Ezri Konsa
Số áo #15Defender
England
Câu lạc bộ hiện tại
Arsenal
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
|
Konsa trong màu áo Anh tại FIFA World Cup 2026 | |||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Ezri Ngoyo Konsa | ||||||||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 23 tháng 10, 1997 | ||||||||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Silvertown, Luân Đôn, Anh | ||||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,83 m | ||||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Trung vệ, hậu vệ phải | ||||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Arsenal | ||||||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 15 | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2006–2008 | Senrab | ||||||||||||||||||||||||||||
| 2008–2016 | Charlton Athletic | ||||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2016–2018 | Charlton Athletic | 71 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2018–2019 | Brentford | 42 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2019–2026 | Aston Villa | 231 | (8) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2026– | Arsenal | 1 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2017–2018 | U-20 Anh | 5 | (0) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2018–2019 | U-21 Anh | 7 | (1) | ||||||||||||||||||||||||||
| 2024– | Anh | 28 | (2) | ||||||||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 22:00, 31 tháng 8 năm 2026 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 23:10, 18 tháng 7 năm 2026 (UTC) | |||||||||||||||||||||||||||||
Ezri Ngoyo Konsa (sinh ngày 23 tháng 10 năm 1997) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh hiện đang chơi ở vị trí trung vệ hoặc hậu vệ cánh phải cho câu lạc bộ Arsenal tại Premier League và Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh.
Thiếu thời
Ezri Ngoyo Konsa sinh ngày 23 tháng 10 năm 1997 tại Silvertown, Luân Đôn, Anh, có cha là người Cộng hòa Dân chủ Congo và mẹ là người Angola. Anh từng theo học trường Cao đẳng Thể thao Cumberland và là một cổ động viên thời thơ ấu của Tottenham Hotspur.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Charlton Athletic
Konsa bắt đầu sự nghiệp cầu thủ của mình với Senrab và gia nhập Charlton Athletic ở tuổi 11. Anh bắt đầu học bổng vào tháng 7 năm 2014 và ký hợp đồng chuyên nghiệp dài hạn vào ngày 11 tháng 12 năm 2015. Tám ngày sau, anh được triệu tập lần đầu tiên lên đội một trong trận thua 0–4 trước Burnley tại EFL Championship với tư cách là cầu thủ dự bị không được sử dụng. Konsa tiếp tục là cầu thủ dự bị không được sử dụng tại mùa giải 2015–16, mùa giải mà Charlton xuống hạng EFL League One.
Konsa có mặt trong đội hình Charlton Athletic ở giai đoạn tiền mùa giải 2016–17 và chơi trận ra mắt vào ngày 9 tháng 8 năm 2016 với một suất đá chính trong trận thua 1–0 ở vòng đầu tiên EFL Cup trước Cheltenham Town. Anh là cầu thủ thường xuyên trong suốt mùa giải 2016–17 và kết thúc mùa giải với 39 lần ra sân. Anh thể hiện sự đa năng của mình ở vị trí tiền vệ và hậu vệ cánh. Nhờ những nỗ lực của mình, Konsa được vinh danh là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của câu lạc bộ. Anh đã ký hợp đồng 3 năm mới vào tháng 3 năm 2017 và là cầu thủ đá chính thường xuyên trong mùa giải 2017–18, ra sân 47 lần khi Charlton lọt vào bán kết play-off EFL League One.
Konsa rời Charlton Athletic sau hai mùa giải gắn bó, ra sân tổng cộng 86 lần và không ghi bàn thắng.
Brentford
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, Konsa gia nhập câu lạc bộ Brentford tại EFL Championship với hợp đồng 3 năm sau thương vụ chuyển nhượng với tổng giá trị không được tiết lộ, được báo cáo là 2,5 triệu bảng Anh đi kèm chi phí phụ. Anh mặc số áo 15. Anh là lựa chọn hàng đầu ở vị trí trung vệ trong suốt mùa giải 2018–19 và ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp chuyên nghiệp của mình trong chiến thắng 3–0 trước Preston North End vào vòng đấu cuối cùng. Konsa rời Brentford sau một mùa giải gắn bó, ra sân tổng cộng 47 lần và ghi tổng cộng một bàn thắng.
Aston Villa
Ngày 11 tháng 7 năm 2019, Konsa gia nhập câu lạc bộ Aston Villa tại Premier League sau thương vụ chuyển nhượng với tổng giá trị 12 triệu bảng Anh. Ngày 27 tháng 8 năm 2019, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Aston Villa trong chiến thắng 6–1 trước Crewe Alexandra F.C. tại EFL Cup. Ngày 21 tháng 1 năm 2020, Konsa lập một pha kiến tạo cho bàn thắng của đồng đội Tyrone Mings để giúp Aston Villa thắng 2–1 trước Watford tại Premier League. Ngày 16 tháng 7 năm 2020, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Aston Villa tại Premier League trong trận hòa 1–1 với Everton.
Ngày 2 tháng 4 năm 2021, Konsa gia hạn hợp đồng với Aston Villa đến năm 2026. Ngày 5 tháng 12 năm 2021, anh ghi hai bàn trong chiến thắng 2–1 trước Leicester City tại Premier League, trở thành hậu vệ đầu tiên ghi hai bàn trong một trận đấu Premier League cho Aston Villa kể từ năm 2010.
Ngày 15 tháng 5 năm 2022, Konsa bị chấn thương khớp gối nghiêm trọng trong trận đấu trên sân nhà với Crystal Palace. Anh đã bình phục vào tháng 8 hoặc tháng 9 năm 2022 mặc dù phải bỏ lỡ hai trận đấu còn lại của mùa giải 2021–22 sau kết quả chụp chiếu.
Konsa trở lại sau chấn thương vào vòng đấu khai mạc mùa giải 2022–23 vào ngày 6 tháng 8 năm 2022 và đá chính thường xuyên trong đội hình chính của Aston Villa. Ngày 20 tháng 9 năm 2023, anh ký hợp đồng dài hạn mới với câu lạc bộ. Ngày 15 tháng 4 năm 2025, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại UEFA Champions League trong chiến thắng 3–2 trước Paris Saint-Germain ở vòng tứ kết UEFA Champions League 2024–25, trong đó Paris Saint-Germain loại Aston Villa và tiến vào bán kết.
Ngày 6 tháng 11 năm 2025, Konsa đeo băng đội trưởng Aston Villa trong chiến thắng 2–0 trước Maccabi Tel Aviv tại UEFA Europa League. Sau trận đấu, huấn luyện viên Unai Emery xác nhận rằng Konsa đã được bổ nhiệm làm đội phó mới của Villa phía dưới đội trưởng John McGinn. Ngày 20 tháng 5 năm 2026, Konsa đá chính trong trận thắng 3–0 của Aston Villa trước Freiburg ở trận chung kết UEFA Europa League 2026 và giành chức vô địch UEFA Europa League với Aston Villa.
Sau mùa giải 2025–26, Konsa rời Aston Villa sau bảy mùa giải gắn bó, có tổng cộng 286 lần ra sân và ghi tổng cộng 12 bàn.
Arsenal
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, Konsa gia nhập câu lạc bộ Arsenal tại Premier League với hợp đồng 4 năm, kèm lựa chọn gia hạn thêm 12 tháng, sau thương vụ chuyển nhượng với tổng giá trị 55 triệu bảng Anh, gồm 51 triệu bảng Anh phí cố định và tối đa 4 triệu bảng Anh trả thêm theo những điều khoản phụ.
Sự nghiệp quốc tế
Đội tuyển quốc gia trẻ
Konsa đã vô địch FIFA U-20 World Cup 2017 với đội tuyển U-20 Anh. Anh xuất hiện lần duy nhất trong giải đấu này khi vào sân thay đồng đội Ademola Lookman ở phút thứ 93 trong chiến thắng 3–1 ở trận bán kết trước Ý.
Ngày 18 tháng 5 năm 2018, Konsa được triệu tập lên đội hình U-21 Anh tham dự giải đấu Maurice Revello 2018. Anh là cầu thủ dự bị không được sử dụng trong trận chung kết chiến thắng 2–1 trước U-20 México. Konsa ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên cho U-21 Anh trong chiến thắng 7–0 tại vòng loại Giải vô địch U-21 châu Âu 2019 trước Andorra vào ngày 11 tháng 10 năm 2018. Anh có tên trong danh sách tham dự vòng chung kết giải đấu nhưng chỉ xuất hiện một lần với tư cách là cầu thủ dự bị trong trận đấu cuối cùng vòng bảng của Những chú sư tử trẻ (tiếng Anh: Young Lions).
Đội tuyển quốc gia
Ngày 13 tháng 11 năm 2023, Konsa lần đầu tiên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia Anh vào tháng 11 năm 2023 cho các trận đấu vòng loại UEFA Euro 2024 gặp Malta và Bắc Macedonia nhưng không thi đấu trong cả hai trận đấu đó. Anh lần đầu tiên khoác áo đội tuyển Anh vào ngày 23 tháng 3 năm 2024 khi vào sân thay người ở phút thứ 20 trong trận thua giao hữu 0–1 trước Brasil ở Sân vận động Wembley.
Ngày 6 tháng 6 năm 2024, Konsa có tên trong đội hình 26 người của đội tuyển Anh tham dự UEFA Euro 2024. Ngày 30 tháng 6 năm 2024, anh chơi trận UEFA Euro đầu tiên khi vào sân từ băng ghế dự bị vào phút 106 trong hiệp hai của thời gian bù giờ sau khi thay đồng đội Jude Bellingham trong trận thắng 2–1 trước Slovakia tại vòng 16 đội UEFA Euro 2024. Anh đá chính để thay cho Marc Guéhi bị treo giò và chơi 78 phút một cách xuất sắc trước khi được Cole Palmer thay ra trong trận hòa 1–1 với Thụy Sĩ ở tứ kết vào ngày 6 tháng 7 năm 2024, nơi đội tuyển Anh giành chiến thắng chung cuộc 5–3 sau loạt sút luân lưu. Anh đã chơi những phút cuối cùng của thời gian bù giờ khi thay thế Bukayo Saka trong chiến thắng 2-1 của Anh trước Hà Lan ở bán kết vào ngày 10 tháng 7 năm 2024. Anh là cầu thủ dự bị trong trận thua 1–2 trước nhà vô địch giải đấu Tây Ban Nha trong trận chung kết UEFA Euro 2024, nơi anh giành vị trí á quân cùng đội tuyển nước nhà.
Ngày 9 tháng 9 năm 2025, Konsa ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong chiến thắng 5–0 trên sân khách trước Serbia tại Vòng loại FIFA World Cup 2026.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, Konsa có tên trong đội hình 26 người của đội tuyển Anh tham dự FIFA World Cup 2026. Ngày 17 tháng 6, Konsa chơi trận FIFA World Cup đầu tiên khi đá chính ở vị trí trung vệ trong trận thắng 4–2 mở màn trước Croatia tại FIFA World Cup 2026. Anh tiếp tục đá chính ở vị trí trung vệ và góp phần giữ sạch lưới liên tiếp trong trận hòa 0–0 với Ghana và trận thắng 2–0 Panama trong các trận đấu vòng bảng thứ hai và thứ ba vào những ngày 23 tháng 6 và 27 tháng 6. Ngày 6 tháng 7, anh đá chính ở vị trí trung vệ và ở vị trí hậu vệ phải sau khi Jarell Quansah nhận thẻ đỏ ở phút 54 trong chiến thắng 3–2 của Anh trước México tại Sân vận động Azteca ở vòng 16 đội. Anh tiếp tục đá ở vị trí hậu vệ phải trong chiến thắng 2–1 trước Na Uy ở tứ kết vào ngày 12 tháng 7. Konsa ra sân và ghi bàn thắng thứ hai cho Anh trong trận tranh hạng ba với Pháp trong chiến thắng 6–4 vào ngày 18 tháng 7.
Phong cách thi đấu
Konsa là một trung vệ thuận chân phải và cũng có thể được bố trí chơi ở vị trí hậu vệ phải. Anh là một hậu vệ nhanh nhẹn, thường xuyên dẫn bóng lên phía trước và cản phá các cú sút. Anh có tỷ lệ tắc bóng thành công cao hơn so với các hậu vệ khác và hiếm khi thực hiện các pha tắc bóng quyết liệt. Tháng 4 năm 2024, anh có tỷ lệ tắc bóng 91%, tỷ lệ cao nhất trong số các hậu vệ ở năm giải đấu hàng đầu châu Âu. Anh cũng được ghi nhận là một cầu thủ thường xuyên thắng cả các pha tranh chấp trên mặt đất và trên không.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 20 tháng 5 năm 2026
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Cúp Liên đoàn | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Charlton Athletic | 2015–16 | Championship | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 0 | 0 | ||
| 2016–17 | League One | 32 | 0 | 3 | 0 | 1 | 0 | — | 3 | 0 | 39 | 0 | ||
| 2017–18 | League One | 39 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | — | 4 | 0 | 47 | 0 | ||
| Tổng cộng | 71 | 0 | 5 | 0 | 3 | 0 | — | 7 | 0 | 86 | 0 | |||
| Brentford | 2018–19 | Championship | 42 | 1 | 4 | 0 | 1 | 0 | — | — | 47 | 1 | ||
| Aston Villa | 2019–20 | Premier League | 25 | 1 | 0 | 0 | 6 | 1 | — | — | 31 | 2 | ||
| 2020–21 | Premier League | 36 | 2 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 37 | 2 | |||
| 2021–22 | Premier League | 29 | 2 | 1 | 0 | 1 | 0 | — | — | 31 | 2 | |||
| 2022–23 | Premier League | 38 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 39 | 0 | |||
| 2023–24 | Premier League | 35 | 1 | 2 | 0 | 1 | 0 | 12 | 0 | — | 50 | 1 | ||
| 2024–25 | Premier League | 34 | 2 | 5 | 0 | 0 | 0 | 11 | 1 | — | 50 | 3 | ||
| 2025–26 | Premier League | 34 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | 12 | 2 | — | 48 | 2 | ||
| Tổng cộng | 231 | 8 | 9 | 0 | 11 | 1 | 35 | 3 | — | 286 | 12 | |||
| Arsenal | 2026–27 | Premier League | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 1 | 0 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 345 | 9 | 18 | 0 | 15 | 1 | 35 | 3 | 7 | 0 | 420 | 13 | ||
- ^ Bao gồm FA Cup
- ^ Bao gồm EFL Cup
- ^ Appearances in EFL Trophy
- ^ Hai lần ra sân tại EFL Trophy, hai lần ra sân tại play-off EFL League One
- ^ Số lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ^ Số lần ra sân tại UEFA Europa League
Quốc tế
- Tính đến 18 tháng 7 năm 2026
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Anh | 2024 | 9 | 0 |
| 2025 | 8 | 1 | |
| 2026 | 11 | 1 | |
| Tổng cộng | 28 | 2 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Anh được để trước, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Konsa.
| # | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 9 tháng 9 năm 2025 | Sân vận động Sao Đỏ, Beograd, Serbia | 14 | 3–0 | 5–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2026 | |
| 1 | 18 tháng 7 năm 2026 | Sân vận động Hard Rock, Miami Gardens, Miami, Florida, Hoa Kỳ | 28 | 2–0 | 6–4 | FIFA World Cup 2026 |
Danh hiệu
Câu lạc bộ
Aston Villa
- Vô địch UEFA Europa League: 2025–26
- Á quân EFL Cup: 2019–20
Quốc tế
U-20 Anh
U-21 Anh
- Vô địch Giải đấu Maurice Revello: 2018
Anh
- Á quân UEFA Euro: 2024
- Hạng 3 FIFA World Cup: 2026
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất của Charlton Athletic: 2016–17
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Ezri Konsa trên trang web Arsenal F.C. (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa – Thành tích thi đấu tại UEFA (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa tại BDFutbol (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa tại Soccerbase (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa tại Soccerway (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa tại WorldFootball.net (bằng tiếng Anh)
- Ezri Konsa trong cơ sở dữ liệu transfermarkt (bằng tiếng Anh)
Thống kê chỉ số