Quay lại
Edin Dzeko

Edin Dzeko

Số áo #10

Forward

Quốc tịch Flag Bosnia and Herzegovina
Tuổi 40
Chiều cao 6' 4"
Cân nặng 174 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Schalke 04

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Edin Džeko
Džeko trong màu áo đội tuyển Bosna và Hercegovina vào năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Edin Džeko
Ngày sinh 17 tháng 3, 1986 (40 tuổi)
Nơi sinh Sarajevo, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Bosna và Hercegovina
, Nam Tư
Chiều cao 1,93 m (6 ft 4 in)
Vị trí Tiền đạo cắm
Thông tin đội
Đội hiện nay
Schalke 04
Số áo 10
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1996–2003 Željezničar Sarajevo
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2005 Željezničar 40 (5)
2005–2007 Teplice 43 (16)
2005Ústí nad Labem (mượn) 15 (6)
2007–2011 VfL Wolfsburg 111 (66)
2011–2016 Manchester City 130 (50)
2015–2016Roma (mượn) 31 (8)
2016–2021 Roma 168 (77)
2021–2023 Inter Milan 69 (22)
2023–2025 Fenerbahçe 71 (35)
2025–2026 Fiorentina 11 (0)
2026– Schalke 04 11 (6)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 U-19 Bosna và Hercegovina 5 (0)
2006–2007 U-21 Bosna và Hercegovina 5 (1)
2007– Bosna và Hercegovina 151 (73)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 17 tháng 5 năm 2026
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 1 tháng 7 năm 2026

Edin Džeko (phát âm tiếng Serbia-Croatia: [ědin dʒêːko]; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bosnia hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm cho câu lạc bộ Schalke 04 tại Bundesliga và là đội trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Bosna và Hercegovina. Được đánh giá là một trong những tiền đạo cắm xuất sắc nhất thế giới trong thế hệ của mình, anh là cầu thủ ra sân nhiều nhất và ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại trong màu áo đội tuyển quốc gia Bosna và Hercegovina. Trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình, anh đã ghi hơn 400 bàn thắng trong sự nghiệp cho câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia.

Džeko được vinh danh là Cầu thủ bóng đá Bosnia của năm ba năm liên tiếp. Anh được người hâm mộ bóng đá và nhà báo ở Bosna và Hercegovina đặt biệt danh là "Viên kim cương Bosnia" (tiếng Bosnia: Bosanski dijant) hoặc đơn giản là "Kim cương" (Dijament). Trước khi gia nhập Inter Milan, anh chơi cho Manchester CityRoma, song anh đã ghi tên mình khi khoác áo cho câu lạc bộ Đức VfL Wolfsburg, đội mà anh giành được danh hiệu Bundesliga trong mùa giải 2008–09. Anh là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ hai với 26 bàn. Trong mùa giải 2009–10, Džeko là vua phá lưới với 22 bàn. Anh cũng đã có 10 pha kiến tạo trong cả hai mùa giải.

Trong mùa giải Premier League 2011–12, Džeko ghi bốn bàn trong một trận cho Manchester City trước Tottenham Hotspur tại White Hart Lane. Ngày cuối cùng của mùa giải đó, anh đã ghi bàn gỡ hòa vào lưới Queens Park Rangers ở phút thứ 92, trước khi Sergio Agüero mang về bàn thắng cho City chỉ còn vài giây nữa, giúp đội giành chiến thắng một chức vô địch lần đầu tiên sau 44 năm. Ngày 3 tháng 3 năm 2018, Džeko đã ghi bàn thắng thứ 50 cho Roma ở giải Serie A, qua đó trở thành cầu thủ đầu tiên ghi được 50 bàn thắng ở ba trong số năm giải đấu lớn hàng đầu châu Âu.

Từng là tuyển thủ trẻ cho Bosna và Hercegovina, Džeko ra mắt đội tuyển quốc gia cấp chuyên nghiệp vào năm 2007, ra sân hơn 130 trận và ghi 67 bàn kể từ đó. Džeko trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại của Bosna và Hercegovina vào ngày 7 tháng 9 năm 2012 trong một trận đấu với Liechtenstein, nơi anh ghi một cú hat-trick để vượt qua Zvjezdan MisimovićElvir Bolić. Ngày 11 tháng 9 năm 2018, trong trận đấu với Áo, anh đã chơi trận thứ 95 cho Bosnia và Herzegovina và vượt qua Emir Spahić để trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất. Mười bàn thắng của anh trong chiến dịch vòng loại đã giúp đội tuyển quốc gia của anh đủ điều kiện tham dự giải đấu quốc tế đầu tiên, FIFA World Cup 2014. Lần lượt trong hai năm 2022 và 2024, anh đã vượt qua các kỷ lục của Emir Spahić và Samir Muratović để trở thành cầu thủ lớn tuổi nhất và ghi bàn nhiều nhất trong màu áo đội tuyển Bosna và Hercegovina.

Câu lạc bộ

Giai đoạn đầu

Dzeko có trận ra mắt ở FK Željezničar trong vai trò một tiền vệ từ năm 2003-2005, ghi 1 bàn trong tổng cộng 40 trận. Anh có thời gian được đem cho FK Ústí nad Labem mượn vào năm 2005, trong quãng thời gian này anh ghi 6 bàn trong 15 trận. Cuối năm đó, anh chuyển tới Cộng hòa Séc để chơi cho FK Teplice và anh chơi ở đó cho tới năm 2007, ghi 16 bàn trong 43 trận. Anh là vua phá lưới ở mùa giải 2006-07.Nhờ có thành tích này, huấn luyện viên Felix Magath của VfL Wolfsburg quyết định chiêu mộ anh với giá 4 triệu Euro.

VfL Wolfsburg

Sau khi chuyển tới Wolfsburg, Dzeko ngay lập tức tạo được ấn tượng, ghi 5 bàn và có 3 pha kiến tạo trong 12 trận. Anh được tạp chí Sportal bầu chọn là tiền đạo hay nhất của nửa đầu mùa giải 2007-08.Trong mùa bóng đầu tiên của anh ở Đức, Wolfsburg về đích ở vị trí thứ 5, được lọt vào vòng sơ loại cúp UEFA ở mùa giải 2008-09.Dzeko kết thúc mùa giải 2007-08 với 8 bàn thắng và 7 đường kiến tạo trong 17 trận ra sân.

Sau khi Wolfsburg chiêu một cầu thủ đồng hương của Dzeko là Zvjezdan Misimović, màn trình diễn của Dzeko trong mùa giải thứ hai đã được cải thiện. Mặc dù có bước khởi đầu không tốt ở giai đoạn lượt đi, anh và các đồng đội đã tìm lại được phong độ và vô địch Bundesliga lần đầu tiên. Vào tháng 5 năm 2009, Dzeko lập cú hattrick vào lưới TSG 1899 Hoffeinhem, và một cú hattrick khác trong trận gặp Hannover 96 chỉ hai tuần sau, đóng góp vào chức vô địch vô cùng thuyết phục ở mùa giải 2008-09.Anh kết thúc mùa giải với tổng cộng 26 bàn thắng, chỉ đứng sau người đồng đội Grafite.Cùng với Grafite, họ trở thành cặp đôi tiền đạo nguy hiểm nhất trong lịch sử Bundesliga.Anh kết thúc mùa giải 2008-09 với 26 bàn và 10 đường kiến tạo trong 32 trận ở giải quốc nội. Ở cúp quốc gia Đức, anh có 6 bàn trong 2 trận, và ở cúp UEFA, anh có 4 bàn cùng 2 đường kiến tạo trong 8 trận. Màn trình diễn này đã giúp anh được công nhận là Cầu thủ xuất sắc nhất nước Đức.Màn trình diễn ấn tượng của anh đã thu hút nhiều sự chú ý của các câu lạc bộ hàng đầu châu Âu. Vào ngày 28 tháng 6 năm 2009, AC Milan đánh tiếng muốn có tiền đạo người Bosnia; Đội bóng Đức sau đó từ chối mọi lời đề nghị và khẳng định việc Dzeko sẽ ở lại bằng bản hợp đồng tới tháng 6 năm 2013.

Manchester City

Sau nhiều đồn đoán, Roberto Mancini, huấn luyện viên Manchester City, xác nhận ngày 3 tháng 1 năm 2011 mức phí 27 triệu £(32 triệu €) đã được chi cho Wolfsburg để có Džeko, đó là con số chuyển nhượng cao thứ hai của Man City, sau Robinho với trị giá 32.5 triệu £ (42.5 triệu €) chuyển đến từ Real Madrid năm 2008. mức chuyển nhượng cao thứ 6 tại Premier League.

AS Roma

Mùa hè năm 2015, Edin Dzeko chuyển sang AS Roma dưới dạng cho mượn. Một năm sau, Giallorossi quyết định kích hoạt điều khoản mua đứt trị giá 11 triệu euro. Mùa giải 2016 - 2017 là quãng thời gian thành công nhất của Dzeko tại Olimpico. Anh đã ghi được 29 bàn thắng tại Serie A và đoạt danh hiệu Capocannoniere. Dù có sự xuất hiện của Patrik Schick cũng không thể khiến Dzeko đánh mất vị trí trong đội hình xuất phát. Mùa hè năm 2019, AS Roma từng không muốn gia hạn hợp đồng với tiền đạo 33 tuổi. Ngay lập tức, HLV Antonio Conte đã tìm cách để đưa anh về Giuseppe Meazza. Mặc dù vậy, Dzeko vẫn muốn tiếp tục gắn bó với AS Roma. Vào ngày 17/8/2019, anh chính thức đặt bút kí vào bản hợp đồng mới với AS Roma có thời hạn đến tháng 6/2022.

Inter Milan

Vào ngày 14 tháng 8 năm 2021, Džeko gia nhập câu lạc bộ Inter Milan với một bản hợp đồng có thời hạn 2 năm.Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 4–0 trước Genoa

Thi đấu quốc tế

Dzeko trong trận đấu giao hữu với Áo vào ngày 31 tháng 3 năm 2015

Lần đầu tiên Dzeko ra sân cho đội tuyển Bosnia và Herzegovina là cùng đội U-19 vào năm 2003.Trận đầu tiên là gặp Kazakhstan.Anh cũng là thành viên đội U21 và chơi ở trận playoff để tham dự giải U21 vào năm 2007 ở Hà Lan. Thử thách đầu tiên của Bosnia là Armenia và Na Uy. Họ thắng Armenia 3-2 và hoà Na Uy 1-1, điều này giúp họ được vào vòng playoff gặp cộng hoà Séc. Ở trận lượt đi, Bosnia thua 2-1; ở trận lượt về, trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1.

Anh có trận ra mắt trong màu áo đội tuyển ở trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 2 tháng 6 năm 2008.Đó là trận ra mắt đáng nhớ cho cầu thủ trẻ này, khi ở trận này anh thực hiện cú volley ngoạn mục vào lưới ở phút bù giờ hiệp một. Bàn thắng giúp Bosnia cân bằng tỉ số 2-2 và họ vượt lên để thắng 3-2.Anh ghi 7 bàn ở vòng loại World Cup 2010 và hiện là người ghi nhiều bàn thứ hai ở vòng loại, sau Wayne Rooney của Anh.

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Tính đến 17 tháng 5 năm 2026
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Željezničar 2003–04 Bosnian Premier League 20 4 ? ? 1 0 21+ 4+
2004–05 20 1 ? ? 0 0 20+ 1+
Tổng cộng 40 5 ? ? 0 0 1 0 0 0 41+ 5+
Teplice 2005–06 Czech First League 13 3 13 3
2006–07 30 13 2 0 2 0 34 13
Tổng cộng 43 16 2 0 0 0 2 0 0 0 47 16
Ústí nad Labem (mượn) 2005–06 Czech National League 15 6 2+ 1+ 17+ 7+
VfL Wolfsburg 2007–08 Bundesliga 28 8 5 1 33 9
2008–09 32 26 2 6 8 4 42 36
2009–10 34 22 2 2 12 5 48 29
2010–11 17 10 2 1 19 11
Tổng cộng 111 66 11 10 0 0 20 9 0 0 142 85
Manchester City 2010–11 Premier League 15 2 2 2 4 2 21 6
2011–12 30 14 0 0 4 3 8 1 1 1 43 19
2012–13 32 14 5 0 1 0 6 1 1 0 45 15
2013–14 31 16 5 2 5 6 7 2 48 26
2014–15 22 4 1 0 2 2 6 0 1 0 32 6
Tổng cộng 130 50 13 4 12 11 31 6 3 1 189 72
Roma (mượn) 2015–16 Serie A 31 8 1 0 7 2 39 10
Roma 2016–17 37 29 4 2 10 8 51 39
2017–18 36 16 1 0 12 8 49 24
2018–19 33 9 1 0 6 5 40 14
2019–20 35 16 0 0 8 3 43 19
2020–21 27 7 1 0 10 6 38 13
Tổng cộng 199 85 8 2 0 0 53 32 0 0 260 119
Inter Milan 2021–22 Serie A 36 13 5 1 7 3 1 0 49 17
2022–23 33 9 5 0 13 4 1 1 52 14
Tổng cộng 69 22 10 1 0 0 20 7 2 1 101 31
Fenerbahçe 2023–24 Süper Lig 36 21 0 0 10 4 0 0 46 25
2024–25 35 14 2 0 16 7 53 21
Tổng cộng 71 35 2 0 0 0 26 11 0 0 99 46
Fiorentina 2025–26 Serie A 11 0 7 2 18 2
Schalke 04 2025–26 2. Bundesliga 11 6 11 6
Tổng cộng sự nghiệp 695 289 48 18 12 11 160 67 5 2 920 387
  1. ^ Bao gồm Bosnian Cup, Czech Cup, DFB-Pokal, FA Cup, Coppa Italia, Turkish Cup
  2. ^ Bao gồm EFL Cup
  3. ^ Ký hiệu '?' chỉ ra rằng số chưa biết; có thể là 0 hoặc lớn hơn.
  4. ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Cup
  5. ^ Số lần ra sân tại UEFA Intertoto Cup
  6. ^ Edin Džeko đã chơi ít nhất 2 trận cho Ústí nad LabemCúp bóng đá Séc 2005–06 trong 4 trận đấu mà câu lạc bộ chơi ở đó, trong đó anh ghi được 1 bàn thắng.
  7. ^ Sáu lần ra sân và bốn bàn thắng tại UEFA Champions League, sáu lần ra sân và một bàn thắng tại UEFA Europa League
  8. ^ a b c Số lần ra sân tại UEFA Europa League
  9. ^ Năm lần ra sân tại UEFA Champions League, ba lần ra sân và một bàn thắng tại UEFA Europa League
  10. ^ a b c Ra sân tại FA Community Shield
  11. ^ a b c d e f g h Số lần ra sân tại UEFA Champions League
  12. ^ Hai lần ra sân tại UEFA Champions League, tám lần ra sân và tám bàn thắng tại UEFA Europa League
  13. ^ a b Ra sân tại Supercoppa Italiana
  14. ^ Số lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
  15. ^ Bốn lần ra sân và bốn bàn thắng tại UEFA Champions League, mười hai lần ra sân và ba bàn thắng tại UEFA Europa League
  16. ^ Số lần ra sân tại UEFA Conference League

Đội tuyển quốc gia

Tính đến 1 tháng 7 năm 2026
Số lần ra sân và số bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Bosna và Hercegovina
2007 7 1
2008 6 5
2009 10 8
2010 8 3
2011 10 3
2012 9 6
2013 9 7
2014 10 5
2015 7 7
2016 7 4
2017 6 3
2018 10 3
2019 8 3
2020 5 1
2021 6 1
2022 8 4
2023 7 1
2024 6 2
2025 7 5
2026 5 1
Tổng cộng 151 73
  1. ^ Ba lần ra sân và một bàn thắng tại FIFA World Cup 2014

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 2 tháng 6 năm 2007 Sân vận động Asim Ferhatović Hase, Sarajevo, Bosna và Hercegovina  Thổ Nhĩ Kỳ
2–2
3–2
Vòng loại UEFA Euro 2008
2. 10 tháng 9 năm 2008 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Estonia
5–0
7–0
Vòng loại FIFA World Cup 2010
3.
6–0
4. 11 tháng 10 năm 2008 Sân vận động BJK İnönü, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Thổ Nhĩ Kỳ
1–0
1–2
5. 15 tháng 10 năm 2008 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Armenia
2–0
4–1
6. 19 tháng 11 năm 2008 Sân vận động Ljudski vrt, Maribor, Slovenia  Slovenia
3–1
4–3
Giao hữu
7. 28 tháng 3 năm 2009 Cristal Arena, Genk, Bỉ  Bỉ
1–0
4–2
Vòng loại FIFA World Cup 2010
8. 1 tháng 4 năm 2009 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Bỉ
1–0
2–1
9.
2–0
10. 6 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Pierre de Coubertin, Cannes, Pháp  Oman
1–0
2–1
Giao hữu
11. 12 tháng 8 năm 2009 Sân vận động Asim Ferhatović Hase, Sarajevo, Bosna và Hercegovina  Iran
1–0
2–3
12.
2–0
13. 10 tháng 10 năm 2009 A. Le Coq Arena, Tallinn, Estonia  Estonia
1–0
2–0
Vòng loại FIFA World Cup 2010
14. 14 tháng 10 năm 2009 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Tây Ban Nha
1–5
2–5
15. 3 tháng 6 năm 2010 Commerzbank-Arena, Frankfurt, Đức  Đức
1–0
1–3
Giao hữu
16. 3 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Josy Barthel, Thành phố Luxembourg, Luxembourg  Luxembourg
3–0
3–0
Vòng loại UEFA Euro 2012
17. 17 tháng 11 năm 2010 Sân vận động Pasienky, Bratislava, Slovakia  Slovakia
3–1
3–2
Giao hữu
18. 26 tháng 3 năm 2011 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  România
2–1
2–1
Vòng loại UEFA Euro 2012
19. 7 tháng 10 năm 2011  Luxembourg
1–0
5–0
20. 11 tháng 10 năm 2011 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Pháp
1–0
1–1
21. 1 tháng 6 năm 2012 Soldier Field, Chicago, Hoa Kỳ  México
1–1
1–2
Giao hữu
22. 7 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein
5–0
8–1
Vòng loại FIFA World Cup 2014
23.
6–1
24.
7–1
25. 11 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Latvia
4–1
4–1
26. 16 tháng 10 năm 2012  Litva
2–0
3–0
27. 22 tháng 3 năm 2013  Hy Lạp
1–0
3–1
28.
3–0
29. 7 tháng 6 năm 2013 Sân vận động Skonto, Riga, Latvia  Latvia
5–0
5–0
30. 14 tháng 8 năm 2013 Sân vận động Asim Ferhatović Hase, Sarajevo, Bosna và Hercegovina  Hoa Kỳ
1–0
3–4
Giao hữu
31.
3–4
32. 11 tháng 10 năm 2013  Liechtenstein
1–0
4–1
Vòng loại World Cup 2014
33.
4–0
34. 1 tháng 6 năm 2014 Edward Jones Dome, St. Louis, Hoa Kỳ  Bờ Biển Ngà
1–0
2–1
Giao hữu
35.
2–0
36. 25 tháng 6 năm 2014 Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil  Iran
1–0
3–1
FIFA World Cup 2014
37. 4 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Tušanj, Tuzla, Bosna và Hercegovina  Liechtenstein
3–0
3–0
Giao hữu
38. 13 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Bỉ
1–0
1–1
Vòng loại UEFA Euro 2016
39. 28 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Quốc gia, Andorra la Vella, Andorra  Andorra
1–0
3–0
40.
2–0
41.
3–0
42. 12 tháng 6 năm 2015 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Israel
2–1
3–1
43. 3 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bỉ
1–0
1–3
44. 6 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Andorra
2–0
3–0
45. 13 tháng 11 năm 2015  Cộng hòa Ireland
1–1
1–1
46. 29 tháng 3 năm 2016 Letzigrund, Zürich, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ
0–1
0–1
Giao hữu
47. 6 tháng 9 năm 2016 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Estonia
2–0
5–0
Vòng loại FIFA World Cup 2018
48. 10 tháng 10 năm 2016  Andorra
1–0
2–0
49.
2–0
50. 28 tháng 3 năm 2017 Elbasan Arena, Elbasan, Albania  Albania
1–0
2–1
Giao hữu
51. 3 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Algarve, Faro/Loulé, Bồ Đào Nha  Gibraltar
1–0
4–0
Vòng loại FIFA World Cup 2018
52.
4–0
53. 11 tháng 9 năm 2018 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Áo
1–0
1–0
UEFA Nations League 2018–19
54. 16 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Grbavica, Sarajevo, Bosna và Hercegovina  Bắc Ireland
1–0
2–0
55.
2–0
56. 11 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Juventus, Turin, Ý  Ý
1–0
1–2
Vòng loại UEFA Euro 2020
57. 5 tháng 9 năm 2019 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Ý
3–0
5–0
58. 8 tháng 9 năm 2019 Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia  Armenia
1–0
2–4
59. 4 tháng 9 năm 2020 Sân vận động Artemio Franchi, Florence, Ý  Ý
1–0
1–1
UEFA Nations League 2020–21
60. 1 tháng 9 năm 2021 Sân vận động Meinau, Strasbourg, Pháp  Pháp
1–0
1–1
Vòng loại FIFA World Cup 2022
61. 29 tháng 3 năm 2022 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Luxembourg
1–0
1–0
Giao hữu
62. 14 tháng 6 năm 2022  Phần Lan
2–2
3–2
UEFA Nations League 2022–23
63.
3–2
64. 26 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Rapid-Giulești, Bucharest, România  România
1–2
1–4
65. 8 tháng 9 năm 2023 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Liechtenstein
1–0
2–1
Vòng loại UEFA Euro 2024
66. 7 tháng 9 năm 2024 Philips Stadion, Eindhoven, Hà Lan  Hà Lan
2–3
2–5
UEFA Nations League 2024–25
67. 11 tháng 10 năm 2024 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Đức
1–2
1–2
68. 7 tháng 6 năm 2025  San Marino
1–0
1–0
Vòng loại FIFA World Cup 2026
69. 6 tháng 9 năm 2025 Sân vận động San Marino, Serravalle, San Marino
2–0
6–0
70.
3–0
71. 9 tháng 9 năm 2025 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Áo
1–1
1–2
72. 15 tháng 11 năm 2025  România
1–1
3–1
73. 26 tháng 3 năm 2026 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Wales
1–1
1–1 (s.h.p.) (4–2 p)

Danh hiệu

VfL Wolfsburg

Manchester City

Inter Milan

Schalke 04

Cá nhân

  • Bosnian Sportsman of the Year: 2009, 2018[citation needed]
  • Bosnian Footballer of the Year: 2009, 2010, 2011
  • Castrol Performance Index EDGE Performance of the Month: August 2011
  • Bundesliga Players' Player of the Year: 2008–09
  • kicker Bundesliga Team of the Season: 2008–09, 2009–10
  • Bundesliga top scorer (Torschützenkönige): 2009–10
  • Serie A top scorer: 2016–17
  • UEFA Champions League Squad of the Season: 2017–18
  • UEFA Europa League Squad of the Season: 2020–21
  • Premier League Player of the Month: August 2011
  • Roma Supporters' Player of the Season: 2017–18
  • DFB-Pokal Top Goalscorer: 2008-09

Tham khảo

Liên kết ngoài

Thống kê chỉ số

Số trận 1 (2)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 3
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0

NL
✦ Đối Tác Công Nghệ
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
21 GIỜ : 32 PHÚT : 56 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO