | Chi tiết | Sân vận động: Konya Metropolitan Municipality Lượng khán giả: 32,059 Trọng tài: Michael Oliver (Anh) |
| 12 tháng 10 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
2–0 | Elche, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 01:45 UTC+7 | Chi tiết | Sân vận động: Estadio Martínez Valero Lượng khán giả: 28,661 |
| 15 tháng 10 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
4–0 | Valladolid, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 01:45 UTC+7 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động José Zorrilla Lượng khán giả: 24,526 Trọng tài: Willy Delajod (Pháp) |
| 16 tháng 11 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Gruzia |
0–4 | Tbilisi, Gruzia | |
|---|---|---|---|---|
| 00:00 UTC+7 | Chi tiết | Sân vận động: Boris Paichadze Dinamo Arena Lượng khán giả: 44,314 Trọng tài: Benoît Bastien (Pháp) |
| 19 tháng 11 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
2–2 | Seville, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 01:45 UTC+7 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động La Cartuja Lượng khán giả: 30,812 Trọng tài: Felix Zwayer (Đức) |
2026
| 27 Tháng 3 Finalissima 2026 | Argentina |
Hủy bỏ | Lusail, Qatar | |||
|---|---|---|---|---|---|---|
| --:-- | Sân vận động: Sân vận động Lusail |
|||||
|
Ghi chú: Trận đấu bị hủy bỏ vì Chiến tranh Iran 2026. | ||||||
| 27 Tháng 3 Giao hữu | Tây Ban Nha |
3–0 | Villarreal, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 UTC+3 | Sân vận động: Sân vận động La Cerámica Trọng tài: Luis Godinho (Bồ Đào Nha) |
| 31 Tháng 3 Giao hữu | Tây Ban Nha |
0–0 | Cornellà de Llobregat, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 UTC+3 | Sân vận động: Sân vận động RCDE Trọng tài: Georgi Kabakov (Bulgaria) |
| 4 Tháng 6 Giao hữu | Tây Ban Nha |
1–1 | A Coruña, Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 21:00 CEST |
|
Chi tiết |
|
Sân vận động: Estadio Riazor Lượng khán giả: 30,423 Trọng tài: Florian Badstübner (Đức) |
| 8 Tháng 6 Giao hữu | Perú |
1–3 | Puebla, México | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 CST | Vélez |
Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Cuauhtémoc Trọng tài: Fernando Hernández (México) |
| 15 Tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
0–0 | Atlanta, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 12:00 EDT | Chi tiết | Sân vận động: Mercedes-Benz Lượng khán giả: 67.640 Trọng tài: Adham Makhadmeh (Jordan) |
| 21 Tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
4–0 | Atlanta, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 12:00 EDT |
|
Chi tiết | Sân vận động: Mercedes-Benz Lượng khán giả: 68.239 Trọng tài: Raphael Claus (Brasil) |
| 26 Tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
0–1 | Zapopan, Mexico | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 MDT | Chi tiết |
|
Sân vận động: Sân vận động Akron Lượng khán giả: 45.065 Trọng tài: Ismail Elfath (Hoa Kỳ) |
| 3 Tháng 7 Vòng 32 đội FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
3–0 | California, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 12:00 UTC−7 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động SoFi Lượng khán giả: 70.492 Trọng tài: Glenn Nyberg (Thụy Điển) |
| 6 Tháng 7 Vòng 16 đội FIFA World Cup 2026 | Bồ Đào Nha |
0–1 | Tây Ban Nha |
Arlington, Hoa Kỳ |
|---|---|---|---|---|
| 14:00 CDT | Chi tiết |
|
Sân vận động: Sân vận động AT&T Lượng khán giả: 70,649 Trọng tài: Anthony Taylor (Anh) |
| 10 tháng 7 Tứ kết FIFA World Cup 2026 | Tây Ban Nha |
2–1 | Inglewood, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 12:00 (UTC−7) | Chi tiết |
|
Sân vận động: Sân vận động SoFi Lượng khán giả: 70,492 Trọng tài: Michael Oliver (Anh) |
| 14 tháng 7 Bán kết FIFA World Cup 2026 | Pháp |
0–2 | Arlington, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 14:00 UTC-5 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động AT&T Lượng khán giả: 70,176 Trọng tài: Iván Barton (El Salvador) |
| 19 tháng 7 Chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 | Tây Ban Nha |
1–0 (s.h.p.) | Đông Rutherford, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 15:00 CDT |
|
Chi tiết | Sân vận động: sân vận động MetLife Lượng khán giả: 80,663 Trọng tài: Slavko Vinčić (Slovenia) |
| 26 Tháng 9 UEFA Nations League 2026–27 | Anh |
v | London, Anh | |
|---|---|---|---|---|
| 19:45 UTC+1 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Wembley |
| 29 Tháng 9 UEFA Nations League 2026–27 | Tây Ban Nha |
v | Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+2 | Chi tiết |
| 3 Tháng 10 UEFA Nations League 2026–27 | Tây Ban Nha |
v | Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+2 | Chi tiết |
| 6 Tháng 10 UEFA Nations League 2026–27 | Croatia |
v | Zagreb, Croatia | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+2 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Maksimir |
| 12 Tháng 11 UEFA Nations League 2026–27 | Séc |
v | Prague, Séc | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+1 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Sinobo |
| 15 Tháng 11 UEFA Nations League 2026–27 | Tây Ban Nha |
v | Tây Ban Nha | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+1 | Chi tiết |
Ban huấn luyện
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Huấn luyện viên thủ môn |
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2026.
Số lần ra sân và số bàn thắng cập nhật đến ngày 19 tháng 7 năm 2026, sau trận đấu với Argentina.
| Số | VT | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Trận | Bàn | Câu lạc bộ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | TM | David Raya | 15 tháng 9, 1995 | 14 | 0 | |
| 13 | TM | Joan Garcia | 4 tháng 5, 2001 | 2 | 0 | |
| 23 | TM | Unai Simón | 11 tháng 6, 1997 | 66 | 0 | |
| 2 | HV | Marc Pubill | 20 tháng 6, 2003 | 3 | 0 | |
| 3 | HV | Álex Grimaldo | 20 tháng 9, 1995 | 14 | 0 | |
| 4 | HV | Eric García | 9 tháng 1, 2001 | 22 | 0 | |
| 5 | HV | Marcos Llorente | 30 tháng 1, 1995 | 27 | 0 | |
| 12 | HV | Pedro Porro | 14 tháng 9, 1999 | 24 | 2 | |
| 14 | HV | Aymeric Laporte | 27 tháng 5, 1994 | 54 | 2 | |
| 22 | HV | Pau Cubarsí | 22 tháng 1, 2007 | 20 | 0 | |
| 24 | HV | Marc Cucurella | 22 tháng 7, 1998 | 32 | 1 | |
| 6 | TV | Mikel Merino | 22 tháng 6, 1996 | 51 | 12 | |
| 8 | TV | Fabián Ruiz | 3 tháng 4, 1996 | 50 | 7 | |
| 9 | TV | Gavi | 5 tháng 8, 2004 | 32 | 5 | |
| 10 | TV | Dani Olmo | 7 tháng 5, 1998 | 58 | 12 | |
| 11 | TV | Yéremy Pino | 20 tháng 10, 2002 | 25 | 4 | |
| 15 | TV | Álex Baena | 20 tháng 7, 2001 | 24 | 3 | |
| 16 | TV | Rodri (đội trưởng) | 22 tháng 6, 1996 | 70 | 4 | |
| 18 | TV | Martín Zubimendi | 2 tháng 2, 1999 | 27 | 3 | |
| 20 | TV | Pedri | 25 tháng 11, 2002 | 49 | 6 | |
| 7 | TĐ | Ferran Torres | 29 tháng 2, 2000 | 65 | 25 | |
| 17 | TĐ | Nico Williams | 12 tháng 7, 2002 | 36 | 6 | |
| 19 | TĐ | Lamine Yamal | 13 tháng 7, 2007 | 33 | 7 | |
| 21 | TĐ | Mikel Oyarzabal | 21 tháng 4, 1997 | 61 | 30 | |
| 25 | TĐ | Víctor Muñoz | 13 tháng 7, 2003 | 2 | 1 | |
| 26 | TĐ | Borja Iglesias | 17 tháng 1, 1993 | 9 | 0 | |
Triệu tập gần đây
Những cầu thủ sau đây cũng đã được triệu tập vào đội hình trong 12 tháng qua.
| Vt | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Số trận | Bt | Câu lạc bộ | Lần cuối triệu tập |
|---|---|---|---|---|---|---|
| TM | Leo Román | 6 tháng 7, 2000 | 1 | 0 | v. | |
| TM | Álex Remiro | 24 tháng 3, 1995 | 2 | 0 | v. | |
| HV | Jon Martín | 23 tháng 4, 2006 | 1 | 0 | v. | |
| HV | Javi Rodríguez | 26 tháng 6, 2003 | 1 | 0 | v. | |
| HV | Dean Huijsen | 14 tháng 4, 2005 | 7 | 0 | v. | |
| HV | Cristhian Mosquera | 27 tháng 6, 2004 | 2 | 0 | v. | |
| HV | Daniel Vivian | 5 tháng 7, 1999 | 10 | 0 | v. | |
| HV | Robin Le Normand | 11 tháng 11, 1996 | 27 | 1 | v. | |
| HV | Dani Carvajal | 11 tháng 1, 1992 | 52 | 1 | v. | |
| TV | Sergio Gómez | 4 tháng 9, 2000 | 2 | 0 | v. | |
| TV | Jesús Rodríguez | 21 tháng 11, 2005 | 2 | 0 | v. | |
| TV | Marc Bernal | 26 tháng 5, 2007 | 1 | 0 | v. | |
| TV | Javi Guerra | 13 tháng 5, 2003 | 1 | 0 | v. | |
| TV | Beñat Turrientes | 31 tháng 1, 2002 | 1 | 0 | v. | |
| TV | Carlos Soler | 2 tháng 1, 1997 | 15 | 4 | v. | |
| TV | Pablo Fornals | 2 tháng 2, 1996 | 9 | 1 | v. | |
| TV | Fermín López | 11 tháng 5, 2003 | 7 | 0 | v. | |
| TV | Aleix García | 28 tháng 6, 1997 | 8 | 0 | v. | |
| TV | Pablo Barrios | 15 tháng 6, 2003 | 4 | 0 | v. | |
| TĐ | Gonzalo García | 24 tháng 3, 2004 | 1 | 0 | v. | |
| TĐ | Ander Barrenetxea | 27 tháng 12, 2001 | 1 | 0 | v. | |
| TĐ | Samu Aghehowa | 5 tháng 5, 2004 | 4 | 0 | v. | |
| TĐ | Jorge de Frutos | 20 tháng 2, 1997 | 1 | 0 | v. | |
| TĐ | Álvaro Morata | 23 tháng 10, 1992 | 87 | 37 | v. | |
INJ Rút lui do chấn thương | ||||||
Thành tích tại các giải đấu quốc tế
Giải vô địch bóng đá thế giới


| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1930 | Không tham dự | |||||||
| Tứ kết | 3 | 1 | 1 | 1 | 4 | 3 | ||
| 1938 | Không tham dự vì nội chiến | |||||||
| Hạng tư | 6 | 3 | 1 | 2 | 10 | 12 | ||
| 1954 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1958 | ||||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 2 | 3 | ||
| 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 5 | |||
| 1970 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1974 | ||||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 2 | ||
| Vòng 2 | 5 | 1 | 2 | 2 | 4 | 5 | ||
| Tứ kết | 5 | 3 | 1 | 1 | 11 | 4 | ||
| Vòng 2 | 4 | 2 | 1 | 1 | 6 | 4 | ||
| Tứ kết | 5 | 2 | 2 | 1 | 10 | 6 | ||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 8 | 4 | ||
| Tứ kết | 5 | 3 | 2 | 0 | 10 | 5 | ||
| Vòng 2 | 4 | 3 | 0 | 1 | 9 | 4 | ||
| Vô địch | 7 | 6 | 0 | 1 | 8 | 2 | ||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 7 | ||
| Vòng 2 | 4 | 1 | 3 | 0 | 7 | 6 | ||
| 4 | 1 | 2 | 1 | 9 | 3 | |||
| Vô địch | 8 | 7 | 1 | 0 | 14 | 1 | ||
| Đồng chủ nhà | ||||||||
| Chưa xác định | ||||||||
| Tổng cộng | 17/23 2 lần vô địch |
75 | 38 | 18 | 19 | 122 | 76 | |
Giải vô địch bóng đá châu Âu

| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1960 | Bỏ cuộc ở vòng loại | ||||||
| Vô địch | 2 | 2 | 0 | 0 | 4 | 2 | |
| 1968 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1972 | |||||||
| 1976 | |||||||
| Vòng 1 | 3 | 0 | 1 | 2 | 2 | 4 | |
| Á quân | 5 | 1 | 3 | 1 | 4 | 5 | |
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 3 | 5 | |
| 1992 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| Tứ kết | 4 | 1 | 3 | 0 | 4 | 3 | |
| 4 | 2 | 0 | 2 | 7 | 7 | ||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 2 | |
| Vô địch | 6 | 5 | 1 | 0 | 12 | 3 | |
| 6 | 4 | 2 | 0 | 12 | 1 | ||
| Vòng 2 | 4 | 2 | 0 | 2 | 5 | 4 | |
| Bán kết | 6 | 2 | 4 | 0 | 13 | 6 | |
| Vô địch | 7 | 7 | 0 | 0 | 15 | 4 | |
| Chưa xác định | |||||||
| Tổng cộng | 12/17 4 lần vô địch |
53 | 28 | 15 | 10 | 83 | 46 |
Cúp Liên đoàn các châu lục
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1992 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| 1995 | |||||||
| 1997 | |||||||
| 1999 | |||||||
| 2001 | |||||||
| 2003 | |||||||
| 2005 | |||||||
| Hạng ba | 5 | 4 | 0 | 1 | 11 | 4 | |
| Á quân | 5 | 3 | 1 | 1 | 15 | 4 | |
| 2017 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| Tổng cộng | 2/10 1 lần á quân |
10 | 7 | 1 | 2 | 26 | 8 |
UEFA Nations League
| Mùa giải | Hạng đấu | Bảng | Pld | W | D | L | GF | GA | RK |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2018–19 | A | 4 | 4 | 2 | 0 | 2 | 12 | 7 | 7th |
| A | 4 | 8 | 4 | 2 | 2 | 16 | 6 | 2nd | |
| A | 2 | 8 | 4 | 3 | 1 | 10 | 6 | 1st | |
| A | 4 | 8 | 4 | 3 | 1 | 7 | 6 | 2nd | |
| Tổng cộng | 20 | 10 | 5 | 5 | 38 | 19 | 1st | ||
Thế vận hội
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
| Năm | Kết quả | Thứ hạng | Pld | W | D | L | GF | GA |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Huy chương bạc | 2nd | 5 | 4 | 0 | 1 | 9 | 5 | |
| Vòng 1 | 17th | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 1 | |
| Tứ kết | 6th | 3 | 1 | 1 | 1 | 9 | 9 | |
| 1936 | Bỏ cuộc | |||||||
| 1948 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1952 | ||||||||
| 1956 | ||||||||
| 1960 | ||||||||
| 1964 | ||||||||
| Tứ kết | 5th | 4 | 2 | 1 | 1 | 4 | 2 | |
| 1972 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Vòng 1 | 13th | 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 3 | |
| 10th | 3 | 0 | 3 | 0 | 2 | 2 | ||
| 1984 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| 1988 | ||||||||
| Tổng cộng | 1 lần huy chương bạc |
6/15 | 18 | 7 | 5 | 6 | 25 | 22 |
Danh hiệu và kỷ lục
Danh hiệu vô địch
- FIFA World Cup
- UEFA European Championship
- UEFA Nations League
- Vô địch (1): 2023
- Về nhì: 2021, 2025
- FIFA Confederations Cup
- Olympic Games Football
- Huy chương vàng
: 1992, 2024 - Huy chương bạc
: 1920
- Huy chương vàng
Giải thưởng tập thể
- FIFA Fair Play Trophy
- Thắng giải (4): 2006, 2010, 2013, 2018
- FIFA Team of the Year
- Thắng giải (6): 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
- Prince of Asturias Award for Sports
- Thắng giải: 2010
- Laureus World Team of the Year
- Thắng giải: 2011
Đội bóng
- Số trận bất bại liên tiếp
- 35 trận (2007-2009) (bằng với
Brasil từ 1993-1996) - Số trận thắng liên tiếp (bao gồm cả giao hữu)
- 15 trận (2008-2009)
- Số trận bất bại liên tiếp ở các giải đấu chính thức của FIFA
- 28 trận (2010-2013)
- Số trận thắng nhiều nhất bởi 1 huấn luyện viên nước ngoài
- 13 trận - Vicente del Bosque
- Số điểm cao nhất ở vòng loại World Cup
- 30/30 điểm World Cup 2010, vòng loại bảng 5
- Đội vô địch World Cup để thủng lưới ít nhất
- 2 bàn - World Cup 2010 (bằng với
Pháp, 1998 và
Ý, 2006)
Cầu thủ
- Số trận khoác áo nhiều nhất
- 180- Sergio Ramos
- Số bàn thắng nhiều nhất
- 59 - David Villa
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất trong 1 mùa giải
- 13 - David Villa (2008-2009)
- Số hattrick ghi được nhiều nhất
- 3 - Fernando Torres và David Villa
- Số trận ghi bàn liên tiếp
- 6 - David Villa
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở World Cup
- 8 - David Villa
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ World Cup
- 5 - Emilio Butragueño(1986) & David Villa(2010)
- Số trận ghi bàn liên tiếp ở World Cup
- 4 - David Villa(2010)
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Euro
- 5 - Fernando Torres
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Euro
- 4 - David Villa
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Confed Cup
- 8 - Fernando Torres
- Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Confed Cup
- 5 - Fernando Torres
Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất

Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 14 tháng 7 năm 2024:
Các cầu thủ in đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển.
| # | Cầu thủ | Thời gian khoác áo | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Sergio Ramos | 2005–2021 | 180 | 23 |
| 2 | Iker Casillas | 2000–2016 | 167 | 0 |
| 3 | Sergio Busquets | 2009–2022 | 143 | 2 |
| 4 | Xavi Hernández | 2000–2014 | 133 | 12 |
| 5 | Andrés Iniesta | 2006–2018 | 131 | 14 |
| 6 | Andoni Zubizarreta | 1985–1998 | 126 | 0 |
| 7 | David Silva | 2006–2018 | 125 | 35 |
| 8 | Xabi Alonso | 2003–2014 | 114 | 16 |
| 9 | Fernando Torres | 2003–2014 | 110 | 38 |
| Cesc Fàbregas | 2006–2016 | 110 | 15 |
Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất

Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 19 tháng 7 năm 2026:
| # | Cầu thủ | Thời gian khoác áo | Bàn thắng | Số trận | Hiệu suất |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | David Villa | 2005–2014 | 59 | 98 | 0.6 |
| 2 | Raúl González | 1996–2006 | 44 | 102 | 0.43 |
| 3 | Fernando Torres | 2003–2014 | 38 | 110 | 0.35 |
| 4 | Álvaro Morata | 2014–2025 | 37 | 87 | 0.43 |
| 5 | David Silva | 2006–2018 | 35 | 125 | 0.28 |
| 6 | Mikel Oyarzabal | 2016– | 30 | 61 | 0.49 |
| 7 | Fernando Hierro | 1989–2002 | 29 | 89 | 0.33 |
| 8 | Fernando Morientes | 1998–2007 | 27 | 47 | 0.57 |
| 9 | Emilio Butragueño | 1984–1992 | 26 | 69 | 0.38 |
| 10 | Ferran Torres | 2020– | 25 | 65 | 0.38 |
Số lần ghi bàn trên chấm phạt đền
Tính đến ngày 14 tháng 6 năm 2015, có tất cả năm cầu thủ ghi từ 5 bàn thắng trở lên trên chấm phạt đền cho đội tuyển:
| Penalties | Player |
|---|---|
| 9 | Fernando Hierro |
| Míchel | |
| 7 | David Villa |
| 6 | Xabi Alonso |
| 5 | Fernando Torres |
Lịch sử huấn luyện viên
Chú thích
- ^ 2:00 ngày 3 tháng 7 năm 2026 giờ Việt Nam
Liên kết ngoài
- Trang chủ Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha (RFEF) Lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine (bằng tiếng Tây Ban Nha)
- Thống kê RSSSF về kết quả của đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha từ năm 1920 (bằng tiếng Anh)
- Thống kê của RSSSF về cầu thủ Tây Ban Nha khoác áo đội tuyển và ghi bàn nhiều nhất (bằng tiếng Anh)