Andrej Popovic
Số áo #32Defender
Serbia
Câu lạc bộ hiện tại
Almería
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
Vụ ám sát được minh họa trên tuần báo Ý La Domenica del Corriere, ngày 12 tháng 7 năm 1914 bởi Achille Beltrame | |||||||
![]() | |||||||
| Ngày | 28 tháng 6 năm 1914 | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Địa điểm | |||||||
| Người tham gia | |||||||
| Kết quả | Khúc dạo đầu của Chiến tranh thế giới thứ nhất | ||||||
| Tử vong | 2 (Đại công tước Franz Ferdinand và vợ, Sophie, Nữ công tước xứ Hohenberg) | ||||||
| Bị thương | 16–20 (trong vụ ném bom trước vụ nổ súng) | ||||||
| Bị cáo | Nhiều kẻ đồng mưu | ||||||
| Kết án | Gavrilo Princip và những người khác | ||||||
| Cáo trạng | Phản quốc, ám sát | ||||||
| Tuyên án | 20 năm tù (đối với Princip) | ||||||
| Cảnh quay | Britannica | ||||||
| Vũ khí | Súng ngắn bán tự động FN Model 1910 | ||||||
| |||||||
| Sự kiện dẫn đến Thế chiến I |
|---|
|
Đại công tước Franz Ferdinand của Áo, người thừa kế ngai vàng Áo-Hung, cùng vợ là Sophie, Nữ công tước xứ Hohenberg, đã bị sinh viên người Serb tại Bosnia Gavrilo Princip ám sát tại Sarajevo vào ngày 28 tháng 6 năm 1914. Họ bị bắn ở cự ly gần khi đang ngồi trên xe di chuyển qua thủ phủ của Bosnia và Herzegovina, vùng đất đã chính thức bị Áo-Hung sáp nhập vào năm 1908. Biến cố này là một trong những sự kiện then chốt dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Princip là thành viên của một nhóm gồm sáu sát thủ người Bosnia cùng với Muhamed Mehmedbašić, Vaso Čubrilović, Nedeljko Čabrinović, Cvjetko Popović và Trifko Grabež do Danilo Ilić điều phối; ngoại trừ một người, tất cả đều là người Serb tại Bosnia và là thành viên của phong trào cách mạng sau này được biết đến với tên gọi Bosnia Trẻ. Mục tiêu chính trị của vụ ám sát là giải phóng Bosnia và Herzegovina khỏi ách cai trị của Áo-Hung và thành lập một nhà nước chung của người Nam Slav ("Nam Tư"). Vụ ám sát đã châm ngòi cho cuộc Khủng hoảng tháng Bảy, dẫn đến việc Áo-Hung tuyên chiến với Vương quốc Serbia và mở đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Nhóm ám sát nhận được sự hỗ trợ từ Bàn tay Đen, một hội kín mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Serbia; với sự hậu thuẫn đến từ Dragutin Dimitrijević, người đứng đầu bộ phận tình báo quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu Serbia, cũng như từ Thiếu tá Vojislav Tankosić và Rade Malobabić, một nhân viên tình báo Serbia. Tankosić đã cung cấp bom và súng ngắn cho các sát thủ và huấn luyện họ cách sử dụng. Nhóm sát thủ cũng được quyền tiếp cận cùng mạng lưới bí mật gồm các nhà an toàn và điệp viên mà Malobabić từng sử dụng để tuồn vũ khí và nhân sự vào Áo-Hung.
Các sát thủ và những thành viên chủ chốt của mạng lưới bí mật đã bị đưa ra xét xử tại Sarajevo vào tháng 10 năm 1914. Tổng cộng có hai mươi lăm người bị truy tố. Năm trong số sáu sát thủ dưới 20 tuổi vào thời điểm diễn ra vụ ám sát, ngoại lệ duy nhất là Mehmedbašić lúc đó 26 hoặc 27 tuổi. Mặc dù nhóm này do người Serb tại Bosnia chiếm đa số, nhưng có bốn người là người Croat tại Bosnia, một người là người Hồi giáo Bosnia và tất cả họ đều là công dân Áo-Hung; không có ai đến từ Serbia. Princip bị kết tội giết người và phản quốc, nhưng do chưa đủ tuổi chịu án tử hình, anh ta bị tuyên án 20 năm tù. Bốn kẻ tấn công khác cũng phải nhận các mức án tù. Năm phạm nhân lớn tuổi hơn bị kết án treo cổ.
Các thành viên Bàn tay Đen đã bị bắt giữ và xét xử trước một tòa án Serbia tại Salonika vào năm 1917 với tội danh phản quốc, những cáo buộc mà sau này được nhiều người coi là ngụy tạo. Tổ chức Bàn tay Đen bị giải tán, và ba thủ lĩnh của nhóm bị xử tử. Phần lớn những gì được biết về các vụ ám sát đều bắt nguồn từ hai phiên tòa này cùng các hồ sơ liên quan. Di sản của Princip đã được đánh giá lại sau sự kiện Nam Tư tan rã, và dư luận về ông tại các quốc gia kế thừa phần lớn bị chia rẽ theo ranh giới sắc tộc
Bối cảnh
Theo Hiệp ước Berlin năm 1878, Áo-Hung được phép chiếm đóng và cai quản Vilayet Bosnia của Ottoman, trong khi Đế quốc Ottoman giữ chủ quyền chính thức. Cũng theo hiệp ước này, các đại cường quốc (Áo-Hung, Vương quốc Anh, Pháp, Đế quốc Đức, Đế quốc Nga và Ý) chính thức công nhận Công quốc Serbia là một quốc gia độc lập, và bốn năm sau sẽ trở thành một đế quốc dưới sự cai trị của Hoàng tử Milan IV Obrenović hay Vua Milan I của Serbia. Trong thời gian này, các vua của Serbia, tất cả đều thuộc Vương tộc Obrenović vốn có quan hệ thân thiết với Áo-Hung, hài lòng với biên giới mà hiệp ước đã đặt ra.
Điều này thay đổi vào tháng 5 năm 1903, khi mà các sĩ quan Serbia, dẫn đầu bởi Dragutin Dimitrijević, xông vào Cung điện Hoàng gia Serbia. Sau khi chiến đấu ác liệt trong bóng tối, những kẻ tấn công bắt giữ Tướng Laza Petrović, người đứng đầu Vệ binh Cung điện, và ép ông tiết lộ nơi ẩn náu của Vua Alexander I Obrenović cùng vợ là Hoàng hậu Draga. Cuối cùng, vị vua bị bắn ba mươi lần còn hoàng hậu bị bắn mười tám lần. MacKenzie viết rằng "thi thể hoàng tộc bị lột hết quần áo rồi chém tơi tả". Những kẻ tấn công ném xác của Vua Alexander và Hoàng hậu Draga khỏi cửa sổ cung điện, chấm dứt mọi nỗ lực phản công của những người trung thành". Tướng Petrović sau đó bị giết khi Vojislav Tankosić tổ chức thảm sát những anh em của Hoàng hậu Draga. Những kẻ chủ mưu đưa Peter I của Vương tộc Karađorđević lên cầm quyền.
Chế độ mới đề cao chủ nghĩa dân tộc hơn, thân với Nga và ít thân với Áo-Hung hơn. Trong thập niên tiếp theo, khi Serbia xây dựng lực lượng và dần chiếm lại vị thế đế quốc thể kỷ 14 của mình, tranh chấp giữa Serbia và láng giềng nổ ra, bao gồm tranh chấp hải quan với Áo-Hung đầu năm 1906 (thường gọi là "Chiến tranh Lợn"); khủng hoảng Bosnia năm 1908–1909, trong đó Serbia phản đối việc Áo-Hung sáp nhập Bosnia-Herzegovina (Serbia phải chấp nhận mà không được chi trả vào tháng 3 năm 1909); và hai cuộc chiến tranh Balkan năm 1912–1913 với Serbia giành Macedonia và Kosovo từ Đế quốc Ottoman và đánh đuổi Bulgaria.
Những thắng lợi quân sự và sự giận dữ của Serbia đối với việc Áo-Hung sáp nhập Bosnia-Herzegovina đã khích lệ những người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia và người Serb ở Áo-Hung vốn bị áp bức, trong đó có hội chủ nghĩa dân tộc Serbia Narodna Odbrana, thành lập tại Belgrade ngày 8 tháng 10 năm 1908 theo chỉ dẫn của Milovan Milovanović. Dưới lớp đậy hoạt động văn hóa, tổ chức đặt mục tiêu gây hiềm khích giữa người Serb ở Áo-Hung với triều đại Habsburg. Trong 5 năm trước 1914, những sát thủ đơn lẻ – phần lớn là công dân Serb của Áo-Hung – thực hiện một số vụ ám sát bất thành các viên chức Áo-Hung tại Croatia và Bosnia-Herzegovina. Tại Bosnia-Herzegovina, một phong trào cách mạng địa phương nở rộ với tên gọi Thanh niên Bosnia, với mục đích là sự tan rã của đế quốc Áo-Hung.
Ngày 3 tháng 6 năm 1910, Bogdan Žerajić, thành viên của phong trào Thanh niên Bosnia, ám sát thống đốc Áo của Bosnia-Herzegovina, Tướng Marijan Varešanin. Žerajić là một người Serb Chính thống giáo 22 tuổi từ Nevesinje, Herzegovina, và từng theo học tại Khoa Luật của Đại học Zagreb và thường xuyên đến Belgrade. Žerajić bắn Varešanin năm phát rồi ghim một viên đạn cuối cùng vào đầu mình đã trở thành nguồn cảm hứng cho những sát thủ tương lai, bao gồm Princip và đồng phạm Čabrinović. Princip nói "Žerajić là hình mẫu đầu tiên của tôi. Khi mười bảy tuổi tôi dành cả đêm ở mộ anh, nghĩ về tình cảnh khốn khổ của ta rồi nghĩ về anh. Ở đó tôi đã quyết định sớm muộn gì cũng sẽ gây ra một vụ bất bình".
Tháng 5 năm 1911, hội kín Bàn tay đen được thành lập với mục tiêu xây dựng một Đại Serbia bằng "hoạt động khủng bố", gồm những thành viên chủ chốt của Narodna Odbrana, bao gồm Dimitrijević và Tankosić. Tại Bosnia-Herzegovina, mạng lưới của cả Bàn tay đen và Narodna Odbrana xâm nhập vào những phong trào cách mạng địa phương như Thanh niên Bosnia.
Năm 1913, Hoàng đế Franz Joseph ra lệnh Thái tử Franz Ferdinand theo dõi các cuộc diễn tập quân sự dự kiến diễn ra ở Bosnia tháng 6 năm 1914. Kết thúc diễn tập, Ferdinand và vợ dự lên kế hoạch tham quan Sarajevo và khánh thành một bảo tàng quốc gia mới ở đó. Theo lời kể của người con trai cả, Công tước Maximilian, Nữ công tức Sophie đi theo chồng vì lo sợ cho sự an toàn của ông.
Mặc dù thuộc giới quý tộc, Sophie không thuộc gia đình vương giả, do đó cô chỉ có thể cưới người kế thừa nhà Habsburg qua quý tiện kết hôn. Hoàng đế Franz Joseph đồng ý hôn nhân của hai người với điều kiện con họ sẽ không bao giờ kế vị. Kỷ niệm ngày cưới lần thứ 14 của cả hai rơi vào ngày 28 tháng 6. Sử gia A. J. P. Taylor nhận xét:

[Sophie] sẽ không bao giờ có được chức vị [của Franz Ferdinand]... không bao giờ có được hào quang của ông, không bao giờ được ngồi cạnh ông trước công chúng. Có một lỗ hổng... vợ ông có thể được công nhận chức vị trong lúc ông tham gia hoạt động quân sự. Do đó, năm 1914, ông quyết định thị sát quân đội ở Bosnia. Ở đó, tại thủ đô Sarajevo, Thái tử cùng vợ có thể ngồi bên nhau trên chiếc xe ngựa mở... Có thể nói, vì tình yêu mà Thái tử đã đi đến cái chết của mình.
Franz Ferdinand ủng hộ thiết chặt chế độ liên bang và được cho là mong muốn chế độ tam bang, trong đó Áo-Hung hợp nhất những vùng đất Slavic trong đế quốc thành một nước thứ ba. Một vương quốc Slav có khả năng ngăn chặn mong muốn khôi phục lãnh thổ Serb, khiến Franz Ferdinand bị coi là mối đe dọa với những người này. Princip sau này nói trước tòa rằng một trong những động cơ của anh là ngăn chặn kế hoạch cải tổ của Franz Ferdinand.
Ngày diễn ra vụ ám sát, 28 tháng 6 (15 tháng 6 trong lịch Julius), là lễ hội Thánh Vitus. Tại Serbia, ngày này được gọi là Vidovdan và ăn mừng chiến thắng Kosovo trước đế quốc Ottoman năm 1389, trong đó Hoàng đế Ottoman bị một lính Serb giết khi ở trong lều. Princip, Čabrinović và những hội viên của Thanh niên Bosnia lấy cảm hứng từ vị anh hùng Miloš Obilić, tái hiện Huyền thoại Kosovo. Čabrinović đặc biệt đắm chìm đến huyền thoại này, tự coi mình như một người anh hùng Kosovo, còn Princip thì thuộc toàn bộ Vòng hoa núi của Petar II Petrović-Njegoš, một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất thi ca Nam Slav, khắc họa lý tưởng anh hùng và tinh thần quả cảm của huyền thoại Kosovo.
Các bước chuẩn bị
Âm mưu trước đó
Danilo Ilić là một người Serb tại Bosnia. Anh từng làm giáo viên và nhân viên ngân hàng, nhưng trong hai năm 1913 và 1914, anh sống cùng mẹ và sống dựa vào nguồn thu nhập từ một nhà trọ nhỏ do bà điều hành ở Sarajevo. Ilić là thành viên của một hội cách mạng bí mật hay Kružok được tổ chức theo khuôn mẫu của Bàn tay Đen. Theo Đại tá Serbia C. A. Popović khi đó là đại úy và là thành viên của Bàn tay Đen, Danilo Ilić đã đến trạm giám sát của Serbia tại Užice để gặp ông vào cuối năm 1913. Popović khẳng định rằng Ilić đã đề xuất chấm dứt giai đoạn xây dựng tổ chức cách mạng để chuyển sang hành động trực tiếp chống lại Áo-Hung. Popović khai rằng ông đã cử Danilo Ilić đến Beograd để thảo luận vấn đề này với Cục trưởng Tình báo Quân sự Serbia, Đại tá Dragutin Dimitrijević, thường được biết đến với biệt danh Apis. Đến năm 1913, Apis và các sĩ quan quân đội đồng mưu (chủ yếu xuất thân từ cuộc đảo chính tháng 5 năm 1903) đã nắm quyền chi phối những gì còn sót lại của tổ chức Bàn tay Đen.
Không có tài liệu nào ghi chép về những gì đã diễn ra giữa Ilić và Apis trong cuộc gặp nói trên, nhưng ngay sau đó cánh tay phải của Apis và cũng là một thành viên Bàn tay Đen, Thiếu tá Serbia Vojislav Tankosić, người lúc bấy giờ phụ trách huấn luyện chiến tranh du kích đã triệu tập một cuộc họp lên kế hoạch phục hồi lãnh thổ của Serbia tại Toulouse, Pháp. Trong số những người được triệu tập tới cuộc họp ở Toulouse có Muhamed Mehmedbašić, một thợ mộc người Hồi giáo đến từ Herzegovina. Theo ghi chép của Luigi Albertini vào năm 1942, Mehmedbašić là thành viên của Bàn tay Đen, từng tuyên thệ gia nhập tổ chức trước Giám đốc Tỉnh bộ Bàn tay Đen tại Bosnia và Herzegovina Vladimir Gaćinović và Danilo Ilić. Mehmedbašić (ở đây trích dẫn lời Albertini thuật lại từ Mehmedbašić) "rất nóng lòng thực hiện một hành động khủng bố nhằm thổi bùng lại tinh thần cách mạng của xứ Bosnia." Trong cuộc họp vào tháng 1 năm 1914 này, nhiều mục tiêu Áo-Hung tiềm năng cho vụ ám sát đã được đưa ra bàn thảo, bao gồm cả Franz Ferdinand. Tuy nhiên, những người tham gia chỉ quyết định cử Mehmed Mehmedbašić tới Sarajevo để ám sát Thống đốc Bosnia, Oskar Potiorek.
Theo lời kể của Mehmedbašić, khi đang trên đường từ Pháp đến Bosnia và Herzegovina, cảnh sát đã lục soát đoàn tàu của ông để truy bắt một kẻ trộm. Nghĩ rằng cảnh sát đang truy lùng mình, ông đã vứt vũ khí (một con dao găm và một lọ thuốc độc) vào bồn cầu. Khi đến Bosnia và Herzegovina, ông viết thư cho Gaćinović và không có hành động gì thêm cho đến khi Ilić gửi thư triệu tập ông đến Mostar. Vào ngày 26 tháng 3 năm 1914, Ilić thông báo cho Mehmedbašić rằng Beograd (tức Bàn tay Đen) nhận định một cuộc tấn công nhắm vào Franz Ferdinand thay vì Potiorek sẽ có tầm quan trọng lớn hơn nhiều và họ sẽ ủng hộ kế hoạch này. (Apis sau đó đã khoe khoang trước Tòa án Serbia rằng ông đã ra lệnh ám sát Franz Ferdinand với tư cách là người đứng đầu Cục Tình báo, tuy nhiên Apis đưa ra những tuyên bố chưa được kiểm chứng này vào năm 1917 chỉ nhằm mục đích cứu mạng chính mình khi ông sắp bị xử tử vì tội phản quốc.)
Nhóm ám sát

Ngoài tầm kiểm soát của Bàn tay Đen, một âm mưu thứ hai nhắm vào vị đại công tước đã nảy sinh vào mùa xuân năm 1914 khi sinh viên Gavrilo Princip được người bạn và cũng là thành viên tổ chức Bosnia Trẻ, Nedeljko Čabrinović, cho xem một mẩu báo thông báo về chuyến thăm của Đại công tước Franz Ferdinand của Áo tới Bosnia vào tháng 6. Vào thời điểm đó, hai thanh niên người Serb tại Bosnia đang ở Beograd, rất nóng lòng trở về vùng Bosnia do Áo chiếm đóng để thực hiện một cuộc tấn công vào một quan chức đế quốc, điều mà họ coi là hành động anh hùng tối thượng. Princip đã rủ một người bạn khác là Trifko Grabež tham gia âm mưu, rồi sau đó viết thư cho Ilić, người bạn cùng phòng cũ kiêm bạn tâm giao của mình, kể về kế hoạch và nhờ anh ta chiêu mộ người ở Sarajevo.
Để thực hiện vụ ám sát, Ilić đã tuyển mộ một nam sinh trung học 17 tuổi ở Sarajevo là Vaso Čubrilović, học sinh 18 tuổi Cvjetko Popović, cũng như Mehmed Mehmedbašić vào thời điểm ngay sau Lễ Phục sinh Chính thống giáo (theo Dedijer là ngày 19 tháng 4 năm 1914), đúng như lời khai của Ilić, Čubrilović và Popović tại phiên tòa Sarajevo. Princip, Grabež và Čabrinović khai nhận tại phiên tòa Sarajevo rằng vào khoảng thời gian đó (ngay sau Lễ Phục sinh), họ đã tiếp cận Milan Ciganović, một người Serb tại Bosnia đồng hương và là cựu chiến binh du kích nổi tiếng có nhiều mối quan hệ cùng khả năng tiếp cận vũ khí, và thông qua ông ta tiếp cận Thiếu tá Tankosić, đạt được thỏa thuận nhận vũ khí cũng như được bí mật đưa qua biên giới Serbia trở lại Bosnia cùng với số vũ khí đó.
Một thỏa thuận về nguyên tắc nhanh chóng đạt được, nhưng việc bàn giao vũ khí bị trì hoãn hơn một tháng. Các sát thủ đã gặp Ciganović và bị ông ta khất lần. Có lần, Ciganović nói với Grabež: "Không làm ăn gì được đâu, Hoàng đế già đang lâm bệnh và Người thừa kế ngai vàng [sic] sẽ không đến Bosnia nữa." Khi sức khỏe của Hoàng đế Franz Joseph hồi phục, chiến dịch lại được "bật đèn xanh". Tankosić đã giao cho các sát thủ một khẩu súng ngắn FN Model 1910. Họ đã tập bắn vài phát đạn súng ngắn cỡ .380 ACP khan hiếm và đắt đỏ tại một công viên gần Beograd.
Số vũ khí còn lại cuối cùng cũng được bàn giao vào ngày 26 tháng 5. Ba sát thủ đến từ Beograd khai rằng Thiếu tá Tankosić, dù trực tiếp hay thông qua Ciganović, không chỉ cung cấp sáu quả lựu đạn và bốn khẩu súng ngắn tự động FN Model 1910 nhãn hiệu Browning mới tinh kèm theo đạn .380 ACP, mà còn cấp cả tiền bạc, viên thuốc độc tự sát, huấn luyện nghiệp vụ, một bản đồ đặc biệt có đánh dấu vị trí của hiến binh, đầu mối liên lạc trong một "đường hầm" bí mật chuyên dùng để tuồn điệp viên và vũ khí vào Áo-Hung, cùng một tấm thẻ nhỏ cho phép sử dụng đường dây đó. Thiếu tá Tankosić đã xác nhận với nhà báo kiêm sử gia Luciano Magrini rằng chính ông đã cung cấp bom và súng ngắn, chịu trách nhiệm huấn luyện cho Princip, Grabež và Čabrinović, đồng thời chính ông (Tankosić) là người khởi xướng ý tưởng phát viên thuốc độc tự sát.
Tuyến đường bí mật


Princip, Grabež và Čabrinović rời Beograd bằng thuyền vào ngày 28 tháng 5, di chuyển dọc theo sông Sava đến Šabac, nơi họ trao tấm thẻ nhỏ cho Đại úy Popović thuộc Lực lượng Biên phòng Serbia. Popović sau đó đã cấp cho họ một lá thư gửi tới Đại úy Serbia Prvanović, đồng thời điền vào một mẫu đơn có tên của ba nhân viên hải quan mà họ có thể giả danh để nhận vé tàu giảm giá cho chuyến đi đến Loznica, một thị trấn nhỏ ở vùng biên giới.
Khi Princip, Grabež và Čabrinović đến Loznica vào ngày 29 tháng 5, Đại úy Prvanović đã triệu tập ba trung sĩ thuế vụ của mình để thảo luận về cách tốt nhất để vượt biên mà không bị phát hiện. Trong lúc chờ các trung sĩ đến, Princip và Grabež đã cãi vã với Čabrinović do Čabrinović liên tục vi phạm các quy tắc bảo mật tác chiến. Čabrinović đã bàn giao lại số vũ khí mình đang mang cho Princip và Grabež. Princip bảo Čabrinović đi một mình đến Zvornik, làm thủ tục qua biên giới chính thức tại đó bằng thẻ căn cước của Grabež, sau đó đi tiếp đến Tuzla để hội quân trở lại.
Vào sáng ngày 30 tháng 5, các trung sĩ thuế vụ của Prvanović tập hợp lại; Trung sĩ Budivoj Grbić nhận nhiệm vụ và dẫn Princip cùng Grabež đi bộ đến Đảo Isaković, một hòn đảo nhỏ nằm giữa dòng sông Drina ngăn cách Serbia với Bosnia. Họ cùng số vũ khí đã đến được hòn đảo vào ngày 31 tháng 5. Grbić bàn giao hai kẻ khủng bố và vũ khí cho các điệp viên của tổ chức Narodna Odbrana của Serbia để chuyển vào lãnh thổ Áo-Hung, di chuyển lần lượt qua các nhà an toàn. Princip và Grabež vượt biên vào Áo-Hung vào tối ngày 1 tháng 6. Princip, Grabež cùng số vũ khí được chuyển giao qua lại từ điệp viên này sang điệp viên khác cho đến ngày 3 tháng 6 khi họ đến Tuzla. Họ để lại số vũ khí trong tay điệp viên Narodna Odbrana là Miško Jovanović và hội ngộ cùng Čabrinović.
Các điệp viên của Narodna Odbrana báo cáo hoạt động của họ cho Chủ tịch Narodna Odbrana là Božidar Janković, người sau đó lại báo cáo cho Thủ tướng lâm thời Serbia lúc bấy giờ là Nikola Pašić. Bản báo cáo gửi cho Pašić đã bổ sung thêm tên của một sĩ quan quân đội đồng mưu mới: Thiếu tá Serbia Kosta Todorović, Ủy viên Biên giới kiêm Giám đốc Cơ quan Tình báo Quân sự Serbia phụ trách tuyến biên giới từ Rada đến Ljubovija. Những dòng ghi chú viết tay của Pašić từ buổi báo cáo (được Dedijer ước tính diễn ra vào ngày 5 tháng 6) bao gồm biệt danh của một trong những sát thủ ("Trifko" Grabež) và tên của Thiếu tá Tankosić. Quân Áo sau đó đã thu giữ được bản báo cáo này, các ghi chú viết tay của Pašić cùng nhiều tài liệu chứng thực khác.
Cha của Čabrinović là một quan chức cảnh sát ở Sarajevo.[cần dẫn nguồn] Tại Tuzla, Čabrinović tình cờ bắt gặp một người bạn của cha mình là Ivan Vila, Thám tử Cảnh sát Sarajevo, và bắt đầu trò chuyện. Trùng hợp thay, Princip, Grabež và Čabrinović lại lên cùng một chuyến tàu đến Sarajevo với Thám tử Vila. Čabrinović hỏi thám tử về ngày diễn ra chuyến thăm của Franz Ferdinand tới Sarajevo. Sáng hôm sau, Čabrinović báo tin cho các đồng phạm rằng vụ ám sát sẽ diễn ra vào ngày 28 tháng 6.
Khi đến Sarajevo vào ngày 4 tháng 6, Princip, Grabež và Čabrinović tách nhau ra. Princip đến gặp Ilić, sau đó về thăm gia đình ở Hadžići rồi trở lại Sarajevo vào ngày 6 tháng 6, chuyển tới sống tại nhà mẹ của Ilić cùng với Ilić. Grabež về đoàn tụ với gia đình ở Pale. Čabrinović dọn về nhà cha mình ở Sarajevo.
Vào ngày 14 tháng 6, Ilić đến Tuzla để mang vũ khí về Sarajevo. Miško Jovanović giấu số vũ khí trong một hộp đựng đường lớn. Ngày 15 tháng 6, hai người đi các chuyến tàu riêng biệt đến Doboj, nơi Jovanović giao lại chiếc hộp cho Ilić. Cuối ngày hôm đó, Ilić đi tàu hỏa trở lại Sarajevo, cẩn thận chuyển sang một chuyến tàu địa phương ở ngoại ô Sarajevo rồi nhanh chóng đổi sang xe điện để tránh sự phát hiện của cảnh sát. Về đến nhà mẹ, Ilić giấu số vũ khí trong một chiếc vali đặt dưới gầm ghế sofa. Sau đó, vào khoảng ngày 17 tháng 6, Ilić tới Brod[cần giải thích] (Dedijer cho rằng ngày 16 tháng 6, nhưng hồ sơ phiên tòa ghi là ngày 18 tháng 6). Khi bị thẩm vấn tại tòa, Ilić đưa ra lời giải thích khó hiểu về lý do của chuyến đi, thoạt đầu nói rằng mình đến Brod để ngăn chặn vụ ám sát, rồi sau đó lại nói rằng mình từ Brod trở về Sarajevo để ngăn chặn vụ ám sát. Dedijer đưa ra giả thuyết (dẫn lại từ Bogićević) rằng Ilić đến Brod để gặp một đặc phái viên của Apis là Djuro Šarac, người mang theo chỉ thị hủy bỏ vụ ám sát, nhưng sau đó Rade Malobabić lại được phái từ Serbia đến Sarajevo để tái phê chuẩn vụ ám sát.
Đêm trước các cuộc tấn công
Ilić bắt đầu phân phát vũ khí vào ngày 27 tháng 6. Cho đến tận ngày hôm đó, Ilić vẫn giữ kín danh tính của các sát thủ đến từ Beograd với những người anh tuyển mộ tại địa phương và ngược lại. Đến đêm hôm đó, như Mehmedbašić kể lại với Albertini: "Vào đêm trước ngày diễn ra sự việc tàn bạo, Ilić đã giới thiệu tôi với Princip trong một quán cà phê ở Sarajevo bằng những lời này: 'Mehmedbašić, người ngày mai sẽ cùng sát cánh với chúng ta.'" Cả ba người đã gửi một tấm bưu thiếp cho Giám đốc Tỉnh bộ Bàn tay Đen tại Bosnia và Herzegovina Vladimir Gaćinović đang ở Pháp.
Vụ ám sát
Đoàn xe

Vào sáng Chủ nhật ngày 28 tháng 6 năm 1914, Ilić bố trí sáu sát thủ dọc theo tuyến đường di chuyển của đoàn xe. Ilić rảo bước trên phố, khích lệ các sát thủ hãy dũng cảm lên. Franz Ferdinand và đoàn tùy tùng di chuyển bằng tàu hỏa từ thị trấn suối khoáng Ilidža đến Sarajevo. Thống đốc Oskar Potiorek đón phái đoàn tại ga Sarajevo. Sáu chiếc ô tô đã chờ sẵn tại đây. Do nhầm lẫn, ba sĩ quan cảnh sát địa phương bước vào chiếc xe đầu tiên cùng viên trưởng ban an ninh đặc biệt; những nhân viên an ninh đặc biệt đáng lẽ phải đi cùng chỉ huy của họ thì lại bị bỏ lại phía sau. Chiếc xe thứ hai chở Thị trưởng và Cảnh sát trưởng Sarajevo. Chiếc xe thứ ba trong đoàn xe là một chiếc xe thể thao mui trần hiệu Gräf & Stift 28/32 PS hạ mui. Franz Ferdinand, Sophie, Thống đốc Potiorek và Trung tá Bá tước Franz von Harrach ngồi trên chiếc xe thứ ba này. Điểm dừng chân đầu tiên theo chương trình được công bố trước đó của đoàn xe là một cuộc thị sát ngắn tại một doanh trại quân đội. Theo kế hoạch, vào lúc 10:00 sáng, đoàn xe rời doanh trại để hướng đến tòa thị chính theo đường bờ kè Appel (Appel Quay).
Công tác chuẩn bị an ninh bên trong Sarajevo rất hạn chế. Chỉ huy quân sự địa phương, Tướng Michael von Appel, đã đề xuất bố trí binh lính dàn hàng dọc tuyến đường dự kiến nhưng bị gạt đi vì cho rằng làm vậy sẽ xúc phạm đến những thị dân trung thành. Trách nhiệm bảo vệ đoàn khách do đó được phó thác cho cảnh sát Sarajevo, trong đó chỉ có khoảng 60 người làm nhiệm vụ vào ngày Chủ nhật diễn ra chuyến thăm.
Vụ ném bom

Đoàn xe đi ngang qua vị trí của sát thủ đầu tiên, Mehmedbašić. Danilo Ilić đã bố trí anh ta phía trước khu vườn của Quán cà phê Mostar và trang bị cho anh ta một quả bom. Mehmedbašić đã không thể ra tay. Ilić bố trí Vaso Čubrilović đứng cạnh Mehmedbašić, trang bị cho anh ta một khẩu súng ngắn và một quả bom. Anh này cũng không thể hành động. Tiến xa hơn dọc theo tuyến đường, Ilić bố trí Nedeljko Čabrinović ở phía đối diện của con phố gần sông Miljacka, trang bị một quả bom.
Vào lúc 10:10 sáng, xe của Franz Ferdinand tiến đến gần và Čabrinović đã ném quả bom của mình. Quả bom nảy khỏi mui xe gập phía sau rơi xuống lòng đường. Ngòi nổ hẹn giờ của quả bom đã kích nổ dưới gầm chiếc xe chạy ngay phía sau, làm chiếc xe đó hư hỏng hoàn toàn, để lại một hố sâu 6,5 inch (170 mm) với đường kính rộng 1 foot (0,30 m), và làm bị thương từ 16 đến 20 người.
Čabrinović nuốt một viên xyanua rồi nhảy xuống sông Miljacka. Čabrinović sống sót sau nỗ lực tự sát, do viên xyanua quá hạn chỉ khiến anh ta nôn mửa, và dòng sông Miljacka chỉ sâu khoảng 13 cm do mùa hè khô hạn oi bức. Cảnh sát kéo Čabrinović lên khỏi bờ sông, và anh ta bị đám đông đánh đập dã man trước khi bị bắt giữ.
Đoàn xe phóng nhanh về phía Tòa thị chính, bỏ lại chiếc xe bị hư hại phía sau. Cvjetko Popović, Gavrilo Princip và Trifun Grabež đều không kịp hành động khi đoàn xe vụt qua họ ở tốc độ cao.
Lễ đón tiếp tại Tòa thị chính

Khi đến Tòa thị chính để tham dự buổi lễ đón tiếp theo kế hoạch, Franz Ferdinand lộ rõ vẻ căng thẳng, ông ngắt lời bài phát biểu chào mừng được chuẩn bị sẵn của Thị trưởng Fehim Čurčić để phản đối: "Thưa Thị trưởng, tôi đến đây với tư cách là khách thăm và tôi lại được chào đón bằng bom đạn. Thật quá quắt." Nữ công tước Sophie sau đó thì thầm vào tai Franz Ferdinand, và sau một thoáng ngập ngừng, Franz Ferdinand nói với thị trưởng: "Bây giờ ông có thể nói tiếp." Ông sau đó bình tĩnh trở lại và thị trưởng đọc bài diễn văn. Franz Ferdinand phải đợi bài phát biểu của chính mình, vẫn còn dính máu do để trong chiếc xe bị hư hại được mang đến. Vào văn bản đã chuẩn bị sẵn, ông nói thêm vài lời nhận xét về các biến cố trong ngày, cảm ơn người dân Sarajevo vì những tràng pháo tay nồng nhiệt "vì tôi nhìn thấy trong đó biểu hiện niềm vui mừng của họ trước sự thất bại của âm mưu ám sát."
Các quan chức và thành viên trong đoàn của Đại công tước đã thảo luận về các bước đi tiếp theo. Quan thị thần của Đại công tước, Nam tước Rumerskirch, đề xuất cặp đôi nên ở lại Tòa thị chính cho đến khi binh lính có thể được huy động vào thành phố để dàn hàng dọc các con phố. Tổng đốc Oskar Potiorek đã phủ quyết đề xuất này với lý do rằng binh lính vừa rời bãi diễn tập sẽ không có lễ phục phù hợp cho những nhiệm vụ như vậy. "Các ngài nghĩ Sarajevo đầy rẫy những kẻ ám sát sao?" ông vặn lại.
Franz Ferdinand và Sophie đã hủy bỏ lịch trình dự kiến để tới bệnh viện thăm những người bị thương trong vụ ném bom. Bá tước Harrach đứng ở bậc lên xuống bên trái chiếc xe của Franz Ferdinand để che chắn cho Đại công tước trước bất kỳ cuộc tấn công nào từ phía bờ sông. Chi tiết này được xác nhận qua những bức ảnh chụp hiện trường bên ngoài Tòa thị chính. Vào lúc 10:45 sáng, Franz Ferdinand và Sophie trở lại đoàn xe, một lần nữa ngồi trên chiếc xe thứ ba. Để đảm bảo an toàn cho cặp đôi, Tướng Oskar Potiorek quyết định đoàn xe hoàng gia nên đi thẳng dọc theo bờ kè Appel đến Bệnh viện Sarajevo để tránh khu trung tâm thành phố đông đúc. Tuy nhiên, Potiorek đã không thông báo quyết định này cho các tài xế. Hệ quả là tài xế của Đại công tước, Leopold Lojka, đã rẽ phải tại Cầu Latinh giống hệt như hai tài xế đi phía trước đã làm. Theo nhà sử học Joachim Remak, nguyên nhân là do sĩ quan phụ tá của Potiorek là Erik von Merizzi đang phải nằm viện, và do đó không thể báo cho Lojka thông tin về việc thay đổi kế hoạch và lộ trình di chuyển. Cảnh sát trưởng Sarajevo Edmund Gerde, người trước đó từng nhiều lần cảnh báo Potiorek về các biện pháp an ninh không đầy đủ cho chuyến thăm hoàng gia, đã được một trong những phụ tá của Đại công tước nhờ bảo tài xế đi theo tuyến đường mới, nhưng trong sự bối rối và căng thẳng tột độ của thời khắc đó, ông đã quên mất việc này.
Phát súng định mệnh


Sau khi biết đợt ám sát đầu tiên bất thành, Princip suy tính một vị trí để ra tay ám sát Đại công tước trên đường quay về, và quyết định di chuyển đến vị trí gần Cầu Latinh, trước cửa tiệm thực phẩm Schiller (tòa nhà này hiện nay là nơi đặt Bảo tàng Sarajevo 1878–1918). Đúng lúc này, chiếc xe thứ nhất và thứ hai của đoàn xe Đại công tước đột ngột rẽ phải vào một con phố phụ, rời khỏi bờ kè Appel. Khi tài xế của Đại công tước đi theo lộ trình của họ, Thống đốc Potiorek, người ngồi chung xe với cặp đôi hoàng gia, đã hét lên yêu cầu tài xế dừng lại vì đi sai đường. Tài xế đạp phanh, và khi cố gắng gài số lùi, ông vô tình làm chết máy ngay gần vị trí Princip đang đứng. Kẻ ám sát bước lên bệ bước của xe và bắn Franz Ferdinand cùng Sophie ở cự ly gần bằng khẩu súng ngắn Fabrique Nationale mẫu 1910 cỡ đạn .380 do Bỉ sản xuất. Các khẩu súng ngắn mang số sê-ri 19074, 19075, 19120 và 19126 đã được cung cấp cho các sát thủ. Richard Belfield cho rằng Princip đã sử dụng khẩu số 19074, nhưng Ian Howgate, một nhà nghiên cứu kho lưu trữ Bosnia, khẳng định Princip đã dùng khẩu số 19075. Trong khi 3 khẩu súng ngắn mẫu 1910 hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Viên, thì khẩu thứ tư mang số 19075 đã thất lạc. Theo Albertini, "viên đạn đầu tiên bắn trúng Đại công tước vào tĩnh mạch cổ, viên thứ hai gây ra vết thương ở bụng cho Nữ công tước". Princip đã cố gắng tự sát bằng súng nhưng ngay lập tức bị khống chế và bắt giữ. Tại phiên tòa tuyên án, Princip khai rằng mục đích của mình là ám sát Thống đốc Potiorek chứ không phải Sophie.
Sau khi bị bắn trúng, Sophie ngay lập tức bất tỉnh và gục xuống chân Franz Ferdinand. Đại công tước cũng dần mất đi ý thức khi đang được chở tới dinh thự của Thống đốc để cấp cứu. Theo lời kể của Bá tước Harrach, những lời trăn trối cuối cùng của Franz Ferdinand là: "Sophie, Sophie! Đừng chết! Hãy sống vì các con của chúng ta!" tiếp nối sau đó là sáu hoặc bảy câu nói thì thào "Không sao đâu", để đáp lại câu hỏi của Harrach về vết thương của ông. Những câu nói nghẹn ngào này bị theo sau bởi những âm thanh nghẹn thở dữ dội do xuất huyết ồ ạt. Cặp đôi hoàng gia đã qua đời vào lúc 11:30 sáng ngày 28 tháng 6 năm 1914; Sophie tử vong trước khi đến dinh Thống đốc, còn Franz Ferdinand trút hơi thở cuối cùng 10 phút sau đó.
Có một giai thoại dân gian cho rằng Princip đã ăn một chiếc bánh sandwich tại tiệm thực phẩm Schiller ngay trước khi nổ súng, nhưng không có tài liệu sơ cấp nào vào thời điểm đó đề cập đến điều này. Huyền thoại này nhiều khả năng bắt nguồn từ cuốn tiểu thuyết năm 2001 mang tên Twelve Fingers, vốn hư cấu hóa các sự kiện của vụ ám sát và có thêm chi tiết chiếc bánh sandwich.
Tang lễ
Thi hài của hai người được vận chuyển tới Trieste bằng thiết giáp hạm SMS Viribus Unitis và sau đó chuyển về Viên bằng chuyến tàu hỏa đặc biệt. Tang lễ do Đại thị thần Hoàng gia Alfred, Thân vương thứ 2 xứ Montenuovo, người được cho là kẻ thù truyền kiếp của Franz Ferdinand, đứng ra dàn xếp. Dưới sự đồng tình của Hoàng đế, ông ta quyết định biến đám tang thành một sự phỉ báng và hắt hủi cay nghiệt nhắm vào cặp đôi quá cố. Mặc dù phần lớn hoàng gia nước ngoài đều dự định tới viếng, họ bị khéo léo từ chối và lễ tang chỉ có sự tham dự của gia đình hoàng tộc trực hệ, trong khi ba người con của cặp đôi quá cố thậm chí bị loại khỏi số ít các nghi lễ công cộng. Người bạn của Đại công tước là Hoàng đế Đức Wilhelm II được mời tới để Nội các Hoàng gia có thể tham vấn ông về chính sách đối ngoại, nhưng ông đã từ chối tham dự; dù tuyên bố trước công chúng là do bị đau thắt lưng, Thủ tướng Đế quốc Đức Theobald von Bethmann Hollweg tiết lộ rằng lý do thực sự là do những lo ngại về an ninh. Quân đoàn sĩ quan bị cấm chào vĩnh biệt đoàn tàu tang lễ, điều này dẫn tới một cuộc phản kháng nhỏ do Đại công tước Karl, người thừa kế ngai vàng mới, dẫn đầu. Thời gian viếng linh cữu công khai bị cắt giảm nghiêm trọng và tai tiếng hơn nữa, Montenuovo còn tìm cách ép các con của cặp đôi phải tự thanh toán chi phí tang lễ nhưng bất thành. Quan tài của Sophie được đặt thấp hơn một bậc so với quan tài của chồng bà nhằm khẳng định địa vị xã hội thấp kém hơn của bà, và găng tay được đặt lên trên nắp linh cữu của bà như truyền thống đối với một thị tòng. Đại công tước và phu nhân được an táng tại Lâu đài Artstetten vì Nữ công tước không được phép chôn cất trong Hầm mộ Hoàng gia.
Hậu quả trực tiếp

Tất cả các sát thủ cuối cùng đều bị sa lưới. Những kẻ bị giam giữ tại Áo-Hung bị xét xử cùng với các thành viên của đường dây thâm nhập, những người đã giúp đưa họ cùng vũ khí vào Sarajevo. Mehmedbašić, người Hồi giáo Bosnia duy nhất trong nhóm đồng mưu, đã bị chính quyền địa phương bắt giữ tại Vương quốc Montenegro nhưng đã trốn thoát khỏi nhà tù Nikšić trước khi việc dẫn độ diễn ra (có thể với sự giúp đỡ từ những hiến binh canh gác, những người sau đó đã bị bắt giam). Anh ta sau đó xuất hiện trở lại tại Serbia, nơi anh gia nhập đội quân Chetnik của Thiếu tá Tankosić trong chiến tranh, vào năm 1916 chính phủ Serbia đã bỏ tù anh ta với những cáo buộc phản quốc ngụy tạo trong Phiên tòa Salonika, anh ta được thả tự do vào năm 1919 (xem phần hình phạt hình sự bên dưới).
Các cuộc bạo loạn chống người Serb bùng phát tại Sarajevo và nhiều nơi khác trong nội bộ Áo-Hung chỉ vài giờ sau vụ ám sát cho đến khi trật tự được quân đội vãn hồi. Vào đêm xảy ra vụ ám sát, các cuộc biểu tình và tàn sát chống người Serb trên toàn quốc cũng được tổ chức ở những vùng khác của Đế quốc Áo-Hung, đặc biệt là trên lãnh thổ ngày nay của Bosnia và Herzegovina và Croatia. Những cuộc bạo loạn này do Oskar Potiorek, viên Thống đốc Áo-Hung của Bosnia và Herzegovina, đứng ra tổ chức và kích động. Những cuộc biểu tình chống người Serb đầu tiên, do các tín đồ của Josip Frank dẫn đầu, diễn ra vào đầu giờ tối ngày 28 tháng 6 tại Zagreb. Ngày hôm sau, các cuộc biểu tình chống người Serb tại Sarajevo trở nên bạo lực hơn và có thể xem như một cuộc tàn sát đẫm máu. Cảnh sát và chính quyền địa phương trong thành phố đã không làm gì để ngăn chặn bạo lực nhằm vào người Serb. Nhà văn Ivo Andrić gọi đợt bạo lực tại Sarajevo là "cơn cuồng loạn của lòng thù hận tại Sarajevo." Hai người Serb đã thiệt mạng trong ngày đầu tiên của cuộc tàn sát tại Sarajevo, nhiều người bị hành hung, trong khi khoảng 1.000 ngôi nhà, cửa hiệu, trường học và cơ sở (như ngân hàng, khách sạn, nhà in) thuộc sở hữu của người Serb bị san phẳng hoặc cướp phá.
Sau vụ ám sát, con gái của Franz Joseph là Marie Valerie ghi nhận rằng cha bà đã bày tỏ sự tin tưởng lớn hơn vào người thừa kế ngai vàng mới là cháu trai của ông, Đại công tước Karl. Hoàng đế thú nhận với con gái về vụ ám sát: "Đối với ta, đó là sự giải tỏa khỏi một nỗi âu lo lớn lao."
Các phiên tòa xét xử và bản án
Phiên tòa Sarajevo (tháng 10 năm 1914)

Chính quyền Áo-Hung đã bắt giữ và truy tố các sát thủ ở Sarajevo cùng với các điệp viên và nông dân đã giúp đỡ họ trên đường đi. Phần lớn các bị cáo bị buộc tội âm mưu phạm tội phản quốc có dính líu đến các giới chức quyền lực tại Vương quốc Serbia. Tội danh âm mưu phản quốc phải đối mặt với mức án tử hình cao nhất, trong khi tội âm mưu giết người thông thường thì không. Phiên tòa diễn ra từ ngày 12 đến ngày 23 tháng 10 với phán quyết và các bản án được tuyên vào ngày 28 tháng 10 năm 1914.
Các bị cáo ở độ tuổi trưởng thành, những người đối mặt với án tử hình tại phiên tòa đã tự nhận mình là những người bất đắc dĩ phải tham gia vào âm mưu này. Lời thẩm vấn đối với bị cáo Veljko Čubrilović (người đã giúp điều phối việc vận chuyển vũ khí và là một điệp viên của Narodna Odbrana) là minh chứng điển hình cho nỗ lực này. Čubrilović khai trước tòa: "Princip trừng mắt nhìn tôi và nói rất quả quyết: 'Nếu ông muốn biết, chính là vì lý do đó và chúng tôi sắp thực hiện một vụ ám sát Người thừa kế ngai vàng; nếu ông đã biết thì phải giữ im lặng. Nếu ông phản bội, ông và gia đình ông sẽ bị tiêu diệt.'" Khi bị luật sư bào chữa thẩm vấn, Čubrilović đã mô tả chi tiết hơn về nguồn cơn nỗi sợ hãi mà ông cho rằng đã buộc ông phải hợp tác với Princip và Grabež." Čubrilović giải thích rằng ông lo sợ có một tổ chức cách mạng có khả năng gây ra những tội ác ghê gớm đứng sau Princip, và vì vậy ông sợ nhà mình sẽ bị phá hủy và gia đình bị sát hại nếu không tuân theo; ông cũng giải thích rằng mình biết một tổ chức như vậy từng tồn tại ở Serbia, ít nhất là vào một thời điểm nào đó. Khi bị dồn hỏi tại sao lại mạo hiểm trước sự trừng phạt của pháp luật mà không nhờ đến sự bảo vệ của pháp luật trước những lời đe dọa này, ông đáp: "Tôi sợ khủng bố hơn sợ luật pháp." Một điệp viên khác của Narodna Odbrana, Miško Jovanović, cũng tuyên bố rằng bản thân từng phản đối vụ ám sát.
Ba thành viên của nhóm ám sát ban đầu đã thừa nhận hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của mình, tuyên bố lý tưởng về một cộng đồng người Nam Slav được giải phóng và thống nhất, đồng thời minh oan cho Serbia và tổ chức Narodna Odbrana là những đối tượng mà phía công tố cố gắng chứng minh là phải chịu trách nhiệm; tuy nhiên tòa án không tin lời khai của các bị cáo vì chúng mâu thuẫn với những lời khai trong quá trình điều tra sơ bộ. Princip tập trung nhận toàn bộ trách nhiệm về tội ác về phần mình và tuyên bố: "Hành động của chúng tôi hoàn toàn mang tính cá nhân và không hề mang tính chất chính thức như bên công tố khẳng định. Serbia không liên can gì đến việc này và không thể bị quy trách nhiệm cho hành vi của chúng tôi." Sau đó anh ta hỏi: "Ngoài Ciganović và chúng tôi ra thì không ai khác biết về việc này. Làm sao có thể lôi Serbia vào vụ việc này được?" Princip khai nhận khi bị thẩm vấn chéo: "Tôi là một người theo chủ nghĩa dân tộc Nam Tư và tôi tin vào sự thống nhất của tất cả người Nam Slav dưới bất kỳ hình thức nhà nước nào, miễn là độc lập khỏi Áo." Princip sau đó được hỏi anh ta dự định hiện thực hóa mục tiêu của mình bằng cách nào và trả lời: "Bằng biện pháp khủng bố." Čabrinović khai rằng động cơ giết Franz Ferdinand của mình là vì nhận thấy ông là mối nguy hiểm đối với người Slav và Serbia, điều mà anh ta bảo là đã nghe được trong các quán cà phê từ giới sinh viên và thị dân. Grabež khẳng định rằng anh sẽ không bao giờ tham gia nếu biết trước nó sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh châu Âu. Bất chấp việc thiếu bằng chứng, Tòa án Sarajevo vẫn phán quyết rằng giới quân sự Serbia cũng có liên đới, do đó bản án kết luận: "Tòa án coi như các chứng cứ đã chứng minh được rằng cả tổ chức Narodna Odbrana lẫn giới quân sự tại Vương quốc Serbia phụ trách cơ quan tình báo đều đã tiếp tay cho hành vi tàn bạo này."

Các bản án tù, án tử hình và các trường hợp được tha bổng cụ thể như sau:
| Tên | Bản án |
|---|---|
| Gavrilo Princip | 20 năm tù |
| Nedjelko Čabrinović | 20 năm tù |
| Trifun Grabež | 20 năm tù |
| Vaso Čubrilović | 16 năm tù |
| Cvjetko Popović | 13 năm tù |
| Lazar Đukić | 10 năm tù |
| Danilo Ilić | Tử hình bằng hình thức treo cổ (thi hành án ngày 3 tháng 2 năm 1915) |
| Veljko Čubrilović | Tử hình bằng hình thức treo cổ (thi hành án ngày 3 tháng 2 năm 1915) |
| Neđo Kerović | Tử hình bằng hình thức treo cổ; được Hoàng đế Franz Joseph giảm án xuống 20 năm tù theo đề xuất của Bộ trưởng Tài chính |
| Miško Jovanović | Tử hình bằng hình thức treo cổ (thi hành án ngày 3 tháng 2 năm 1915) |
| Jakov Milović | Tử hình bằng hình thức treo cổ; được Hoàng đế Franz Joseph giảm án xuống tù chung thân theo đề xuất của tòa án và Bộ trưởng Tài chính |
| Mitar Kerović | Tù chung thân |
| Ivo Kranjčević | 10 năm tù |
| Branko Zagorac | 3 năm tù |
| Marko Perin | 3 năm tù |
| Cvijan Stjepanović | 7 năm tù |
| Chín bị cáo khác | Tha bổng |
Tại tòa, Čabrinović đã bày tỏ sự ân hận về những vụ giết người. Sau khi tuyên án, Čabrinović đã nhận được một lá thư tha thứ hoàn toàn từ ba đứa con nhỏ của cặp đôi quá cố vừa bị những kẻ ám sát biến thành trẻ mồ côi. Čabrinović và Princip đều qua đời vì bệnh lao trong tù. Theo luật pháp Áo-Hung, những người dưới 20 tuổi vào thời điểm phạm tội chỉ có thể nhận mức án tối đa là 20 năm tù. Tòa án đã lắng nghe các tranh luận về độ tuổi của Princip, vì có một số nghi vấn xoay quanh ngày sinh thực sự của anh ta, nhưng cuối cùng kết luận rằng Princip vẫn dưới 20 tuổi vào thời điểm diễn ra vụ ám sát. Do Bosnia và Herzegovina chưa được phân chia thuộc về Áo hay Hungary, Bộ trưởng Tài chính Áo-Hung là người trực tiếp quản lý Bosnia và Herzegovina và có trách nhiệm đề xuất lệnh ân xá lên hoàng đế.
Phiên tòa Salonika (mùa xuân năm 1917)
Từ cuối năm 1916 đến đầu năm 1917, các cuộc hòa đàm bí mật đã diễn ra giữa Áo-Hung và Pháp. Có những chứng cứ cho thấy các cuộc thảo luận song song cũng được tổ chức giữa Áo-Hung và Serbia, khi Thủ tướng Pašić phái cánh tay phải của mình là Stojan Protić và Nhiếp chính vương Alexander phái người thân cận là Đại tá Petar Živković đến Genève để lo công việc bí mật. Hoàng đế Karl I của Áo đã đưa ra yêu sách then chốt của Áo-Hung để trao trả quyền kiểm soát Serbia cho Chính phủ Serbia lưu vong: Serbia phải đưa ra các bảo đảm rằng sẽ không còn bất kỳ sự kích động chính trị nào xuất phát từ Serbia chống lại Áo-Hung.

Trong một thời gian dài, Nhiếp chính vương Alexander và các sĩ quan trung thành với ông đã lên kế hoạch loại bỏ bè phái quân sự do Apis đứng đầu, vì Apis đại diện cho một mối đe dọa chính trị đối với quyền lực của Alexander. Yêu sách hòa bình của Áo-Hung đã tạo thêm động lực thúc đẩy cho kế hoạch này.
Vào ngày 15 tháng 3 năm 1917, Apis và các sĩ quan trung thành với ông đã bị Tòa án Quân sự Serbia truy tố trên mặt trận Salonika do Pháp kiểm soát với nhiều cáo buộc ngụy tạo không liên quan đến Sarajevo, những cáo buộc mà sau này được nhà sử học John Paul Newman mô tả là dàn dựng và là một phần của một phiên tòa giả tạo nhằm loại bỏ ban lãnh đạo của tổ chức này, (vụ án đã được Tòa án Tối cao Serbia xét xử lại vào năm 1953 và tất cả các bị cáo đều được minh oan).
Vào ngày 23 tháng 5, Apis và tám thuộc hạ bị tuyên án tử hình; hai người khác nhận án 15 năm tù. Một bị cáo đã qua đời trong quá trình xét xử và các cáo buộc chống lại người này đã bị hủy bỏ. Tòa án Tối cao Serbia giảm số lượng án tử hình xuống còn bảy người. Nhiếp chính vương Alexander sau đó giảm án cho bốn trong số các án tử hình còn lại, chỉ giữ nguyên ba án tử hình. Trong số những người bị đưa ra xét xử, bốn bị cáo đã thú nhận vai trò của mình trong vụ Sarajevo và các bản án cuối cùng của họ như sau:
| Tên | Bản án |
|---|---|
| Apis | Tử hình bằng xử bắn (thi hành án ngày 26 tháng 6 năm 1917), nộp 70 dinar án phí cùng các chi phí nhân chứng bổ sung |
| Ljuba Vulović | Tử hình bằng xử bắn (thi hành án ngày 26 tháng 6 năm 1917), nộp 70 dinar án phí cùng các chi phí nhân chứng bổ sung |
| Rade Malobabić | Tử hình bằng xử bắn (thi hành án ngày 26 tháng 6 năm 1917), nộp 70 dinar án phí cùng các chi phí nhân chứng bổ sung |
| Muhamed Mehmedbašić | 15 năm tù (được giảm án và trả tự do vào năm 1919), nộp 60 dinar án phí cùng các chi phí nhân chứng bổ sung |
Để biện minh cho các vụ hành quyết, Thủ tướng Pašić đã viết thư cho đặc phái viên của mình tại Luân Đôn: "...Bên cạnh mọi thứ khác, Dimitrijević (Apis) đã thừa nhận rằng chính ông ta đã ra lệnh giết Franz Ferdinand. Vậy thì giờ đây ai có thể tha thứ cho họ được nữa?"
Khi ba người bị kết án tử hình được đưa đến pháp trường, Apis đã nhận xét với viên tài xế: "Bây giờ thì tôi đã rõ và anh cũng đã rõ, rằng hôm nay tôi bị xử bắn bởi chính những khẩu súng trường của người Serbia chỉ đơn thuần vì tôi đã tổ chức biến cố tàn bạo tại Sarajevo."
Vojislav Tankosić đã tử trận vào cuối năm 1915 nên không bị đưa ra xét xử.
Tranh cãi về trách nhiệm
"Lời cảnh báo" của Serbia gửi tới Áo-Hung
Tiếp sau các vụ ám sát, Đại sứ Serbia tại Pháp Milenko Vesnić và Đại sứ Serbia tại Nga Miroslav Spalajković đã đưa ra những tuyên bố khẳng định rằng Serbia từng cảnh báo Áo-Hung về vụ ám sát sắp xảy ra. Tuy nhiên, ngay sau đó phía Serbia đã bác bỏ việc từng đưa ra các cảnh báo cũng như phủ nhận mọi hiểu biết về âm mưu này. Đích thân Thủ tướng Pašić đã đưa ra những lời phủ nhận này với báo Az Est vào ngày 7 tháng 7 và với ấn bản phát hành tại Paris của tờ New York Herald vào ngày 20 tháng 7. Về sau, những tiếng nói khác cuối cùng cũng lên tiếng về "lời cảnh báo" này. Như Bộ trưởng Giáo dục Serbia Ljubomir Jovanović từng viết trong cuốn Krv Sloventsva, vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6, Thủ tướng Pašić đã thảo luận về âm mưu ám sát sắp xảy ra với các thành viên trong nội các của mình. Vào ngày 18 tháng 6, một bức điện tín thiếu chi tiết cụ thể đã chỉ thị cho Đại sứ Serbia tại Viên, Jovan Jovanović Pižon, cảnh báo Áo-Hung rằng Serbia có cơ sở để tin rằng có một âm mưu ám sát Franz Ferdinand tại Bosnia. Vào ngày 21 tháng 6, Đại sứ Jovanović đã gặp Bộ trưởng Tài chính Áo-Hung Leon Biliński. Theo Tùy viên Quân sự Serbia tại Viên, Đại tá Lešjanin, Đại sứ Jovanović đã trao đổi với Biliński và "...nhấn mạnh một cách khái quát về những rủi ro mà vị Đại công tước người thừa kế ngai vàng [sic] có thể gặp phải trước làn sóng dư luận phẫn nộ tại Bosnia và Serbia. Một tai ương cá nhân nghiêm trọng nào đó có thể giáng xuống ông ta. Chuyến đi của ông có thể làm bùng phát những sự cố và biểu tình mà Serbia không hề mong muốn nhưng sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho quan hệ Áo–Serbia." Jovanović trở về sau cuộc gặp với Biliński và nói với Lešjanin rằng "...Biliński không hề tỏ ra coi trọng toàn bộ thông điệp đó và gạt phắt đi, chỉ nói lúc chia tay và cảm ơn ông: 'Hy vọng rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra cả.'" Bộ trưởng Tài chính Áo-Hung đã không có bất kỳ hành động nào dựa trên những nhận định của Jovanović.
Năm 1924, J. Jovanović công khai tuyên bố rằng lời cảnh báo của ông được đưa ra theo sáng kiến cá nhân của chính mình, và những gì ông đã nói là: "Trong số các thanh niên Serb (trong quân đội) có thể có kẻ sẽ nạp một viên đạn thật vào khẩu súng trường hoặc súng ngắn ổ xoay thay vì đạn mã tử, và hắn có thể nổ súng, viên đạn đó có thể bắn trúng kẻ đang gây khiêu khích (Franz Ferdinand)." Lời trần thuật của J. Jovanović đã liên tục thay đổi qua các năm và chưa từng giải trình thỏa đáng trước tuyên bố của Đại tá Lešjanin. Biliński không lên tiếng công khai về chủ đề này, nhưng trưởng bộ phận báo chí của ông xác nhận rằng một cuộc gặp quả thực đã diễn ra với một lời cảnh báo mơ hồ, song không có đề cập nào về việc một binh sĩ Áo-Hung gốc Serb sẽ bắn Franz Ferdinand.
Trong những ngày trước khi vụ ám sát xảy ra, Pašić chỉ là thủ tướng lâm thời vì trong thời gian này, Chính phủ Serbia từng tạm thời rơi vào tay một liên minh chính trị do giới Quân sự Serbia lãnh đạo. Phía quân đội ủng hộ việc thăng chức cho Jovan Jovanović lên làm Bộ trưởng Ngoại giao, và lòng trung thành của Jovanović có thể được dự đoán là bị chia rẽ, do đó các mệnh lệnh của ông đã được thực thi một cách hời hợt. Bằng cách chọn một người trung thành với phe quân đội để truyền đạt thông điệp, và bằng cách không đưa vào bất kỳ chi tiết cụ thể nào chẳng hạn như tên của những kẻ âm mưu cùng vũ khí của chúng, Pašić, một chính khách thực dụng lão luyện đã bảo đảm cho các khả năng và hệ quả khác nhau có thể xảy ra từ vụ ám sát sắp tới.
Rade Malobabić
Năm 1914, Rade Malobabić là điệp viên ngầm chủ chốt của Cục Tình báo Quân sự Serbia hoạt động chống lại Áo-Hung. Tên của ông xuất hiện trong các tài liệu của Serbia bị Áo-Hung thu giữ trong chiến tranh. Những tài liệu này mô tả việc vận chuyển vũ khí, đạn dược và điều động điệp viên từ Serbia vào Áo-Hung dưới sự chỉ đạo của Malobabić.
Do việc Serbia che giấu lời thú tội của Apis cùng các biên bản lời khai tại phiên tòa Salonika, ban đầu các nhà sử học đã không liên kết Malobabić chặt chẽ với vụ tấn công Sarajevo. Tuy nhiên, lời tự thú của Apis nêu rõ: "Tôi đã giao cho Malobabić tổ chức vụ ám sát nhân dịp có thông báo về chuyến thăm của Franz Ferdinand tới Sarajevo." Tại phiên tòa Salonika, Đại tá Ljubomir Vulović (người đứng đầu Lực lượng Biên phòng Serbia) đã làm chứng: 'Vào năm 1914 nhân chuyến công tác chính thức của tôi từ Loznica đến Belgrade, tôi nhận được một bức thư tại Bộ Tổng tham mưu [do Thống chế Radomir Putnik, sĩ quan quân sự cấp cao nhất của Serbia ký] lưu ý rằng các điệp viên của Malobabić sẽ tới cùng một giáo viên mà tôi không nhớ tên (Danilo Ilić là một giáo viên nhưng không rõ giáo viên được đề cập có phải là Ilić hay không vì Ilić có thể ở Brod chứ không phải Loznica) để tôi có thể đưa [sic] họ vào Bosnia.' Vì lẽ đó 'Tôi đã đến Loznica và hoặc vào ngày hôm đó, hoặc rất sớm sau đó, đã đưa Rade cùng người giáo viên kia vào Bosnia.' Ngay sau đó đã xảy ra vụ ám sát Đại công tước Franz Ferdinand tại Sarajevo." Ngay trước đêm bị xử tử, Malobabić đã nói với một linh mục: "Họ ra lệnh cho tôi đến Sarajevo khi vụ ám sát đó sắp diễn ra, và khi mọi chuyện kết thúc, họ ra lệnh cho tôi quay trở lại để thực hiện các nhiệm vụ khác, và rồi chiến tranh bùng nổ." Trong tác phẩm The Road to Sarajevo, Vladimir Dedijer đã đưa ra thêm bằng chứng lời khai rằng Malobabić đã đến Sarajevo vào đêm trước vụ tấn công và đưa ra tín hiệu chấp thuận cuối cùng cho chiến dịch tới Danilo Ilić. Điều này khớp với giả thuyết của Dedijer rằng Djuro Šarac đã đưa ra chỉ thị cho Ilić vào ngày 16 tháng 6 nhằm hủy bỏ vụ ám sát. Ngay sau khi những lời thú tội này được đưa ra, Serbia đã xử tử Malobabić, Vulović và Apis dựa trên các cáo buộc ngụy tạo. Serbia không công bố bất kỳ lời làm rõ nào về những lời thú tội của họ liên quan đến vụ tấn công Sarajevo.
Các giả thuyết về sự can dự của "Bàn tay Đen" hoặc tình báo quân sự Serbia
Một giả thuyết thay thế cho việc cuộc tấn công Sarajevo là một chiến dịch của Cục Tình báo Quân sự Serbia là nhận định rằng đây là một chiến dịch của tổ chức "Bàn tay Đen". "Bàn tay Đen" là một hội kín quân sự của Serbia được thành lập vào ngày 9 tháng 5 năm 1911 bởi các sĩ quan thuộc Quân đội Hoàng gia Serbia, bắt nguồn từ nhóm âm mưu đã ám sát cặp đôi hoàng gia Serbia vào tháng 5 năm 1903 do Đại úy Dragutin Dimitrijević (thường được gọi là "Apis") cầm đầu.
Sau chiến thắng của Serbia trước Bulgaria tại Macedonia trong các cuộc Chiến tranh Balkan, "Bàn tay Đen" dần rơi vào tình trạng suy tàn do chủ tịch của hội qua đời mà không có người thay thế, viên thư ký không hoạt động, các tổn thất nhân sự, các đường dây liên lạc giữa các tổ ba người bị cắt đứt, cùng sự cạn kiệt các nguồn tài trợ. Đến năm 1914, "Bàn tay Đen" không còn hoạt động theo điều lệ của mình nữa mà hoạt động như một công cụ dưới trướng Cục trưởng Cục Tình báo Quân sự Serbia là Apis, và các thành viên tích cực của nhóm phần lớn bao gồm các sĩ quan Serbia trung thành với Apis. Lời thú nhận của Apis về việc ra lệnh thực hiện chiến dịch mở đầu bằng cụm từ "Với tư cách là Cục trưởng Cục Tình báo của Bộ Tổng tham mưu", việc chuỗi mệnh lệnh quân sự được viện dẫn, tính chất suy tàn của "Bàn tay Đen", và thực tế rằng theo Điều 16 trong hiến chương của "Bàn tay Đen", một vụ ám sát như vậy chỉ có thể được ra lệnh thông qua một cuộc bỏ phiếu của Ban Giám đốc Hội đồng Tối cao, Chủ tịch hoặc Thư ký, mà không có bất kỳ mệnh lệnh nào như vậy được đưa ra, đều là những yếu tố nghiêng về việc quy trách nhiệm cho Cục Tình báo Quân sự Serbia. Trong khi đó, việc Milan Ciganović có liên quan, các sĩ quan chủ chốt tham gia đều là thành viên "Bàn tay Đen", Giám đốc Tỉnh bộ của "Bàn tay Đen" tại Bosnia và Herzegovina Vladimir Gaćinović được tham vấn ý kiến, và việc không có bất kỳ ngân sách chính thức nào được cấp cho chiến dịch lại là những bằng chứng nghiêng về việc quy trách nhiệm cho tổ chức "Bàn tay Đen".
Mẩu báo cắt rời
Tại phiên tòa, người ta ghi nhận rằng ba sát thủ đến từ Beograd đã cố gắng nhận mọi tội lỗi về phía mình. Čabrinović khai rằng ý tưởng sát hại Franz Ferdinand bắt nguồn từ một mẩu báo cắt rời mà anh nhận được qua đường bưu điện vào cuối tháng 3, thông báo về chuyến thăm dự kiến của Franz Ferdinand tới Sarajevo. Sau đó anh ta đưa mẩu báo đó cho Princip xem và ngay ngày hôm sau họ đã đồng ý rằng sẽ giết Franz Ferdinand. Princip giải thích trước tòa rằng anh đã đọc về chuyến thăm sắp tới của Franz Ferdinand trên các tờ báo Đức từ trước đó. Princip tiếp tục làm chứng rằng, vào khoảng thời gian Lễ Phục sinh (ngày 19 tháng 4), anh đã viết một bức thư mang tính ngụ ngôn gửi cho Ilić để thông báo về kế hoạch giết Franz Ferdinand. Grabež khai rằng anh và Princip, cũng vào khoảng thời gian Lễ Phục sinh, đã thỏa thuận với nhau về việc sẽ thực hiện một vụ ám sát nhằm vào Thống đốc Potiorek hoặc Franz Ferdinand, và không lâu sau đó đã quyết định nhắm vào Franz Ferdinand. Các bị cáo đã từ chối hoặc không thể cung cấp thêm chi tiết khi bị thẩm vấn.
Vào ngày 26 tháng 3, Ilić và Mehmedbašić trên thực tế đã nhất trí sẽ giết Franz Ferdinand dựa trên các chỉ thị từ Beograd xuất hiện trước cả mẩu báo cắt rời và trước các cuộc thảo luận giữa ba sát thủ tại Beograd.
Narodna Odbrana
Cục Tình báo Quân sự Serbia thông qua những tàn dư của tổ chức "Bàn tay Đen" đã thâm nhập vào tổ chức Narodna Odbrana, sử dụng đường dây bí mật của tổ chức này để vận chuyển lén lút các sát thủ cùng vũ khí của họ từ Beograd đến Sarajevo. Trong báo cáo ngày 5 tháng 6 năm 1914 của Chủ tịch Narodna Odbrana Boža Milanović gửi cho Thủ tướng Pašić, người ta có thể nhận thấy sự thất vọng của vị Chủ tịch trước việc tổ chức của mình bị thao túng qua câu kết luận đề cập đến Sarajevo: "Boža đã thông báo cho tất cả các điệp viên rằng họ không được tiếp nhận bất kỳ ai trừ khi người đó đưa ra mật khẩu do Boža cung cấp."
Milan Ciganović
Thủ tướng Pašić đã nhận được thông tin từ sớm về kế hoạch ám sát. Theo Bộ trưởng Giáo dục Ljubomir Jovanović, thông tin này được chuyển tới Pašić đủ sớm để chính phủ có thể hạ lệnh cho lính biên phòng ngăn chặn các sát thủ vượt biên. Chi tiết này cho thấy các cuộc thảo luận của bộ trưởng nội các diễn ra vào cuối tháng 5 và việc thông tin bị rò rỉ đã xuất hiện từ một khoảng thời gian trước đó. Albertini kết luận rằng nguồn cung cấp thông tin nhiều khả năng nhất chính là Milan Ciganović. Bogičević còn đưa ra những lập luận mang tính quả quyết hơn.
Bằng chứng gián tiếp chống lại Ciganović bao gồm công việc hưởng lương nhàn hạ của ông ta trong chính phủ, sự bảo vệ mà ông nhận được từ Cảnh sát trưởng và việc Serbia không tiến hành bắt giữ ông ta (Áo-Hung từng yêu cầu Serbia bắt giữ Thiếu tá Vojislav Tankosić và Ciganović, nhưng Serbia chỉ bắt giữ Tankosić và nói dối rằng không thể tìm thấy Ciganović), sự che chở của Serbia dành cho Ciganović trong suốt cuộc chiến, cùng những đãi ngộ mà chính phủ dành cho Ciganović sau khi chiến tranh kết thúc. Năm 1917, tất cả những kẻ chủ mưu ở Sarajevo nằm trong tầm kiểm soát của Serbia đều bị đưa ra xét xử tại Salonika dựa trên các cáo buộc ngụy tạo, ngoại trừ Ciganović, người thậm chí còn đứng ra làm chứng chống lại các đồng chí của mình tại phiên tòa.[cần dẫn nguồn]
Văn phòng tùy viên quân sự Nga
Lời thú tội của Apis về việc ra lệnh ám sát Franz Ferdinand khẳng định rằng Tùy viên Quân sự Nga Viktor Artamonov đã hứa hẹn về sự bảo vệ của Nga trước Áo-Hung nếu Serbia bị tấn công. Dù thừa nhận việc tài trợ cho mạng lưới tình báo tại Áo-Hung, Artamonov đã phủ nhận sự dính líu của văn phòng mình đối với vụ ám sát trong một cuộc phỏng vấn với Albertini. Artamonov tuyên bố rằng ông đã đi nghỉ tại Ý và giao quyền điều hành cho Trợ lý Tùy viên Quân sự Alexander Werchovsky, và mặc dù liên lạc hàng ngày với Apis, ông không hề biết về vai trò của Apis cho đến tận sau khi chiến tranh kết thúc. Albertini viết rằng ông "vẫn không bị thuyết phục trước thái độ hành xử của viên sĩ quan này." Werchovsky từng thừa nhận sự dính líu của văn phòng mình nhưng sau đó đã giữ im lặng tuyệt đối về chủ đề này.
Có những bằng chứng cho thấy phía Nga ít nhất đã nắm được thông tin về âm mưu trước ngày 14 tháng 6. De Schelking viết:
Vào ngày 1 tháng 6 năm 1914 (tức 14 tháng 6 theo lịch mới), Hoàng đế Nikolai đã có cuộc hội đàm với Vua Charles I của Romania tại Constanța. Tôi đã có mặt ở đó vào thời điểm đó... tuy nhiên, theo những gì tôi có thể đánh giá từ cuộc trò chuyện với các thành viên trong đoàn tùy tùng của ông (Ngoại trưởng Nga Sergei Sazonov), ông (Sazonov) tin chắc rằng nếu vị Đại công tước (Franz Ferdinand) bị loại bỏ, nền hòa bình của châu Âu sẽ không bị đe dọa.
Hậu quả


Bức tranh biếm họa tuyên truyền mô tả nước Áo đang đè bẹp tên người Serb hình thù như loài vượn.
Vào tháng 8 năm 1914, tạp chí The Independent đã mô tả vụ ám sát như một lý do "đáng tiếc nhưng tương đối tầm thường" để dẫn đến việc
hệ thống tài chính toàn cầu rơi vào hỗn loạn, thương mại quốc tế bị đình trệ, các ngành công nghiệp khắp nơi bị đình đốn và các gia đình bị hủy hoại, cùng hàng triệu đàn ông ở châu Âu cầm vũ khí với dã tâm tàn sát lẫn nhau.
"Rất đáng nghi ngờ liệu vị Đại công tước [có] đáng để đánh đổi bằng tất cả cuộc tắm máu này hay không", tạp chí này viết. Vụ sát hại gây ra cú sốc sâu rộng khắp các vương thất châu Âu, và thoạt đầu có rất nhiều sự cảm thông dành cho lập trường của Áo. Dân chúng bình thường không thực sự bận tâm đến những gì đã diễn ra, và vào buổi tối ngày xảy ra vụ ám sát, các đám đông tại Viên vẫn nghe nhạc và uống rượu vang như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Trong vòng hai ngày sau vụ ám sát, Áo-Hung và Đức đã khuyến nghị Serbia nên mở một cuộc điều tra, nhưng Tổng Thư ký Bộ Ngoại giao Serbia Slavko Grujić đáp lại: "Cho đến nay chưa có hành động nào được tiến hành và vấn đề này không liên quan đến Chính phủ Serbia." Một cuộc khẩu chiến gay gắt diễn ra ngay sau đó giữa Đại biện lâm thời Áo tại Beograd và Grujić. Sau khi tiến hành điều tra hình sự, xác minh rằng Đức sẽ tôn trọng liên minh quân sự của mình, và thuyết phục vị thủ tướng Hungary còn đầy hoài nghi là Bá tước István Tisza, Áo-Hung đã gửi một công hàm chính thức cho chính phủ Serbia vào ngày 23 tháng 7 năm 1914. Bức thư nhắc nhở Serbia về cam kết tôn trọng quyết định của các Đại cường quốc liên quan đến Bosnia và Herzegovina, cũng như duy trì quan hệ láng giềng hòa hảo với Áo-Hung. Bức thư đưa ra các yêu sách cụ thể buộc Serbia phải chấp thuận, bao gồm việc đình chỉ xuất bản các tài liệu tuyên truyền kích động hành vi bạo lực phá hoại Áo-Hung, thanh trừng những người đứng sau các ấn phẩm tuyên truyền này khỏi Quân đội Serbia, giải tán tổ chức dân tộc chủ nghĩa Serbia Narodna Odbrana, bắt giữ những người liên quan đến âm mưu ám sát trên đất Serbia và ngăn chặn việc lén lút vận chuyển vũ khí cùng chất nổ từ Serbia sang Áo-Hung. Văn bản này cũng đòi hỏi các quan chức Áo-Hung phải được trực tiếp tham gia vào cuộc điều tra của Serbia về âm mưu ám sát.
Bức thư này được biết đến với tên gọi Tối hậu thư tháng Bảy. Áo-Hung tuyên bố rằng nếu Serbia không chấp nhận toàn bộ các yêu sách trên trong vòng 48 giờ, họ sẽ triệu hồi đại sứ khỏi Serbia. Sau khi nhận được bức điện tín bày tỏ sự ủng hộ từ Nga, Serbia đã tổng động viên quân đội và hồi đáp bức thư: họ chấp thuận hoàn toàn điểm số 8 yêu cầu chấm dứt nạn buôn lậu vũ khí và trừng phạt các sĩ quan biên phòng đã hỗ trợ nhóm ám sát, đồng thời chấp thuận hoàn toàn điểm số 10 yêu cầu Serbia báo cáo về việc thực thi các biện pháp bắt buộc khi chúng hoàn thành. Serbia chấp thuận một phần, né tránh, trả lời một cách thiếu thành thật hoặc từ chối một cách lịch sự đối với các nội dung trong phần mở đầu cùng các yêu sách số 1–7 và số 9. Những điểm chưa đáp ứng trong phản hồi của Serbia đã được Áo-Hung công bố rộng rãi; Áo-Hung đáp trả bằng cách cắt đứt quan hệ ngoại giao. Theo một nghiên cứu năm 2021, sự vắng mặt của Franz Ferdinand là nhân tố then chốt dẫn đến sự đổ vỡ ngoại giao và leo thang thành chiến tranh, vì Ferdinand vốn là người ủng hộ hòa bình quyền lực và hiệu quả nhất tại Viên.
Ngày hôm sau, các binh sĩ dự bị Serbia được vận chuyển trên các tàu buôn đường sông chạy bằng hơi nước trên sông Donau đã băng qua bờ sông thuộc phía Áo-Hung tại Temes-Kubin; các binh sĩ Áo-Hung đã bắn chỉ thiên để cảnh cáo đuổi họ đi. Báo cáo về sự việc này ban đầu được đệ trình lên Hoàng đế Franz Joseph một cách sai lệch như "một cuộc giao tranh đáng kể". Áo-Hung sau đó tuyên chiến và động viên bộ phận quân đội sẽ đối đầu với Quân đội Serbia (vốn đã tổng động viên) vào ngày 28 tháng 7 năm 1914. Theo Hiệp ước Bí mật năm 1892, Nga và Pháp có nghĩa vụ phải động viên quân đội nếu bất kỳ thành viên nào của Liên minh Ba nước tiến hành động viên.[cần dẫn nguồn] Nga đã tiến hành động viên cục bộ dọc theo biên giới với Áo vào ngày 29 tháng 7, và vào ngày 30 tháng 7, Nga phát lệnh tổng động viên toàn diện. Lệnh tổng động viên của Nga đã kích hoạt các cuộc tổng động viên toàn diện của Áo-Hung và Đức. Không lâu sau đó, tất cả các Đại cường quốc ngoại trừ Vương quốc Ý đều đã chọn phe và bước vào vòng chiến.
Xem thêm
Chú thích
Tham khảo
- Albertini, Luigi (1953). Origins of the War of 1914. Quyển II. Oxford: Oxford University Press. OCLC 168712.
- Albertini, Luigi (2005). Origins of the War of 1914. Quyển I. New York: Enigma Books. ISBN 1929631316.
- Belfield, Richard (2005). The Assassination Business: A History of State-Sponsored Murder. New York: Carroll & Graf. ISBN 0786713437.
- Biagini, Antonello; Motta, Giovanna (2015). The First World War: Analysis and Interpretation, Volume 1. Cambridge Scholars Publishing. ISBN 978-1443881869.
- Blakley, Patrick R. F. (tháng 5 năm 2009). "Narodna Odbrana (The Black Hand): Terrorist Faction that Divided the World" (PDF). Oswego Historical Review (2): 13–34. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2007.
- Butcher, Tim (2014). The Trigger: Hunting the Assassin Who Brought the World to War. New York: Grove Press. ISBN 978-0802191885.
- Buttar, Prit (2016). Collision of Empires. Osprey Publishing. ISBN 978-1782006480.
- Clark, Christopher (2012). The Sleepwalkers: How Europe Went to War in 1914. Penguin UK. ISBN 978-0718192952.
- Craig, John S. (2005). Peculiar Liaisons: In War, Espionage, and Terrorism in the Twentieth Century. Algora Publishing. ISBN 0875863310.
- De Schelking, Eugene (1918). Recollections of a Russian Diplomat, The Suicide of Monarchies. New York: Macmillan Co. OCLC 1890657.
- Dedijer, Vladimir (1966). The Road to Sarajevo. New York: Simon and Schuster. OCLC 400010.
- Dierauer, Isabelle (2013). Disequilibrium, Polarization, and Crisis Model: An International Relations Theory Explaining Conflict. University Press of America. ISBN 978-0761861065.
- Donia, Robert J. (2006). Sarajevo: A Biography. University of Michigan Press. ISBN 978-0472115570.
- Duijzings, Gerlachlus (2000). Religion and the Politics of Identity in Kosovo. C. Hurst & Co. Publishers. ISBN 978-1850653929.
- Gerolymatos, Andre (2008). The Balkan Wars. Hachette UK. ISBN 978-0786724574.
- Gioseffi, Daniela (1993). On Prejudice: A Global Perspective. Anchor Books. ISBN 978-0385469388.
- Greenawalt, Alexander (2001). "Kosovo Myths: Karadžić, Njegoš, and the Transformation of Serb Memory" (PDF). Spaces of Identity. 3: 49–65. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
- Humphreys, Brendan (2013). The Battle Backwards A Comparative Study of the Battle of Kosovo Polje (1389) and the Munich Agreement (1938) as Political Myths (PhD). University of Helsinki. ISBN 978-9521090851.
- Johnson, Wes (2007). Balkan Inferno: Betrayal, War and Intervention, 1990–2005. Enigma Books. ISBN 978-1929631636.
- Joll, James; Martel, Gordon (2013). The Origins of the First World War (ấn bản thứ 3). Routledge. ISBN 978-1317875369.
- King, Greg; Woolmans, Sue (2013). The Assassination of the Archduke: Sarajevo 1914 and the Romance That Changed the World. St. Martin's Press. ISBN 978-1250038678.
- MacKenzie, David (1989). Apis, the Congenial Conspirator: the Life of Colonel Dragutin T. Dimitrijević. East European Monographs. ISBN 0880331623.
- MacKenzie, David (1995). Black Hand on Trial: Salonika 1917. Eastern European Monographs. ISBN 978-0880333207.
- Levy, Jack S.; Mulligan, William (ngày 3 tháng 6 năm 2021). "Why 1914 but Not Before? A Comparative Study of the July Crisis and Its Precursors". Security Studies. 30 (2): 213–244. doi:10.1080/09636412.2021.1915584. ISSN 0963-6412. S2CID 236269759.
- MacMillan, Margaret (2013). The War That Ended Peace: How Europe Abandoned Peace for the First World War. Profile Books. ISBN 978-1847654168.
- Magrini, Luciano (1929). Il Dramma Di Seraievo. Origini e responsabilita della guerra europea. Milan. OCLC 8018932.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - Martel, Gordon (2014). The Month that Changed the World: July 1914 and WWI. Oxford University Press. ISBN 978-0191643279.
- McMeekin, Sean (2013). 7/1/1914: Countdown to War. Basic Books. ISBN 978-0465031450.
- Mitrović, Andrej (2007). Serbia's Great War, 1914–1918. Purdue University Press. ISBN 978-1557534774.
- National World War I Museum and Memorial (2025). "Belgian Automatic Pistol". United States Congress. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2025.
- Newman, John Paul (ngày 25 tháng 6 năm 2015). Yugoslavia in the Shadow of War: Veterans and the Limits of State Building, 1903–1945. Cambridge University Press. ISBN 978-1-107-07076-9.
- Owings, W. A. Dolph. (1984). The Sarajevo Trial. Chapel Hill, NC: Documentary Publications. ISBN 0897121228.
- Palmer, Alan (1994). Twilight of the Habsburgs: the Life and Times of Emperor Francis Joseph. Atlantic Monthly Press. ISBN 978-1857998696.
- Pearson, Owen (2005). Albania in the Twentieth Century, A History: Volume I: Albania and King Zog, 1908–39. I.B.Tauris. ISBN 978-1845110130.
- Prohić, Kasim; Balić, Sulejman (1976). Sarajevo. Tourist Association. OCLC 442656793.
- Rauchensteiner, Manfried (2014). The First World War and the End of the Habsburg Monarchy, 1914–1918. Vienna: Böhlau Verlag. ISBN 978-3205795889.
- Remak, Joachim (1959). Sarajevo: the story of a political murder. New York: Criterion Books. LCCN 59-6557.
- Remak, Joachim (1971). The First World War: Causes, Conduct, Consequences. Wiley. ISBN 0471716340.
- Russell, G. (2014). The Emperors: How Europe's Rulers Were Destroyed by the First World War. Amberley Publishing. ISBN 978-1445634395.
- Sageman, M. (2017). Turning to Political Violence: The Emergence of Terrorism. University of Pennsylvania Press, Inc. ISBN 978-0812248777.
- Simpson, John (2010). Unreliable Sources: How the Twentieth Century Was Reported. Pan Macmillan. ISBN 978-0230750104.
- Sugar, Peter F. (1999). East European Nationalism, Politics and Religion. Farnham, England: Ashgate Publishing. ISBN 978-0860788065.
- Taylor, A. J. P. (1963). The First World War: An Illustrated History. London: Penguin Books. ISBN 0140024816.
- Treadway, J.D. (1998). The Falcon and the Eagle: Montenegro and Austria-Hungary, 1908–1914. Central European Studies. Purdue University Press. ISBN 978-1557531469.
- Trydar-Burzinski, Louis (1926). Le Crépuscule d'une Autocratie. Florence. OCLC 473403651.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - Tuchman, Barbara (2009). The Guns of August: The Outbreak of World War I. Random House Publishing Group. ISBN 978-0307567628.
- Willmott, H. P. (2003). World War I. Dorling Kindersley. ISBN 978-0789496270.
Thống kê chỉ số
