Quay lại
Darko Nejasmic

Darko Nejasmic

Số áo #6

Midfielder

Quốc tịch Flag Croatia
Tuổi 27
Chiều cao N/A
Cân nặng N/A

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

NEC Nijmegen

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Địa lý Croatia
Bản đồ địa hình Croatia.
VùngTrung Âu, Đông Nam Âu, Nam Âu
Tọa độ45°8′30″B 16°13′45″Đ / 45,14167°B 16,22917°Đ / 45.14167; 16.22917
Diện tích
 • Đất99,00%
 • Nước1,00%
Biên giớiTổng biên giới đất liền: 2.237 km (1.390 dặm)
Slovenia: 670 km (416 dặm)
Hungary: 348 km (216 dặm)
Serbia: 314 km (195 dặm)
Bosna và Herzegovina: 956 km (594 dặm)
Montenegro: 19 km (12 dặm)
Điểm cao nhấtDinara, 1.831 m (6.007 ft)
Điểm thấp nhấtMực nước biển (biển Adriatic), 0 m (0 ft)
Sông dài nhấtsông Sava, 562 km (349 dặm)
Hồ lớn nhấthồ Vrana, 30,7 km² (11,9 dặm vuông)
Địa hìnhVùng đồng bằng bằng phẳng ở phía bắc và đông bắc; vùng núi đồi Karst thấp và trung bình ở miền trung và duyên hải ven biển.
Thiên taiĐộng đất, sạt lở đất, cháy rừng mùa hè, lũ lụt.

Địa lý Croatia được định hình bởi vị trí địa lý đặc biệt nằm trên vùng giao thoa giữa Trung Âu, Đông Nam Âu và vùng bờ biển Nam Âu. Lãnh thổ của Croatia có diện tích 56.594 km² (khoảng 21.851 dặm vuông), xếp thứ 127 về diện tích trên thế giới. Đất nước có ranh giới tiếp giáp với Slovenia ở phía tây bắc, Hungary ở phía bắc, Serbia ở phía đông, Bosna và Herzegovina ở phía nam và đông nam, cùng Montenegro ở phía đông nam, đồng thời giáp biển Adriatic ở phía nam và tây nam. Lãnh thổ Croatia nằm trong khoảng từ vĩ độ 42° đến 47° Bắc và kinh độ 13° đến 20° Đông. Vùng lãnh hải của Croatia bao phủ 18.981 km² (7.329 dặm vuông) trong dải rộng 12 dặm hải lý, cùng vùng nước nội thủy rộng 12.498 km² (4.825 dặm vuông) nằm phía trong đường cơ sở.

Về mặt địa mạo, lãnh thổ Croatia được chia thành ba vùng chính: đồng bằng Pannonian, dải núi Dinaric Alps và Vùng bồn địa Adriatic. Vùng đồng bằng thấp chiếm phần lớn diện tích đất nước, trong đó các khu vực có độ cao dưới 200 m (656 ft) so với mực nước biển chiếm tới 53,42% lãnh thổ. Đại bộ phận đồng bằng tập trung ở miền Bắc, đặc biệt là khu vực Slavonia thuộc Đồng bằng Pannonian. Các dải đồng bằng này bị chia cắt bởi các cấu trúc địa lũyđịa hào, vốn là các đảo cổ nổi lên trên bề mặt biển Pannonia vào thế Pliocen. Vùng có độ cao địa hình lớn nhất tập trung tại các khu vực LikaGorski Kotar thuộc dãy Dinaric Alps. Dãy Dinaric Alps là nơi có ngọn núi cao nhất Croatia — đỉnh Dinara cao 1.831 m (6.007 ft) — cùng toàn bộ các đỉnh núi khác có độ cao trên 1.500 m (4.921 ft). Đường bờ biển đất liền của Croatia ven biển Adriatic dài 1.777,3 km (1.104,4 dặm), trong khi hệ thống 1.246 hòn đảo và đảo nhỏ ven bờ bổ sung thêm 4.058 km (2.522 dặm) đường bờ biển — tạo nên một trong những dải bờ biển bị chia cắt mạnh nhất khu vực Địa Trung Hải. Địa hình karst bao phủ khoảng một nửa diện tích Croatia, đặc biệt phát triển mạnh trên dãy Dinaric Alps và toàn bộ dải duyên hải cùng các hải đảo.

Khoảng 62% lãnh thổ Croatia nằm trong lưu vực thoát nước của biển Đen. Khu vực này chứa các hệ thống sông lớn nhất chảy qua đất nước như sông Danube, sông Sava, sông Drava, sông Mursông Kupa. Phần còn lại thuộc lưu vực biển Adriatic, nơi dòng sông lớn nhất là sông Neretva. Đại bộ phận diện tích Croatia mang khí hậu lục địa ôn hòa có mưa quanh năm theo phân loại khí hậu Köppen. Nhiệt độ trung bình tháng dao động trong khoảng từ −3 °C đến 18 °C. Nhờ sự đa dạng về khí hậu và địa hình, Croatia là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất châu Âu, phân thành bốn vùng sinh thái địa lý chính: vùng Địa Trung Hải ven biển, vùng Núi cao Alpine tại Lika và Gorski Kotar, vùng Pannonian dọc sông Drava và Danube, cùng vùng Lục địa ở các khu vực còn lại. Toàn quốc có 444 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm 8,5% diện tích; thống kê ghi nhận khoảng 37.000 loài sinh vật hiện hữu và ước tính tổng số loài thực tế dao động từ 50.000 đến 100.000 loài.

Dân số thường trú của Croatia theo kỳ điều tra dân số năm 2011 đạt 4,29 triệu người. Mật độ dân số trung bình đạt 75,8 người/km², và tuổi thọ trung bình khi sinh đạt 75,7 tuổi. Thành phần dân tộc chủ yếu là người Croat (89,6%), trong khi các nhóm dân tộc thiểu số gồm người Serb (4,5%) cùng 21 dân tộc thiểu số khác (mỗi nhóm dưới 1%) được Hiến pháp Croatia công nhận. Kể từ khi các hạt được tái thiết lập vào năm 1992, Croatia được chia thành 20 hạt và thành phố thủ đô Zagreb. Các hạt tiếp tục phân chia thành 127 thành phố và 429 hạt. Tỷ lệ đô thị hóa trung bình của Croatia đạt 56%, với dân số đô thị ngày càng tăng và dân số nông thôn thu hẹp. Thành phố lớn nhất và là thủ đô quốc gia là Zagreb, với dân số khu vực nội đô đạt 797.952 người và vùng đô thị mở rộng đạt 978.161 người. Các thành phố lớn tiếp theo trên vùng duyên hải bao gồm SplitRijeka (đều trên 100.000 dân), cùng 5 thành phố khác có trên 50.000 dân.

Diện tích và biên giới

Tổng diện tích lãnh thổ của Croatia đạt 56.594 km² (21.851 dặm vuông), xếp thứ 127 trên thế giới. Địa lý tự nhiên định vị Croatia là một bộ phận của khu vực Đông Nam Âu. Đường biên giới đất liền của Croatia tiếp giáp với Bosna và Herzegovina (1.009,1 km) ở phía nam và đông nam, Slovenia (667,8 km) ở phía tây bắc, Hungary (355,5 km) ở phía bắc, Serbia (317,6 km) ở phía đông, Montenegro (22,6 km) ở phía đông nam và mở ra biển Adriatic ở phía tây, nam và tây nam. Lãnh thổ Croatia nằm trong khoảng từ vĩ độ 42° đến 47° Bắc và kinh độ 13° đến 20° Đông. Ở phía cực nam, vùng lãnh thổ xung quanh Dubrovnik bị chia cắt khỏi phần đất liền phía bắc bởi một dải bờ biển hẹp thuộc thị trấn Neum của Bosna và Herzegovina. Hình dạng lãnh thổ đặc thù giống như "hình móng ngựa của Croatia là kết quả của các biến động địa chính trị suốt thời Trung cổ.

Đường biên giới dài 348 km (216 dặm) với Hungary chủ yếu chạy dọc theo dòng sông Drava hoặc lòng sông cổ, có lịch sử hình thành từ thời Trung cổ. Đoạn biên giới tại vùng MeđimurjeBaranya được xác lập là ranh giới giữa Vương quốc Hungary và Vương quốc của người Serb, người Croat và người Slovene, sau đổi tên thành Vương quốc Yugoslavia, theo Hiệp ước Trianon năm 1920. Đường biên giới dài 956 km (594 dặm) với Bosna và Herzegovina và 19 km (12 dặm) với Montenegro là sản phẩm của cuộc xâm lược của Đế quốc Ottoman và các chiến dịch tái chiếm lãnh thổ trong Đại Chiến tranh Thổ Nhĩ Kỳ (1667–1698) kết thúc bằng Hiệp ước Karlowitz, cũng như các cuộc chiến tranh Venezia-Thổ Nhĩ Kỳ lần thứ Nămlần thứ Bảy. Các đường biên giới hiện đại được định hình lại một chút vào năm 1947 bởi Ủy ban Phân giới AVNOJ thiết lập cấu trúc liên bang cho Yugoslavia. Qua đó, Baranya và Međimurje được công nhận là lãnh thổ của Croatia, đồng thời thiết lập đường biên giới dài 314 km (195 dặm) giữa Serbia và Croatia dọc theo Syrmiasông Danube nối từ Ilok đến vùng cửa sông Drava và vươn về phía bắc đến ranh giới với Hungary. Đoạn Ilok/Drava gần như trùng khớp với đường ranh giới phân định giữa Vương quốc Croatia-Slavonia và hạt Bács-Bodrog trước năm 1918. Hầu hết đường biên giới dài 600 km (373 dặm) với Slovenia cũng được phân định trong thời kỳ này, tương đương với ranh giới tây bắc của Vương quốc Croatia-Slavonia, đồng thời vạch ra một phần biên giới mới ở khu vực phía bắc bán đảo Istria dựa trên cơ cấu dân số của phần lãnh thổ trước kia thuộc Vương quốc Ý.

Theo Hiệp định Hòa bình Paris 1947, các đảo Cres, Lastovo, Palagruža, các thành phố ZadarRijeka cùng phần lớn bán đảo Istria được sáp nhập vào vùng quản lý của Yugoslavia và Croatia, trong khi tạo ra Lãnh thổ Tự do Trieste (FTT) như một thành bang độc lập. Vùng Lãnh thổ Tự do Trieste được phân chia năm 1954, trong đó Trieste và khu vực lân cận ở phía bắc chịu sự quản lý của Ý, và phần còn lại thuộc về Yugoslavia. Thỏa thuận này được chính thức hóa vĩnh viễn bằng Hiệp ước Osimo năm 1975, trong đó phần lãnh thổ FTT trước đây do Yugoslavia quản lý được phân chia lại giữa Croatia và Slovenia dựa trên cơ cấu dân tộc học.

Cuối thế kỷ 19, Áo-Hung đã thiết lập một mạng lưới trắc địa, với điểm chuẩn độ cao gốc được xác định bằng mực nước biển trung bình của biển Adriatic tại bến Sartorio ở Trieste. Điểm chuẩn này tiếp tục được sử dụng ở Áo, Yugoslavia và những quốc gia độc lập sau sự sụp đổ của khối, bao gồm cả Croatia.

Chiều dài đường biên giới đất liền của Croatia (Gồm cả các đoạn trên sông)
Quốc gia giáp ranh Chiều dài (km)
Slovenia 670
Hungary 348
Serbia 314
Bosna và Herzegovina 956
Montenegro 19
Tổng cộng 2.237

Các điểm cực địa lý

Các điểm cực địa lý của Cộng hòa Croatia được xác định trên cả phần đất liền và các quần đảo ngoài khơi:

Trên toàn bộ lãnh thổ (Gồm các đảo)

Trên đất liền

Về cao độ

  • Điểm cao nhất toàn quốc: Đỉnh Dinara trên dải núi Dinara, hạt Šibenik-Knin, đạt độ cao 1.831 mét (6.007 ft) so với mực nước biển.
  • Điểm thấp nhất: Mực nước biển Adriatic, 0 mét (0 ft).

Tuyên bố chủ quyền hàng hải

Vùng Bảo vệ Sinh thái và Nghề cá của Croatia trên vùng biển Adriatic.

Ý và Yugoslavia đã xác định đường phân định thềm lục địa tại biển Adriatic vào năm 1968, với một hiệp định bổ sung về ranh giới trong Vịnh Trieste ký năm 1975 theo tinh thần Hiệp ước Osimo. Tất cả các quốc gia độc lập sau sự sụp đổ của Nam Tư đều công nhận các thỏa thuận này. Trước khi Nam Tư tan rã, Albania, Ý và Nam Tư từng tuyên bố lãnh hải rộng 15 hải lý, sau đó thu hẹp lại theo tiêu chuẩn quốc tế là 12 hải lý; tất cả các bên đều thiết lập hệ thống đường cơ sở. Croatia cũng tuyên bố Vùng Bảo vệ Sinh thái và Nghề cá (ZERP)—một phần của vùng đặc quyền kinh tế—kéo dài đến tận ranh giới thềm lục địa. Lãnh hải Croatia bao phủ 18.981 km²; khu vực nội thủy nằm bên trong đường cơ sở bao trùm một diện tích bổ sung là 12.498 km².

Tranh chấp biên giới

Tranh chấp biên giới trên biển

Croatia và Slovenia đã đàm phán để xác định đường biên giới trên biển tại vịnh Piran vào năm 1992 nhưng không đi đến sự đồng thuận, dẫn đến một cuộc tranh chấp kéo dài. Cả hai quốc gia cũng cùng lúc tuyên bố vùng kinh tế chồng lấn. Quá trình Đàm phán gia nhập Liên minh châu Âu của Croatia đã bị đình chỉ một thời gian dài nhằm chờ giải quyết dứt điểm các tranh chấp với Slovenia. Cuộc xung đột được giải quyết thông qua thỏa thuận chấp nhận quyết định từ ủy ban trọng tài quốc tế của Liên Hợp Quốc, tạo tiền đề cho quá trình gia nhập của Croatia. Dù vậy, tranh chấp không gây ra các vấn đề nghiêm trọng nào trong thực tiễn ngoài quá trình thương thuyết gia nhập EU.

Biên giới trên biển giữa Bosna và Herzegovina và Croatia đã được thỏa thuận chính thức vào năm 1999, nhưng vẫn còn một vài vị trí bất đồng—bao gồm bán đảo Klek và hai hòn đảo nhỏ trong khu vực biên giới. Tranh chấp trên biển giữa Croatia và Montenegro xoay quanh vùng vịnh Kotor, tại khu vực bán đảo Prevlaka. Căng thẳng leo thang khi bán đảo bị Quân đội Nhân dân Nam Tư chiếm đóng, sau đó đến quân đội Serbia-Montenegro, và được thay thế bằng Phái bộ Quan sát Liên Hợp Quốc tại Prevlaka tồn tại cho đến năm 2002. Croatia nắm quyền kiểm soát khu vực theo một thỏa thuận cho phép Montenegro duy trì hiện diện trên vùng nước của Croatia, và căng thẳng hạ nhiệt rất nhiều từ khi Montenegro tuyên bố độc lập vào năm 2006.

Tranh chấp biên giới đất liền

Các tranh chấp trên đất liền thường chỉ liên quan đến những dải đất tương đối nhỏ. Tranh chấp biên giới với Slovenia bao gồm: đoạn hạ lưu sông Dragonja, nơi Slovenia tuyên bố chủ quyền ba thôn bên tả ngạn; đỉnh Sveta Gera thuộc dãy núi Žumberak, nơi các tuyên bố chỉ nhằm vào một doanh trại quân sự đóng quân trên đỉnh; và vùng ranh giới trên sông Mur, nơi Slovenia muốn vạch biên giới theo dòng chảy hiện tại thay vì lòng sông cổ, đồng thời tuyên bố một dải đất không có người ở gần Hotiza. Những tranh chấp này đều trong quá trình được giải quyết thông qua trọng tài ràng buộc pháp lý.

Tồn tại những bất đồng ranh giới đất liền giữa Croatia và Serbia. Cả hai đều kiểm soát một bên bờ sông hiện hành, nhưng Croatia khẳng định biên giới phải dựa trên các bản đồ địa chính phân ranh giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Croatia và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Serbia theo Ủy ban Nam Tư năm 1947 (tuân theo lòng sông cổ); dựa theo đó, Croatia tuyên bố chủ quyền trên các đảo VukovarŠarengrad trên dòng sông Danube. Croatia cũng có tranh chấp đường ranh giới với Bosna và Herzegovina, khi tuyên bố kênh uốn khúc Unčica trên hữu ngạn sông Una thuộc khu vực Hrvatska Kostajnica, trong khi phía Bosnia và Herzegovina nhận định khu vực dòng chảy thuộc con sông chính làm biên giới.

Địa lý tự nhiên

Địa chất

Địa chất của Croatia bao gồm một số loại đá thuộc kỷ Tiền Cambri, phần lớn bị bao phủ bởi các lớp đá trầm tích trẻ hơn và bị biến dạng hoặc chồng lấp bởi các hoạt động kiến tạo. Lãnh thổ đất nước được chia thành hai vùng địa chất trên đất liền chính: một phần nhỏ của đồng bằng Pannonian và vùng Karst thuộc dải Dinarides. Cảnh quan karst trên thềm cacbonat của Croatia đã tạo điều kiện phong hóa lý tưởng để hình thành nên bô-xít, thạch cao, đất sét, amphibolit, đá hoa cương, spilit, gabbro, diabase và đá vôi.

Địa hình

Đại bộ phận diện tích Croatia là các vùng đất thấp, trong đó các khu vực có độ cao dưới 200 m (656 ft) so với mực nước biển chiếm 53,42% diện tích cả nước. Phần lớn các dải đồng bằng tập trung ở khu vực phía bắc, đặc biệt là tại vùng Slavonia, vốn là một phần của đồng bằng Pannonian. Các khu vực có độ cao từ 200 đến 500 m (656 đến 1.640 ft) chiếm 25,61% lãnh thổ Croatia, và khu vực từ 500 đến 1.000 m (1.640 đến 3.281 ft) chiếm 17,11%. Ngoài ra, 3,71% diện tích đất đai nằm ở độ cao từ 1.000 đến 1.500 m (3.281 đến 4.921 ft), và chỉ 0,15% lãnh thổ Croatia có cao độ vượt quá 1.500 m (4.921 ft) so với mực nước biển. Khu vực tập trung nhiều địa hình cao nhất nằm tại vùng LikaGorski Kotar thuộc dãy Dinaric Alps, nhưng nhìn chung các vùng đất cao vẫn xuất hiện rải rác ở mọi khu vực của Croatia ở một mức độ nào đó. Đồng bằng Pannonian, dãy Dinaric Alps, cùng với Vùng bồn địa Adriatic, tạo thành các đơn vị địa mạo trọng yếu của Croatia.

Vùng bồn địa Adriatic

Vườn quốc gia Kornati với cảnh quan biển đảo đặc trưng.

Đường bờ biển đất liền ven biển Adriatic của Croatia dài 1.777,3 km (1.104,4 dặm), trong khi hệ thống 1.246 hòn đảo lớn nhỏ lại đóng góp thêm một đường bờ biển dài 4.058 km (2.522 dặm). Khoảng cách giữa hai đầu mút của đường bờ biển Croatia là 526 km (327 dặm). Số lượng hải đảo bao gồm tất cả các đảo, đảo nhỏ và các mỏm đá với mọi kích cỡ, kể cả những rạn đá chỉ nhô lên khi thủy triều xuống. Các hòn đảo lớn nhất trên biển Adriatic là CresKrk, mỗi đảo rộng 405,78 km²; hòn đảo cao nhất là Brač, đạt tới 780 m so với mực nước biển. Quần đảo này bao gồm 47 hòn đảo có người sinh sống thường xuyên, trong đó đông dân nhất là Krk và Korčula. Bờ biển của Croatia là dải bờ biển bị chia cắt nhất trong toàn vùng Địa Trung Hải. Phần lớn bờ biển được đặc trưng bởi địa hình karst, phát triển từ thềm cacbonat Adriatic. Quá trình karst hóa tại đây bắt đầu trên diện rộng sau đợt dâng lên cuối cùng của dải Dinarides trong các kỷ OligoceneMiocene, khi các lớp đá cacbonat lộ ra và chịu tác động của khí quyển như mưa rào; quá trình này mở rộng xuống tận 120 m dưới mực nước biển hiện tại, phơi bày rõ nhất trong đợt sụt giảm mực nước biển của Băng hà cực đại cuối cùng. Người ta ước tính rằng một số cấu tạo karst còn liên quan đến các đợt sụt giảm mực nước biển từ những thời kỳ trước đó, đáng chú ý nhất là khủng hoảng độ mặn Messinia. Vùng bờ biển phía đông chủ yếu bao gồm đá cacbonat, trong khi lớp đá flysch lại hiện diện rõ nét trên dải bờ biển thuộc vịnh Trieste, bờ biển vịnh Kvarner đối diện đảo Krk và vùng Dalmatia nằm phía bắc Split. Bờ biển Adriatic tại Croatia có những vùng phù sa nhỏ tương đối hiếm hoi — tiêu biểu nhất là khu vực đồng bằng châu thổ sông Neretva. Phía tây bán đảo Istria đang trong trạng thái sụt lún dần, với mức sụt giảm khoảng 1,5 m trong vòng 2.000 năm qua.

Ở khu vực trung tâm bồn địa Adriatic, đã có bằng chứng về hoạt động núi lửa từ kỷ Permi tại khu vực Komiža trên đảo Vis, ngoài ra còn có các đảo núi lửa như JabukaBrusnik. Động đất xảy ra thường xuyên tại khu vực biển Adriatic, tuy nhiên hầu hết đều là những chấn động rất nhẹ không thể cảm nhận được; một trận động đất gây thiệt hại đáng kể thường xảy ra vài thập kỷ một lần, trong khi các thảm họa động đất lớn lặp lại theo chu kỳ vài thế kỷ.

Dãy Dinaric Alps

Dãy Dinaric Alps có liên kết chặt chẽ với vành đai uốn nếp và đứt gãy có niên đại từ cuối kỷ Jura đến thời kỳ cận đại, bản thân nó là một bộ phận của chu kỳ tạo núi Alpine, trải dài về hướng đông nam từ dãy Alps phía nam. Dãy Dinaric Alps tại Croatia ôm trọn toàn bộ các vùng Gorski Kotar và Lika, cùng một phần đáng kể của khu vực Dalmatia. Rìa đông bắc của dãy bắt đầu từ khối núi Žumberak cao 1.181 m (3.875 ft) chạy dài đến vùng Banovina dọc theo sông Sava, còn rìa cực tây của dải núi là các khối núi Ćićarija (1.272 m) và Učka (1.396 m) nằm trên bán đảo Istria. Dãy Dinaric Alps có ngọn núi cao nhất Croatia — đỉnh Dinara với độ cao 1.831 m — cùng tất cả các đỉnh núi khác tại Croatia cao trên 1.500 m: Biokovo, Velebit, Plješivica, Velika Kapela, Risnjak, SvilajaSnježnik.

Địa hình karst bao phủ khoảng một nửa diện tích Croatia và phát triển cực kỳ mạnh mẽ trên dãy Dinaric Alps. Croatia có vô số hang động tuyệt đẹp, trong đó có 49 hang sâu hơn 250 m, 14 hang sâu hơn 500 m và 3 hang vượt quá độ sâu 1.000 m. Hang động dài nhất Croatia là hang Kita Gaćešina, đồng thời cũng là hệ thống hang dài nhất toàn dải Dinaric Alps với chiều dài lên tới 20.656 m.

Dinara, điểm cao nhất của lãnh thổ Croatia (1.831 m).
Các đỉnh núi cao nhất tại Croatia
Dãy núi Tên đỉnh Độ cao Tọa độ
Dinara Dinara 1.831 m (6.007 ft) 44°3′B 16°23′Đ / 44,05°B 16,383°Đ / 44.050; 16.383
Biokovo Sveti Jure 1.762 m (5.781 ft) 43°20′B 17°03′Đ / 43,333°B 17,05°Đ / 43.333; 17.050
Velebit Vaganski 1.757 m (5.764 ft) 44°32′B 15°14′Đ / 44,533°B 15,233°Đ / 44.533; 15.233
Plješivica Ozeblin 1.657 m (5.436 ft) 44°47′B 15°45′Đ / 44,783°B 15,75°Đ / 44.783; 15.750
Velika Kapela Bjelolasica-Kula 1.533 m (5.030 ft) 45°16′B 14°58′Đ / 45,267°B 14,967°Đ / 45.267; 14.967
Risnjak Risnjak 1.528 m (5.013 ft) 45°25′B 14°45′Đ / 45,417°B 14,75°Đ / 45.417; 14.750
Svilaja Svilaja 1.508 m (4.948 ft) 43°49′B 16°27′Đ / 43,817°B 16,45°Đ / 43.817; 16.450
Snježnik Snježnik 1.506 m (4.941 ft) 45°26′B 14°35′Đ / 45,433°B 14,583°Đ / 45.433; 14.583

Đồng bằng Pannonian

Một cánh đồng bằng phẳng tại vùng Slavonia.

Đồng bằng Pannonian được hình thành thông qua quá trình sụt lún và mỏng đi của vỏ Trái Đất trong kỷ Miocene thuộc chu kỳ tạo núi Variscan từ cuối đại Cổ Sinh. Cấu trúc địa chất đại Cổ Sinh và đại Trung Sinh có thể được quan sát thấy rõ rệt ở Papuk và các ngọn núi khác vùng Slavonia. Hoạt động kiến tạo này cũng dẫn đến sự hình thành chuỗi núi lửa dạng tầng trong bồn địa vào khoảng 12–17 triệu năm trước; quá trình sụt lún tăng cường được quan sát thấy cho đến tận 5 triệu năm trước cùng các vụ phun trào đá bazan vào khoảng 7,5 triệu năm trước. Sự nâng kiến tạo trong thời kỳ hiện đại của dãy Carpathians đã cắt đứt dòng chảy thoát ra biển Đen, biến khu vực này thành biển Pannonia. Các lớp trầm tích từ dãy núi Carpathian và Dinaric đang vươn lên đã bồi đắp vào lưu vực, với các lớp trầm tích sông ngòi đặc biệt dày đặc được lắng đọng trong thế Pleistocen thời kỳ hình thành dãy núi Transdanubia. Sau cùng, với khối lượng trầm tích bồi đắp lên đến 3.000 m, vùng biển cổ này đã thoát nước hoàn toàn thông qua hẻm núi Cổng Sắt.

Hệ quả là khu vực này có những vùng đồng bằng mênh mông, được bao bọc bởi các con sông Danube, sông Sava, Drava và sông Kupa (bao gồm Slavonia, BaranyaSyrmia). Bề mặt đồng bằng thỉnh thoảng bị chia cắt bởi những khối núi biệt lập. Những địa hình núi cao nhất trong khu vực này là Ivanšćica (1.059 m) và Medvednica (1.035 m) nằm phía bắc Zagreb — cả hai ngọn núi đều nằm gọn một phần hoặc toàn bộ trong vùng Hrvatsko Zagorje — cũng như Psunj (984 m) và Papuk (953 m), là những đỉnh núi cao nhất trong cụm núi Slavonia ôm lấy Požega. Psunj, Papuk và dãy núi liền kề Krndija được cấu tạo chủ yếu từ các loại đá đại Cổ Sinh có niên đại từ 300 đến 350 triệu năm. Núi Požeška gora kề bên Psunj lại bao gồm các đá kỷ Neogen trẻ hơn nhiều, nhưng cũng có các lớp trầm tích Thượng kỷ Phấn Trắngđá magma tạo nên sống núi chính kéo dài 30 km; chúng đại diện cho khu vực địa hình đá magma lớn nhất ở Croatia. Một mảng địa hình đá magma nhỏ hơn cũng được tìm thấy trên Papuk, gần vùng Voćin. Hai khu vực này, cùng với dãy núi Moslavačka gora, nhiều khả năng chính là tàn tích của một cung núi lửa sinh ra từ cùng một vụ va chạm kiến tạo mảng đã hình thành nên dãy Dinaric Alps.

Thủy văn

Sông Sava, con sông chảy trong nội địa dài nhất Croatia.

Phần lớn lãnh thổ Croatia — khoảng 62% diện tích — nằm gọn trong lưu vực biển Đen. Vùng này có những con sông lớn nhất của đất nước: sông Danube, sông Sava, sông Drava, sông Mur và sông Kupa. Phần còn lại của lãnh thổ thuộc lưu vực biển Adriatic, nơi dòng sông lớn nhất là sông Neretva. Những dòng sông dài nhất tại Croatia là sông Sava (562 km), sông Drava (505 km), sông Kupa (296 km) và một đoạn dài 188 km của con sông Danube. Những con sông dài nhất đổ ra biển Adriatic bao gồm sông Cetina (101 km) và một đoạn hạ lưu dài 20 km của sông Neretva.

Các hồ nước ngọt lớn nhất Croatia gồm có hồ Vrana ở bắc Dalmatia (30,7 km²), hồ Dubrava (17,1 km²) gần Varaždin, hồ Peruća (hồ chứa nhân tạo rộng 13,0 km²) trên dòng sông Cetina, hồ Prokljan (11,1 km²) gần Skradin và hồ chứa hồ Varaždin (10,1 km²) do sông Drava bồi đắp gần vùng Varaždin. Hồ nước nổi tiếng nhất tại Croatia là vườn quốc gia các hồ Plitvice, bao gồm một quần thể 16 hồ nước nối liền nhau bởi các thác nước đổ xuống hệ thống tầng bậc cấu tạo từ khoáng vật dolomitđá vôi. Các hồ nước này nổi bật nhờ sắc nước đặc trưng thay đổi từ xanh ngọc lam sang xanh bạc hà, xám hay xanh lam. Croatia sở hữu nguồn tài nguyên đất ngập nước vô cùng trù phú. Bốn vùng đầm lầy tại đây đã được đưa vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế Ramsar: vùng Lonjsko Polje dọc theo sông Sava và sông Lonja gần Sisak, Kopački Rit tại ngã ba sông Drava và Danube, đồng bằng châu thổ sông Neretva và vùng Crna Mlaka gần khu vực Jastrebarsko.

Tỷ lệ lượng mưa và lượng bốc hơi trung bình hàng năm lần lượt là 1.162 mm và 700 mm. Dựa trên cán cân cân bằng nước tổng thể, tổng tài nguyên nước của Croatia đạt khoảng 25.163 m³ bình quân trên đầu người mỗi năm, trong đó có 5.877 m³ bình quân/người bắt nguồn trực tiếp từ các nguồn nước ngầm và bề mặt bên trong lãnh thổ Croatia.

Khí hậu

Vườn quốc gia các hồ Plitvice, một di sản thế giới được UNESCO vinh danh.
Bản đồ phân loại các kiểu khí hậu Köppen tại Croatia.

Đại bộ phận diện tích Croatia mang khí hậu cao nguyên cận nhiệt đới (Cfb) ôn hòa và có mưa quanh năm theo phân loại khí hậu Köppen. Dải duyên hải phía bắc biển Adriatic và các đảo, cùng vùng nội địa của bờ biển Dalmatia được đặc trưng bởi đới khí hậu ôn đới ấm (Cfa); trong khi phần lớn khu vực miền trung và phía nam bờ biển Adriatic cùng các hải đảo đều có khí hậu Địa Trung Hải (chủ yếu là Csb). Các khu vực có cao độ lớn nhất trên vùng núi mang nét đặc trưng của khí hậu lục địa mát mẻ (Df).

Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ −3 °C đến 18 °C trong tháng lạnh nhất (tháng 1). Ngoại lệ duy nhất là các vùng rét nhất của đất nước thuộc khu vực Lika và Gorski Kotar, nơi độ cao vượt qua ngưỡng 1.200 m, khiến mức nhiệt giảm mạnh hơn. Sự chênh lệch nhiệt độ theo mùa diễn ra rõ rệt nhất ở các vùng nội địa: nhiệt độ thấp kỷ lục −35,5 °C từng được ghi nhận vào ngày 3 tháng 2 năm 1919 tại Čakovec, trong khi kỷ lục nắng nóng lên tới 42,4 °C đã được ghi nhận tại khu vực Karlovac vào ngày 5 tháng 7 năm 1950.

Lượng mưa trung bình năm biến thiên từ 600 mm đến 3.500 mm tùy thuộc vào khu vực địa lý cụ thể và kiểu khí hậu chủ đạo. Khu vực khô hạn nhất là các đảo ngoài khơi (Vis, Lastovo, BiševoSvetac) cùng khu vực phía đông của Slavonia; dẫu vậy, lượng mưa ở các vùng phía đông tập trung vào mùa vụ sinh trưởng. Gió chủ đạo thổi trong khu vực nội địa là những cơn gió nhẹ đến trung bình từ hướng đông bắc hoặc tây nam. Tốc độ gió dâng cao hơn thường xảy ra vào các tháng lạnh tại các dải duyên hải ven biển, dưới hình thái của những đợt gió bora đông bắc lạnh (đôi khi vận tốc giật vượt quá 50 m/s) và gió sirocco ấm từ phía nam. Những khu vực ngập tràn ánh nắng nhất cả nước nằm tại các hải đảo ngoài khơi xa như Hvar và Korčula với hơn 2.700 giờ nắng/năm, tiếp theo là toàn bộ khu vực nam Adriatic, bờ biển bắc Adriatic và Slavonia với số giờ nắng đều vượt ngưỡng 2.000 giờ mỗi năm.

Đặc điểm khí hậu tại các thành phố lớn ở Croatia
Thành phố Nhiệt độ trung bình (Nhiệt độ cao nhất trong ngày) Tổng lượng mưa trung bình
Tháng 1 Tháng 7 Tháng 1 Tháng 7
°C °F °C °F mm inch số ngày mm inch số ngày
Dubrovnik 12.2 54.0 28.3 82.9 95.2 3.75 11.2 24.1 0.95 4.4
Osijek 2.6 36.7 28.0 82.4 45.5 1.79 12.2 60.8 2.39 10.2
Rijeka 8.7 47.7 27.7 81.9 134.9 5.31 11.0 82.0 3.23 9.1
Split 10.2 50.4 29.8 85.6 77.9 3.07 11.1 27.6 1.09 5.6
Zagreb 3.1 37.6 26.7 80.1 48.6 1.91 10.8 81.0 3.19 10.9
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới

Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang tác động rõ rệt tại Croatia, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ cực đoan và các đợt nắng nóng kéo dài, sụt giảm lượng mưa trung bình đồng thời làm tăng số lượng các ngày mưa bão bất thường (gây ra vòng luẩn quẩn hạn hán và lũ lụt), và hiện tượng dâng mực nước biển đang trực tiếp đe dọa sinh kế của hàng triệu cư dân ven biển.

Đa dạng sinh học

Khu bảo tồn thiên nhiên Kopački Rit, một trong những vùng đất ngập nước lớn nhất ở châu Âu.

Croatia có thể được phân chia thành nhiều vùng sinh thái khác nhau nhờ vào sự đa dạng của khí hậu và địa mạo, do đó quốc gia này là một trong những nước phong phú nhất ở châu Âu về đa dạng sinh học. Có bốn loại vùng địa lý sinh vật tại Croatia: vùng Địa Trung Hải dọc theo bờ biển và vùng nội địa ngay sát biển; vùng núi cao Alpine tại các khu vực đất cao của Lika và Gorski Kotar; vùng Pannonian dọc theo sông Drava và sông Danube; và vùng lục địa ở các khu vực còn lại. Đáng chú ý nhất là các sinh cảnh karst, bao gồm các vùng karst ngập nước như hẻm núi ZrmanjaKrka, các bậc thềm đá vôi tufa, cũng như các sinh cảnh dưới lòng đất. Địa chất karst đã tạo ra khoảng 7.000 hang động và hố sụt, nhiều nơi trong số đó là môi trường sống của các loài động vật hang động (sống hoàn toàn trong hang) như manh giông (Proteus anguinus), một loài kỳ giông hang động và là loài động vật có xương sống duy nhất ở châu Âu thích nghi hoàn toàn với đời sống trong hang. Rừng cũng đóng vai trò quan trọng, bao phủ 26.487,6 km² và chiếm tới 46,8% diện tích đất liền của Croatia. Các loại sinh cảnh khác bao gồm đất ngập nước, đồng cỏ, đầm lầy, sinh cảnh cây bụi, sinh cảnh ven biển và biển. Về mặt địa lý thực vật, Croatia thuộc giới thực vật Toàn Bắc (Boreal); cụ thể hơn là thuộc về các tỉnh thực vật Illyria và Trung Âu của vùng thực vật Circumboreal cùng với tỉnh thực vật Adriatic của vùng Địa Trung Hải. Tổ chức Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) chia lãnh thổ Croatia thành ba vùng sinh thái: rừng hỗn giao Pannonian, rừng hỗn hợp dãy núi Dinaric và rừng rụng lá Illyria. Các quần xã sinh vật ở Croatia bao gồm rừng hỗn hợp và lá rộng ôn đới và rừng, rừng thưa và cây bụi Địa Trung Hải; tất cả đều nằm trong vùng Cổ Bắc.

Dòng sông Krka chảy qua Vườn quốc gia Krka.
Địa hình karst lởm chởm tại Vườn quốc gia Bắc Velebit.

Croatia có 38.226 loài và phân loài đã biết, 2,8% trong số đó là các loài đặc hữu; số lượng thực tế (bao gồm cả những loài chưa được khám phá) ước tính nằm trong khoảng từ 50.000 đến 100.000 loài. Ước tính này được củng cố khi có tới gần 400 đơn vị phân loại động vật không xương sống mới được phát hiện ở Croatia chỉ trong giai đoạn 2000–2005. Có hơn một nghìn loài đặc hữu sinh sống tại đây, tập trung nhiều nhất ở dãy núi Velebit, Biokovo, các hòn đảo trên biển Adriatic và các dòng sông karst. Pháp luật quốc gia bảo vệ nghiêm ngặt 1.131 loài. Các giống cây trồng bản địa và các giống vật nuôi cũng rất phong phú; bao gồm 5 giống ngựa, 5 giống bò, 8 giống cừu, 2 giống lợn và 1 giống gia cầm bản địa. Ngay cả trong số các giống bản địa này, có tới 9 giống đang bị đe dọa hoặc cực kỳ nguy cấp.

Các loài và phân loài đã biết và đặc hữu tại Croatia
Nhóm sinh vật Đã biết Đặc hữu Tỷ lệ đặc hữu (%)
Thực vật 8.871 523 5,90%
Nấm 4.500 0
Địa y 1.019 0
Động vật có vú 101 5 4,95%
Chim 387 0
Bò sát 41 9 21,95%
Lưỡng cư 20 7 35,00%
Cá nước ngọt 152 17 12,00%
Cá biển 442 6 1,36%
Động vật không xương sống trên cạn 15.228 350 2,30%
Động vật không xương sống nước ngọt 1.850 171 9,24%
Động vật không xương sống biển 5.655 0
TỔNG CỘNG 38.266 1.088 2,84%

Có tổng cộng 444 khu bảo tồn thiên nhiên ở Croatia, bao trùm 8,5% diện tích lãnh thổ đất nước. Trong số này có 8 vườn quốc gia, 2 khu bảo tồn nghiêm ngặt và 11 công viên tự nhiên, chiếm 78% tổng diện tích được bảo vệ. Khu bảo tồn nổi tiếng nhất và là vườn quốc gia lâu đời nhất ở Croatia chính là Vườn quốc gia các hồ Plitvice, một Di sản thế giới được UNESCO công nhận. Vườn tự nhiên Velebit là một phần của Chương trình Con người và Sinh quyển của UNESCO. Các khu bảo tồn nghiêm ngặt và đặc biệt, cũng như các vườn quốc gia và vườn tự nhiên, được chính quyền trung ương trực tiếp quản lý và bảo vệ, trong khi các khu bảo tồn khác do chính quyền cấp hạt điều hành. Năm 2005, Mạng lưới Sinh thái Quốc gia đã được thiết lập như một bước chuẩn bị để gia nhập EU và kết nối với mạng lưới Natura 2000.

Sự phá hủy môi trường sống đang là mối đe dọa đối với đa dạng sinh học ở Croatia, khi đất xây dựng và đất nông nghiệp ngày càng lấn chiếm các sinh cảnh tự nhiên, trong khi hiện tượng phân mảnh môi trường sống diễn ra khi các tuyến đường được xây dựng hoặc mở rộng. Một mối đe dọa lớn khác là sự xâm nhập của các loài xâm lấn, trong đó các loài tảo biển Caulerpa racemosaCaulerpa taxifolia được xác định là đặc biệt có tính đe dọa nghiêm trọng. Các loại tảo xâm lấn này được theo dõi và loại bỏ thường xuyên để bảo vệ sinh cảnh đáy biển. Việc trồng trọt độc canh trong nông nghiệp cũng được xem là một mối đe dọa trực tiếp đến tính đa dạng sinh thái của khu vực.

Sinh thái học

Bãi chôn lấp rác thải Jakuševec, nơi xử lý chất thải rắn của thủ đô Zagreb.

Dấu chân sinh thái của dân số và các ngành công nghiệp tại Croatia có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, vì 50% dân số tập trung sinh sống trên 26,8% diện tích đất liền, với tác động đặc biệt lớn từ vùng thủ đô Zagreb và Hạt Zagreb — khu vực kết hợp của chúng chỉ chiếm 6,6% diện tích Croatia nhưng lại bao chứa tới 25% dân số toàn quốc. Dấu chân sinh thái dễ nhận thấy nhất đến từ sự phát triển mở rộng của các khu định cư và bờ biển, dẫn đến tình trạng phân mảnh môi trường sống. Từ năm 1998 đến năm 2008, những thay đổi lớn nhất về sử dụng đất liên quan đến việc kiến tạo các khu vực phát triển nhân tạo, mặc dù quy mô phát triển vẫn còn khá nhỏ so với các quốc gia thành viên EU khác.

Cơ quan Môi trường Croatia (CEA), một tổ chức công do Chính phủ Croatia thành lập để thu thập và phân tích thông tin môi trường, đã xác định thêm các vấn đề sinh thái cũng như những mức độ tiến triển khác nhau trong việc kiềm chế tác động môi trường. Các vấn đề này bao gồm sự thiếu hụt các bãi rác hợp pháp cũng như sự tồn tại của các bãi chôn lấp trái phép; trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2008, có 62 bãi chôn lấp được cấp phép và 423 bãi chôn lấp trái phép đã được phục hồi sinh thái. Cùng kỳ, số lượng giấy phép quản lý chất thải được cấp đã tăng gấp đôi, trong khi khối lượng chất thải rắn đô thị hàng năm tăng 23%, chạm ngưỡng 403 kg bình quân mỗi người. Quá trình axit hóa đất và sự suy thoái chất hữu cơ trong đất đang diễn ra trên khắp Croatia, với mức độ nhiễm mặn gia tăng ở đồng bằng sông Neretva và sự lây lan của các khu vực đất kiềm tại Slavonia.

Mức độ ô nhiễm không khí ở Croatia phản ánh sự sụt giảm sản xuất công nghiệp được ghi nhận vào năm 1991 khi bắt đầu Chiến tranh giành độc lập Croatia — mức phát thải trước chiến tranh chỉ đạt lại vào năm 1997. Việc sử dụng nhiên liệu đã được khử lưu huỳnh dẫn đến sự sụt giảm 25% lượng phát thải lưu huỳnh dioxide từ năm 1997 đến 2004, và giảm thêm 7,2% vào năm 2007. Sự gia tăng phát thải khí NOx đã dừng lại vào năm 2007 và bắt đầu đảo chiều vào năm 2008. Việc sử dụng xăng không chì đã giảm mạnh 91,5% lượng khí thải chì vào bầu khí quyển từ năm 1997 đến 2004. Các kết quả đo lường chất lượng không khí cho thấy không khí ở các vùng nông thôn về cơ bản là sạch, và ở các trung tâm đô thị thì nhìn chung đáp ứng được các yêu cầu pháp lý. Nguồn phát thải phát thải khí nhà kính (GHG) quan trọng nhất ở Croatia đến từ quá trình sản xuất năng lượng (72%), công nghiệp (13%) và nông nghiệp (11%). Tốc độ gia tăng trung bình hàng năm của phát thải GHG là 3%, vẫn nằm trong giới hạn của Nghị định thư Kyoto. Từ năm 1990 đến năm 2007, việc sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozon đã giảm 92%; việc sử dụng chúng dự kiến đã được loại bỏ hoàn toàn vào năm 2015.

Mặc dù Croatia có đầy đủ tài nguyên nước, chúng lại phân bố không đồng đều và tỷ lệ thất thoát nước của hệ thống mạng lưới cấp nước công cộng vẫn ở mức cao — ước tính khoảng 44%. Từ năm 2004 đến năm 2008, số lượng trạm quan trắc ô nhiễm nước bề mặt tăng 20%; CEA đã báo cáo 476 trường hợp ô nhiễm nước trong giai đoạn này. Đồng thời, mức độ ô nhiễm từ chất thải hữu cơ đã giảm nhẹ, kết quả này được cho là nhờ vào việc hoàn thành các nhà máy xử lý nước thải mới; số lượng các nhà máy này tăng 20%, đạt tổng cộng 101 nhà máy. Gần như tất cả các tầng ngậm nước ngầm của Croatia đều đạt chất lượng nước hảo hạng, khác biệt hoàn toàn với nước bề mặt; chất lượng nước mặt thay đổi theo nhu cầu oxy sinh hóa và các kết quả phân tích vi khuẩn trong nước. Tính đến năm 2008, 80% dân số Croatia được phục vụ bởi hệ thống cấp nước công cộng, nhưng chỉ 44% người dân có khả năng tiếp cận mạng lưới thoát nước thải công cộng, phần còn lại sử dụng các bể phốt tự hoại. Quan trắc chất lượng nước biển Adriatic từ năm 2004 đến 2008 cho thấy điều kiện môi trường vô cùng tốt và nghèo dinh dưỡng sinh học dọc theo hầu hết bờ biển, trong khi các khu vực có mức độ phú dưỡng gia tăng được phát hiện tại vịnh Bakar, vịnh Kaštela, cảng Šibenik và gần Ploče; một số khu vực ô nhiễm cục bộ khác được xác định gần các thành phố ven biển lớn hơn. Từ năm 2004 đến 2008, CEA ghi nhận 283 trường hợp ô nhiễm biển (bao gồm 128 vụ do tàu thuyền thải ra), tương đương với mức giảm 15% so với khoảng thời gian được đánh giá trong báo cáo trước đó, kéo dài từ 1997 đến tháng 8 năm 2005.

Sử dụng đất

Vùng núi Papuk được bao phủ bởi những cánh rừng rậm rạp.

Tính đến năm 2006, 46,8% lãnh thổ Croatia được bao phủ bởi 26.487,6 km² rừng và cây bụi, trong khi 22.841 km² hoặc 40,4% diện tích đất được sử dụng cho nhiều mục đích nông nghiệp khác nhau, bao gồm 4.389,1 km² (tương đương 7,8% tổng diện tích) dành cho các loại cây trồng lâu năm. Thảm bụi và cỏ phủ xanh 4.742,1 km² hoặc 8,4% diện tích lãnh thổ, các vùng nước nội địa chiếm 539,3 km² hoặc 1,0% và các vùng đầm lầy bao phủ 200 km² hoặc 0,4% diện tích đất nước. Các khu vực đô thị, đường sá, thảm thực vật phi nông nghiệp, các khu thể thao và hạ tầng giải trí khác chiếm 1.774,5 km² hoặc 3,1% diện tích quốc gia. Động lực chính cho những thay đổi về sử dụng đất chính là sự mở rộng của các khu định cư và hoạt động xây dựng đường giao thông.

Do hậu quả của Chiến tranh giành độc lập Croatia, có vô số bãi mìn bị bỏ lại, phần lớn chạy dọc theo các chiến tuyến cũ. Tính đến năm 2006, các khu vực nghi ngờ có mìn bao phủ một vùng rộng 954,5 km². Đến năm 2012, 62% số bãi mìn còn lại nằm trong các khu rừng, 26% phân bố trên đất nông nghiệp và 12% còn lại nằm trên các loại đất khác. Dù kỳ vọng rằng quá trình rà phá bom mìn sẽ hoàn tất vào năm 2019, trên thực tế vẫn còn 51,3 km² đất bị nghi ngờ chứa mìn nguy hiểm kéo dài đến năm 2025.

Các vùng địa lý

Croatia theo truyền thống được phân chia thành nhiều vùng địa lý, thường có ranh giới chồng lấn và không phải lúc nào cũng được xác định rõ ràng rạch ròi. Các khu vực rộng lớn và dễ nhận diện nhất trên khắp đất nước là Trung Croatia (còn được gọi là vùng vĩ mô Zagreb), Đông Croatia (chủ yếu tương ứng với khu vực Slavonia), và Croatia Miền núi (gồm Lika và Gorski Kotar; nằm về phía tây của Trung Croatia). Ba vùng này hợp thành phần nội địa hay vùng lục địa của Croatia. Vùng Duyên hải Croatia bao gồm hai khu vực khác: Dalmatia hay vùng duyên hải phía nam, trải dài từ khu vực quanh thành phố Zadar đến tận mũi cực nam của đất nước; và vùng duyên hải phía bắc nằm ngay trên Dalmatia, bao gồm Duyên hải Croatia và bán đảo Istria. Các vùng địa lý này nói chung không trùng khớp với ranh giới của các hạt hoặc các đơn vị hành chính khác, và mỗi vùng đều bao gồm thêm những khu vực địa lý cụ thể chi tiết hơn bên trong.

Địa lý nhân văn

Dân số học

Bản đồ mật độ dân số Croatia năm 2011 phân theo các hạt (người/km²):
  <30   30-49   50-69   70-89   90-119   120-200   >1200

Các đặc điểm nhân khẩu học của dân số Croatia được biết đến thông qua các cuộc tổng điều tra dân số, thường được tiến hành theo chu kỳ mười năm một lần và được các cơ quan thống kê khác nhau phân tích kể từ những năm 1850. Cơ quan Thống kê Croatia đã đảm nhận nhiệm vụ này kể từ thập niên 1990. Cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất tại Croatia được thực hiện vào tháng 4 năm 2011. Dân số thường trú của Croatia trong kỳ điều tra này đạt 4,29 triệu người. Mật độ dân số là 75,8 người/km², và tuổi thọ trung bình khi sinh tổng thể ở Croatia là 75,7 năm. Dân số đã tăng đều đặn (ngoại trừ các kỳ điều tra được thực hiện ngay sau hai cuộc thế chiến) từ mức 2,1 triệu người vào năm 1857 cho đến năm 1991, khi chạm mốc đỉnh điểm là 4,7 triệu người. Kể từ năm 1991, tỷ lệ tử vong của Croatia đã liên tục vượt quá tỷ lệ sinh; do đó, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên hiện đang ở mức âm. Croatia hiện đang nằm ở giai đoạn thứ tư hoặc thứ năm của chuyển hình nhân khẩu. Về cơ cấu tuổi, dân số bị thống trị bởi phân khúc nhóm tuổi từ 15 đến 64. Độ tuổi trung vị của dân số là 41,4 tuổi và tỷ lệ giới tính trên tổng dân số là 0,93 nam/1 nữ.

Thành phần sinh sống tại Croatia chủ yếu là người Croat (89,6%), trong khi các nhóm dân tộc thiểu số bao gồm người Serb (4,5%) cùng 21 dân tộc khác (mỗi nhóm chiếm chưa tới 1%) được Hiến pháp Croatia công nhận. Lịch sử dân số của Croatia được đánh dấu bằng những làn sóng di cư vô cùng lớn, bao gồm: sự xuất hiện của người Croat tại khu vực này; sự gia tăng của cộng đồng nói tiếng Hungary và tiếng Đức sau liên minh cá nhân giữa Croatia và Hungary; quá trình sáp nhập vào Đế quốc Habsburg; những luồng di tản gây ra bởi các cuộc xâm lược của Đế quốc Ottoman; và sự tăng trưởng của lượng dân cư nói tiếng Ý tại Istria cùng Dalmatia trong suốt thời kỳ thống trị của Cộng hòa Venezia. Sau khi Đế quốc Áo-Hung tan rã, dân số người Hungary suy giảm mạnh, trong khi cộng đồng nói tiếng Đức bị buộc phải rời đi hoặc tháo chạy trong giai đoạn cuối và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và một số phận tương tự cũng giáng xuống đầu bộ phận cư dân người Ý trong cuộc Di cư Istria. Cuối thế kỷ 19 và trong suốt thế kỷ 20 tiếp tục được khắc họa bởi những đợt di cư kinh tế quy mô lớn ra nước ngoài. Những năm 1940 và 1950 tại Yugoslavia được đánh dấu bằng các luồng di cư nội bộ trong phạm vi liên bang, cũng như quá trình đô thị hóa. Cuộc di cư quy mô lớn và để lại tác động sâu sắc nhất gần đây là hệ quả từ Chiến tranh giành độc lập Croatia, khi hàng trăm nghìn người bị đẩy vào cảnh ly hương mất nhà cửa.

Tiếng Croatia là ngôn ngữ chính thức của quốc gia, thế nhưng ngôn ngữ của các nhóm dân tộc thiểu số được hiến pháp công nhận cũng được sử dụng chính thức ở một số đơn vị chính quyền địa phương. Có tới 96% dân số khẳng định tiếng Croatia là tiếng mẹ đẻ của họ. Một cuộc khảo sát thực hiện năm 2009 cho thấy 78% người Croatia khẳng định họ thông thạo ít nhất một ngoại ngữ — phổ biến nhất là tiếng Anh. Các tôn giáo chiếm đa số tại Croatia là Công giáo Rôma (86,3%), Cơ Đốc giáo Chính thống (4,4%) và Hồi giáo (1,5%). Tỷ lệ biết chữ ở Croatia đạt ngưỡng 98,1%. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên sở hữu bằng cấp học thuật đã tăng mạnh kể từ năm 2001, nhân đôi và chạm ngưỡng 16,7% tính đến năm 2008. Ước tính có khoảng 4,5% GDP được phân bổ để đầu tư cho ngành giáo dục. Các chương trình giáo dục tiểu học và trung học được cung cấp hoàn toàn bằng tiếng Croatia và bằng các ngôn ngữ của những nhóm thiểu số được công nhận. Croatia duy trì một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân và vào năm 2010, quốc gia này đã chi 6,9% GDP cho các hoạt động chăm sóc y tế. Thu nhập ròng hàng tháng trung bình vào tháng 9 năm 2011 đạt mức 5.397 kuna (khoảng 729 euro). Nguồn cung cấp việc làm quan trọng nhất trong năm 2008 là lĩnh vực thương mại bán buôn và bán lẻ, ngành công nghiệp sản xuất và hoạt động xây dựng. Vào tháng 10 năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp của đất nước đã ở mức 17,4%. Thu nhập tương đương trung bình của các hộ gia đình ở Croatia cao hơn Tiêu chuẩn Sức mua trung bình của mười quốc gia gia nhập EU vào năm 2004, mặc dù vẫn tụt hậu đôi chút so với mức trung bình của toàn khối EU. Cuộc tổng điều tra dân số năm 2011 ghi nhận tổng cộng có 1,5 triệu hộ gia đình tư nhân; phần lớn trong số họ đều sở hữu nhà ở riêng của mình.

Địa lý hành chính

Bản đồ phân vùng NUTS của Croatia:
  Tây Bắc Croatia
  Trung và Đông (Pannonian) Croatia
  Duyên hải Adriatic Croatia

Croatia được chia nhỏ thành các hạt lần đầu tiên vào thời Trung Cổ. Các phân khu hành chính này đã có những sự thay đổi theo dòng thời gian để phản ánh việc thất thoát lãnh thổ trong cuộc xâm lược của Ottoman và công cuộc giải phóng các vùng đất đó sau này, chưa kể đến sự biến đổi địa vị chính trị của vùng Dalmatia, Dubrovnik và Istria. Việc phân chia đất nước thành các hạt theo mô hình truyền thống đã bị bãi bỏ vào những năm 1920, khi Vương quốc của người Serb, người Croat và người Slovene và Vương quốc Nam Tư kế tiếp giới thiệu các đơn vị hành chính gọi là oblast và banovina. Croatia dưới sự lãnh đạo của chính quyền Cộng sản, như một phần cấu thành của Nam Tư sau Thế chiến II, đã xóa bỏ các phân khu hành chính trước đó và đưa vào áp dụng hệ thống đô thị hạt (chủ yếu là vùng nông thôn), chia nhỏ Croatia thành xấp xỉ một trăm hạt hành chính. Các hạt chính thức được tái thiết lập vào năm 1992 thông qua hệ thống lập pháp, thay đổi đáng kể về mặt lãnh thổ nếu so sánh với các phân khu hành chính trước thập niên 1920—chẳng hạn, vào năm 1918, phần lãnh thổ thuộc Transleithania của Croatia đã được chia thành tám hạt với trụ sở đặt tại Bjelovar, Gospić, Ogulin, Požega, Vukovar, Varaždin, Osijek và Zagreb, trong khi đạo luật năm 1992 lại thành lập tới 14 hạt trên cùng một vùng lãnh thổ đó. hạt Međimurje được thiết lập tại vùng đất cùng tên mà quốc gia này giành lại được thông qua Hiệp ước Trianon năm 1920. (Hiến pháp Croatia ban hành năm 1990 từng ấn định một Viện hạt thuộc Quốc hội Croatia đóng vai trò là một phần của chính phủ, cũng như định chế cho bản thân các hạt mà không nêu rõ cụ thể tên hay số lượng chính thức. Tuy nhiên, trên thực tế, các hạt này đã không được tái thành lập cho đến tận năm 1992, và Viện hạt đầu tiên mới được bầu ra vào năm 1993.)

Kể từ khi được tái thiết lập vào năm 1992, Croatia hiện được phân bổ thành 20 hạt và thành phố thủ đô Zagreb, trong đó thành phố này được ban quyền hạn cùng vị thế pháp lý của một hạt và một thành phố đô thị đồng thời (Khu vực hạt Zagreb nằm lọt ra ngoài phạm vi thành phố đã được phân tách thành một đơn vị hành chính độc lập kể từ năm 1997). Ranh giới các hạt đã có một vài sự điều chỉnh kể từ thời điểm đó (chủ yếu do các liên kết mang tính lịch sử và yêu cầu đệ trình từ các thành phố địa phương), với đợt sửa đổi biên giới lần cuối diễn ra vào năm 2006. Dưới các hạt lại được phân tách thành 127 thành phố và 429 hạt.

Sự phân cấp Danh pháp các Đơn vị Lãnh thổ Thống kê (NUTS) của Liên minh Châu Âu đối với Croatia được thi hành theo nhiều cấp độ khác nhau. Cấp độ NUTS 1 xếp toàn bộ quốc gia này vào một đơn vị khối duy nhất, trong khi có ba vùng NUTS 2 tồn tại; bao gồm Trung và Đông (Pannonian) Croatia, Tây Bắc Croatia và Duyên hải Adriatic Croatia. Vùng cuối cùng ôm trọn toàn bộ các hạt trải dài theo bờ biển Adriatic. Vùng Tây Bắc Croatia ôm lấy thành phố Zagreb cùng các hạt Krapina-Zagorje, Varaždin, Koprivnica-Križevci, Međimurje và hạt Zagreb; trong khi vùng Trung và Đông (Pannonian) Croatia nắm giữ các khu vực còn lại — bao gồm các hạt Bjelovar-Bilogora, Virovitica-Podravina, Požega-Slavonia, Brod-Posavina, Osijek-Baranja, Vukovar-Syrmia, Karlovac và Sisak-Moslavina. Các hạt đơn lẻ và thành phố Zagreb trực tiếp đại diện cho các đơn vị hành chính cấp NUTS 3 trên toàn Croatia. Sự phân chia các Đơn vị Hành chính Địa phương (LAU) dưới NUTS lại tiếp tục phân thành hai bậc. Các khu vực phân chia LAU 1 hoàn toàn trùng khớp với các hạt và thành phố Zagreb — về mặt bản chất khiến chúng có giá trị tương đồng với các đơn vị NUTS 3 — trong khi các phân khu LAU 2 đại diện tương ứng với các hạt và các thành phố đô thị trực thuộc tại Croatia.

Hạt Hạt lỵ Diện tích (km²) Dân số
Bjelovar-Bilogora Bjelovar 2.652 119.743
Brod-Posavina Slavonski Brod 2.043 158.559
Dubrovnik-Neretva Dubrovnik 1.783 122.783
Istria Pazin 2.820 208.440
Karlovac Karlovac 3.622 128.749
Koprivnica-Križevci Koprivnica 1.746 115.582
Krapina-Zagorje Krapina 1.224 133.064
Lika-Senj Gospić 5.350 51.022
Međimurje Čakovec 730 114.414
Osijek-Baranja Osijek 4.152 304.899
Požega-Slavonia Požega 1.845 78.031
Primorje-Gorski Kotar Rijeka 3.582 296.123
Šibenik-Knin Šibenik 2.939 109.320
Sisak-Moslavina Sisak 4.463 172.977
Split-Dalmatia Split 4.534 455.242
Varaždin Varaždin 1.261 176.046
Virovitica-Podravina Virovitica 2.068 84.586
Vukovar-Srijem Vukovar 2.448 180.117
Zadar Zadar 3.642 170.398
Hạt Zagreb Zagreb 3.078 317.642
Thành phố Zagreb Zagreb 641 792.875

Đô thị hóa

Tỷ lệ đô thị hóa trung bình của Croatia đang đứng ở ngưỡng 56%, đi kèm với sự phát triển gia tăng của cộng đồng cư dân thành thị và sự sụt giảm ở các vùng nông thôn. Thành phố lớn nhất và cũng là thủ đô của quốc gia là Zagreb, sở hữu số lượng cư dân nội thị đạt 686.568 người. Vùng đô thị của Zagreb còn mở rộng và ôm lấy 341 khu định cư lân cận khác; tính đến năm 2001, dân số của toàn khu vực đô thị này đã vọt lên mốc 978.161 người; có xấp xỉ 60% cư dân của Hạt Zagreb sinh sống tập trung bên trong vùng đô thị của Zagreb, chiếm khoảng 41% tổng quy mô dân số thành thị của cả nước. Các thành phố Split và Rijeka là những trung tâm định cư bề thế nhất dọc theo bờ biển Adriatic của Croatia, với lượng dân cư của mỗi thành phố đều vượt qua cột mốc 100.000 người. Thêm vào đó, có năm đô thị khác của Croatia sở hữu cộng đồng dân cư vượt quá 50.000 người, bao gồm: Osijek, Zadar, Pula, Velika Gorica và Slavonski Brod; khu ngoại ô Sesvete thuộc thủ đô Zagreb, dù nắm giữ vị thế như một điểm quần cư độc lập nhưng chưa chính thức là một thành phố, cũng nắm giữ một lượng cư dân hùng hậu tương đương. Lại có mười một thành phố khác có quy mô dân số dao động trên 20.000 người.

Thư viện ảnh

Xem thêm

Chú thích

Danh sách trích dẫn

Tài liệu tham khảo

Liên kết ngoài

Thống kê chỉ số

Số trận 5 (0)
Bàn thắng 1
Kiến tạo 0
Cú sút 7
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
20 GIỜ : 05 PHÚT : 46 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL