Quay lại

Alejandro Mula

Số áo #10

Forward

Quốc tịch Flag Spain
Tuổi 30
Chiều cao 5' 10"
Cân nặng 157 lbs

Câu lạc bộ hiện tại

Logo

Lincoln Red Imps

Clubhouse

Thông tin chi tiết (Wikipedia)

Tondo
Tundun
Tên bản ngữ
  • ᜆᜓᜇᜓ
trước năm 900–1589
Vị trí của Tondo (màu đỏ) vào năm 1570.
Vị trí của Tondo (màu đỏ) vào năm 1570.
Thủ đôTondo
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Tagalog cổ, Kapampangan, và Tiếng Mã Lai cổ điển
Tôn giáo
Chính trị
Chính phủNhà nước phong kiến Bayan do một Lakan cai trị, bao gồm nhiều tiểu quốc barangay dưới quyền các datu
Lakan 
• k. 900
Jayadewa, Senapati của Tundun và Lãnh chúa Pailah (theo Bản khắc trên tấm đồng Laguna)
• 1450–1500[cần dẫn nguồn]
Gat Lontok và Dayang Kalangitan
• Cuối thế kỷ 15 - 1521
Malangsi
• 1521–1575[cần dẫn nguồn]
Lakandula
• 1575–1589[cần dẫn nguồn]
Agustin de Legazpi
Lịch sử
Thời kỳCổ đại đến Thời kỳ cận đại
• Bản khắc đồng Laguna là tư liệu lịch sử đầu tiên ám chỉ quan hệ thương mại với vương quốc Mataram
trước năm 900
• Các mốc thành lập Vương quốc Manila lân cận kéo dài từ những năm 1200 (xem Trận Manila (1258) và (1365)) đến những năm 1500 (xem Trận Manila (1500))
k. những năm 1200 đến k. những năm 1500
• Thiết lập quan hệ thương mại thường xuyên với nhà Minh
1373
• Xung đột lãnh thổ với Manila trong thời kỳ trị vì của mẹ Rajah Matanda
k. 1520
1570
1571
• Cuộc tấn công của Limahong và cuộc nổi dậy Tagalog năm 1574 diễn ra đồng thời
1574
• Âm mưu Tondo bị lật tẩy đã xóa bỏ quyền lực bản địa, sáp nhập vùng đất vào Đông Ấn Tây Ban Nha
1589
Kinh tế
Đơn vị tiền tệPiloncitos, Nhẫn vàng, và Trao đổi hàng hóa
Kế tục
khoảng năm 1500
Maynila
1589
Tổng trấn Philippines
Manila (tỉnh)
Hiện nay là một phần củaPhilippines

Tondo (tiếng Tagalog: [tunˈdo]; Baybayin: ᜆᜓᜇᜓ, Kapampangan: Balen ning Tundo), còn gọi là Vương quốc Tondo, là trung tâm thương mại lớn của người Tagalog và Kapampangan, nằm ở phía bắc đồng bằng sông Pasig, đảo Luzon. Cùng với Maynila ở khu vực đồng bằng sông Pasig, chính thể Tondo từng giữ độc quyền buôn bán hàng hóa Trung Quốc trên toàn quần đảo Philippines, trở thành một thế lực thương mại lớn tại Đông Nam Á và Đông Á.

Tondo là một trong những khu định cư lâu đời nhất Philippines, từng xuất hiện từ năm 900 trong Bản khắc trên tấm đồng Laguna, tài liệu văn bản cổ nhất còn lưu giữ tại quốc gia này.

Từ năm 1570, quân đội hoàng gia Tây Ban Nha bắt đầu tiến quân vào Manila, Tondo cùng các vùng lân cận quanh vịnh Manila và hồ Laguna de Bay ở Luzon.

Từ năm 1571, Tây Ban Nha từng bước khuất phục các khu vực quanh vịnh Manila trên đảo Luzon để mở rộng lãnh thổ cho triều đình. Thành Manila cổ (nay là Intramuros) cùng thị trấn Tondo lần lượt chịu sự cai trị của thực dân Tây Ban Nha, trong đó Tondo về sau thuộc quyền quản lý trực tiếp từ Manila.

Việc sáp nhập vào Tây Ban Nha đã chấm dứt sự độc lập của Tondo. Dù giành lại chủ quyền trong Cách mạng Philippines, Tondo tiếp tục chịu sự cai trị của Mỹ và duy trì vị thế thị trấn riêng biệt cho tới khi trở thành một quận của Thành phố Manila vào năm 1911.

Lịch sử

Về mặt địa lý, khu định cư được bao bọc hoàn toàn bởi sông Pasig ở phía nam, vịnh Manila ở phía tây, cùng hệ thống kênh rạch gồm Canal de la Reina (đông nam), Estero de Sunog Apog (đông bắc) và Estero de Vitas (đông và bắc).

Giới học thuật gọi Tondo là "thành bang" hoặc "khu định cư", còn các từ điển Tagalog sớm nhất xếp đây là bayan, trong tiếng Kapampangan là balayan (một "thành bang", "quốc gia" hoặc "cộng đồng", n.đ. '"khu định cư"').

Du khách Trung Quốc, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ban đầu thường gọi nơi đây là "Vương quốc Tondo". Dù nhà biên niên sử dòng Augustinô Pedro de San Buenaventura đã chỉ rõ đây là sai sót từ năm 1613 trong cuốn Vocabulario de la lengua tagala, nhà sử học Vicente L. Rafael nhận định thuật ngữ này vẫn được văn học thời thuộc địa Tây Ban Nha dùng phổ biến vì giới cầm bút lúc đó thiếu từ ngữ mô tả chính xác các quan hệ quyền lực phức tạp ở Đông Nam Á hải đảo. Tài liệu Tây Ban Nha thời kỳ đầu coi Tondo nhỏ hơn Maynila, phản ánh nhận thức của họ hơn là sự phức tạp thực sự của khu định cư này.

Về mặt chính trị, Tondo gồm các nhóm xã hội gọi là barangay, do các datu lãnh đạo. Các datu lần lượt công nhận vị thủ lĩnh cao nhất làm "datu tối cao" (lakan) của bayan. Vào giữa đến cuối thế kỷ 16, lakan nơi đây có vị thế cao trong liên minh Vịnh Manila, bao gồm Tondo, Maynila, Bulacan và Pampanga. Theo sử gia kiêm nhà nhân khẩu học Linda A. Newson, Tondo có khoảng 43.000 dân khi người Tây Ban Nha đến vào năm 1570.

Về mặt văn hóa, cư dân Kapampangan và Tagalog tại Tondo sở hữu nền văn hóa Austronesia (Malayo-Polynesian) lâu đời, ghi dấu ấn riêng qua ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng, nghệ thuật và âm nhạc kế thừa từ những người dân đầu tiên của quần đảo. Văn hóa này về sau chịu ảnh hưởng từ giao thương với phần còn lại của Đông Nam Á hải đảo. Quan hệ với nhà Minh, bán đảo Mã Lai, Brunei và đế chế Majapahit là kênh chính truyền bá văn hóa Ấn Độ đến Philippines, dù quần đảo này vốn nằm ngoài vùng văn hóa Ấn Độ.

Nguồn tư liệu và sử học

Các đánh giá toàn diện về tư liệu tiền sử Philippines rất hạn chế; bài phê bình năm 1968 của William Henry Scott là một trong những nghiên cứu hệ thống đầu tiên. Công trình của Scott là tác phẩm học thuật quan trọng về lịch sử sơ khai Philippines, sớm được các nhà sử học và văn hóa dân gian hàng đầu đương thời thẩm định, bao gồm Teodoro Agoncillo, Horacio de la Costa, Marcelino Foronda, Mercedes Grau Santamaria, Nicholas Zafra và Gregorio Zaide. Đánh giá năm 1968 của Scott được Laura Lee Junker công nhận trong nghiên cứu toàn diện năm 1998 về tư liệu gốc chính trị cổ đại Philippines, đồng thời được F. Landa Jocano ghi nhận trong phân tích nhân học về tiền sử nước này.

Theo Scott, các nguồn nghiên cứu tiền sử Philippines gồm: khảo cổ học, ngôn ngữ và địa lý cổ đại, thư tịch nước ngoài và phả hệ bán lịch sử. Trong tác phẩm sau, ông phê bình chi tiết các tư liệu viết ban đầu cùng truyền thống dân gian thời sơ khai, tiền sử Philippines.

Các nguồn tư liệu trọng tâm được William Henry Scott, F. Landa Jocano và Laura Lee Junker khai thác để nghiên cứu về các khu định cư cổ Tondo và Maynila gồm:

  • Văn bản tiếng Mã Lai,
  • Truyền thống truyền miệng Philippines,
  • Các ghi chép và địa lý về các nước chư hầu của Trung Quốc,
  • Các tác phẩm văn học Tây Ban Nha thời kỳ đầu, và
  • bằng chứng khảo cổ học từ khu vực xung quanh vịnh Manila, sông Pasig và hồ Laguna.

Lịch sử Namayan thời Rajah Kalamayin ở thượng nguồn chủ yếu dựa vào hai nguồn tư liệu chính: hiện vật khảo cổ (sớm nhất từ đợt khai quật năm 1977 của Robert Fox cho Bảo tàng Quốc gia) và tư liệu thuộc địa Tây Ban Nha (tiêu biểu nhất là ghi chép thế kỷ 19 của Fray Felix Huerta).

Cuối bài viết sẽ trình bày chi tiết về các tư liệu khảo cổ, văn bản và gia phả đáng chú ý.

Sử học phê phán

Junker chỉ ra rằng tài liệu chữ viết về Philippines thời kỳ đầu thường mang định kiến, do đó cần đối chiếu các ghi chép này với nhau và với bằng chứng khảo cổ thực nghiệm. Bà dẫn chứng các tác phẩm của F. Landa Jocano, Felix M. Keesing và William Henry Scott như những ngoại lệ đáng chú ý.

F. Landa Jocano cảnh báo rằng các phát hiện khảo cổ về lịch sử Philippines sơ khai cần được giới chuyên môn phân tích cẩn trọng đúng bối cảnh để tránh bị hiểu sai.[cần dẫn nguồn]

Tên gọi và nguồn gốc từ ngữ

Tấm khắc mô tả cây "tundok" (Aegiceras corniculatum), từ tác phẩm "Flora de Filipinas" của Fray Francisco Manuel Blanco

Tên gọi khác và cách viết khác

Nhờ vị thế thương mại trong lịch sử, Tondo từng xuất hiện với nhiều tên gọi trong các văn bản và ngôn ngữ khác nhau như Tundo, Tundun, Tundok, Tung-lio, Tundaan, Tunduh, Tunda hay Tong-Lao.

Nguồn gốc tên gọi "Tondo"

Trong các giả thuyết về tên gọi "Tondo", Nghệ sĩ Quốc gia Philippines Nick Joaquin cho rằng từ này xuất phát từ "tundok", nghĩa là vùng đất cao. Tuy nhiên, nhà ngôn ngữ học người Pháp Jean-Paul Potet nhận định tên gọi này nhiều khả năng bắt nguồn từ cây đước sông (Aegiceras corniculatum), từng được gọi là "tundok" (nay là "tinduk-tindukan"). Theo nhà nghiên cứu Robby Tantingco, tên gọi này xuất phát từ tundun, tiếng Kapampangan nghĩa là "gáy".

Tondo như một "Bayan" (thành phố)

Theo các từ điển Tagalog cổ, những khu định cư ven biển lớn do lakan hoặc rajah trị vì như Tondo và Maynila được gọi là "bayan". Thuật ngữ Tagalog này (nghĩa là "thị trấn" hoặc "quốc gia") về sau được dùng để chỉ toàn bộ Philippines hiện đại, bên cạnh từ bansa.

Tuy nhiên, khu định cư Tondo thời tiền thuộc địa cũng được mô tả bằng nhiều từ ngữ khác nhau.

Tài liệu Tây Ban Nha sớm nhất miêu tả nơi đây là làng nhỏ so với chính thể Maynila. Dù vậy, giới học thuật hiện đã loại bỏ thuật ngữ này do mang nặng định kiến thực dân Tây Ban Nha.

Du khách từ các quốc gia quân chủ (Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) ban đầu thường nhầm Tondo là "Vương quốc Tondo". Năm 1613, nhà biên niên sử dòng Augustinô Pedro de San Buenaventura đã chỉ ra sai sót này trong tác phẩm Vocabulario de la lengua tagala. Dù vậy, nhà sử học Vicente L. Rafael chỉ ra rằng văn học thời Tây Ban Nha thuộc địa vẫn tiếp tục dùng nhãn hiệu này do thiếu thuật ngữ diễn tả chính xác các quan hệ quyền lực phức tạp trong cấu trúc lãnh đạo Đông Nam Á Hàng hải.

Nhà sử học F. Landa Jocano coi Tondo là một "barangay lớn", phiên bản mở rộng từ cấu trúc chính trị cơ bản của xã hội Philippines thời tiền thuộc địa. Tuy nhiên, nhà sử học Damon Woods đã hoài nghi việc sử dụng thuật ngữ "barangay", cho rằng đây là kết quả từ một bản dịch sai các tác phẩm của Juan de Plasencia vào thế kỷ 20.

Để tránh sai sót văn hóa về cấu trúc chính trị, các văn bản học thuật thường dùng thuật ngữ chung như "chính thể Tondo" hoặc "khu định cư Tondo".

Vị trí địa lý và ảnh hưởng chính trị

Tập tin:Detail of Plan de Manila su Bahia y Puerto de Cavite Depicting Binondo Tondo and Isla de Balut in 1787.png
Bản đồ năm 1787 "Plan de Manila su Bahia y Puerto de Cavite" của Công tước de Almodóvar làm nổi bật các đảo Binondo, Tondo và Isla de Balut bằng màu nâu đỏ.

Giới học giả đồng thuận Tondo nằm phía bắc sông Pasig, thuộc vùng bắc Lusong (hoặc Lusung), tên Tagalog cổ của đồng bằng sông Pasig. Tên hòn đảo Luzon ngày nay xuất phát từ một từ tiếng Tagalog dùng để chỉ chiếc cối giã gạo bằng gỗ.

Ranh giới lãnh thổ

Trừ Maynila và Cainta, giới học giả khó vạch rõ ranh giới chính xác của các thể chế Tagalog (kể cả Tondo), do lãnh thổ của chúng giảm dần từ các cụm hộ gia đình sang đất nông nghiệp (parang) rồi hòa vào rừng hoang (sukal).

Tuy nhiên, ranh giới Tondo được các vùng nước bao bọc, tạo nên hình dáng một hòn đảo:

  • Sông Pasig ở phía Nam;
  • Canal de la Reina, tạo thành Isla de Binondo giữa chính nó và Estero de Binondo về phía đông nam,
  • một đoạn phía đông của Estero de Vitas về phía đông,
  • Estero de Sunog Apog ở phía đông bắc tạo thành Isla de Balut giữa nó và Estero de Vitas,
  • một đoạn phía bắc của Estero de Vitas hợp lưu từ cửa sông Navotas về phía bắc, và
  • đường bờ biển ban đầu (trước khi cải tạo) của Vịnh Manila về phía tây.

Đáng chú ý, khu vực Gagalangin ở Tondo ngày nay vốn không thuộc lãnh thổ Tondo ban đầu, bởi thời xưa nơi đây chỉ là vùng cây cối mọc hoang.

Hoạt động cải tạo đã làm thay đổi đáng kể đường bờ biển Tondo, vốn tương đối thẳng từ bãi biển Intramuros đến cửa sông Estero de Vitas.

Lãnh thổ Tondo không bao gồm các vùng do Maynila kiểm soát Namayan, Tambobong, Butas, Pandacan và Pasay, những nơi đều có thủ lĩnh riêng.

Các khu vực đáng chú ý

Vào thế kỷ 16, vùng "Baybay" do Bunao Lakandula của Tondo cai trị chính là quận San Nicolas, Manila ngày nay. Theo tư liệu dòng Augustinô do William Henry Scott trích dẫn, Bunao Lakandula từng cho phép một nhóm người Hoa trốn nạn hải tặc Nhật Bản đến định cư tại đây. Các tị nạn nhân này, gồm hai tín hữu Kitô giáo, sau đó quai đê lấn biển, mở rộng bờ biển Tondo ra phía Vịnh Manila.

Khu vực "Sunog Apog" do Tondo kiểm soát ven bờ Estero de Vitas sau này được lấy làm tên cho kênh Estero de Sunog Apog ở Gagalangin. Nơi đây từng nổi tiếng với nghề đốt vỏ hàu làm vôi, và một lò nung vôi vẫn còn tồn tại vào năm 1929.

Các thể chế chính trị chịu ảnh hưởng thông qua "mạng lưới liên minh" của lakan

Dù quan niệm phổ biến và sử sách dân tộc chủ nghĩa trước đây cho rằng các thủ lĩnh Maynila và Tondo sở hữu quyền lực tuyệt đối cùng lãnh thổ rộng lớn, các nhà sử học như Jocano, Scott, và Junker đã chỉ ra rằng họ chỉ có ảnh hưởng hạn chế và không chi phối trực tiếp các barangay hay lãnh thổ của các datu cấp dưới.

Junker xem đây là "nhóm liên minh" có cấu trúc phân tán và phân đoạn cao, tương tự các thể chế chính trị khác ở Đông Nam Á hải đảo:

Ở Philippines, đơn vị hành động chính trị tập thể chủ yếu dường như là một "nhóm liên minh" có tính tổ chức linh hoạt hơn, [...] bao gồm các phe phái tập trung vào người lãnh đạo luôn thay đổi, đại diện cho sự mở rộng của [...] quyền lực đối với các cá nhân và nhóm thông qua các chiến lược xây dựng liên minh khác nhau, nhưng không phải đối với các quận hoặc lãnh thổ riêng biệt về mặt địa lý.

Bên cạnh đó, Bảo tàng Tổng thống Malacañang từng gọi mô hình chính trị này là "mạng lưới liên minh" trong bản tóm tắt Araw ng Maynila 2015.

Điều này lý giải sự nhầm lẫn của Martin de Goiti khi Tây Ban Nha lần đầu thám hiểm Bulacan và Pampanga cuối năm 1571. Dù giới biên niên sử Tây Ban Nha gọi Tondo và Maynila là các "vương quốc" có "vua", Goiti ngạc nhiên khi Lakandula giải thích rằng nơi đây không có vua cai trị, và sự lãnh đạo đối với Kapampangan cũng không mang tính áp đặt lãnh thổ hay quyền chỉ huy tuyệt đối. San Buenaventura (1613, trích bởi Junker, 1990 và Scott, 1994) ghi nhận người Tagalog chỉ gọi vua nước ngoài là Hari, chứ không dùng cho thủ lĩnh của mình.

Thể chế chính trị ở Bulacan và Pampanga

Sử liệu và truyền thống dân gian đều ghi nhận ảnh hưởng của Tondo cùng Maynila đối với các datus ở Bulacan và Pampanga thời tiền thuộc địa. Thừa nhận tầm ảnh hưởng này, Legazpi đã nhờ Lakan Bunao của Tondo đồng hành cùng Martín de Goiti đến Bulacan và Pampanga cuối năm 1571. Tuy nhiên, thiếu chủ quyền ở các khu vực này, nỗ lực của Lakandula chỉ đạt kết quả khiêm tốn.

Dựa trên bản dịch Bia đồng Laguna của Postma, Patanne, Abinales và Amoroso cho rằng một mạng lưới liên minh đã định hình mối quan hệ giữa Tondo với các vùng Binwangan, Pailah và Puliran (mà Postma xác định thuộc Bulacan/Pampanga).

Các chính thể tại Bulacan và Pampanga chịu ảnh hưởng từ mạng lưới liên minh Tondo - Maynila gồm:

Các chính thể vùng hồ Laguna

Giới nghiên cứu, tiêu biểu là Junker (1990) và Scott (1994), xác nhận Tondo và Maynila từng liên minh chính trị - thương mại với Puliran ở bờ đông nam hồ Laguna. Dù vậy, cả Junker, Scott lẫn các học giả như Jocano, Odal-Devora hay Dery đều không chỉ rõ Puliran thuộc mạng lưới liên minh Tondo - Maynila.

Thách thức từ Quỹ Hội Lịch sử Pila và nhà sử học Jaime F. Tiongson đối với khẳng định của Postma về vị trí các địa danh trên tấm đồng Laguna ngụ ý rằng Puliran thuộc mạng lưới liên minh Tondo và Maynila.

Theo Tiongson, Pailah chỉ Pila, Puliran là tên cũ của vùng đông nam vịnh Laguna de Bay, còn Binwangan là Barangay Binawangan ngày nay tại Capalonga, Camarines Norte.

Các thực thể chính trị tại Puliran được cho là chịu ảnh hưởng từ liên minh Tondo - Maynila gồm:

  • Vùng bờ biển phía Đông Nam của Hồ Laguna – được hiểu là "Puliran Kasumuran" được đề cập trong LCI
  • Pila, Laguna – được hiểu là "Pailah" được đề cập trong LCI

Văn hóa và xã hội

Một bức chân dung về tầng lớp Ginu. Từ Boxer Codex, k. 1595.

Từ thế kỷ III,[cần ghi nguồn] người Kapampangan và Tagalog tại Tondo đã phát triển nền văn hóa đậm chất Hindu - Phật giáo.[cần ghi nguồn] Họ chịu sự cai trị của lakan và thuộc tầng lớp chiến binh Maharlika,[nhãn gây tranh cãi] những người tự do (tiếng Tây Ban Nha dịch là hidalgos) trong xã hội Tagalog cổ đại ở Luzon. Họ là quý tộc cấp thấp, tương tự lớp timawa của người Visayan. Ngày nay, thuật ngữ này hay bị hiểu sai thành "quý tộc hoàng gia", vị thế vốn chỉ dành cho giới maginoo cha truyền con nối.

Social structure

Thời tiền thuộc địa, các barangay Tagalog tại Manila, Pampanga và Laguna có cấu trúc xã hội phức tạp hơn Visayas nhờ canh tác lúa nước và phát triển thương mại thông qua liên kết chính trị với Borneo. Vì thế, tu sĩ Martín de Rada mô tả người Tagalog là thương nhân hơn chiến binh.

Trong công trình tiêu biểu năm 1994 (Barangay: Văn hóa và Xã hội Philippines thế kỷ XVI), nhà sử học William Henry Scott đã khắc họa ba tầng lớp của xã hội Tagalog vào những năm 1500.:

  • maginoo (tầng lớp thống trị), bao gồm lakan/rajah và các datus dưới quyền ông ta;
  • Một lớp được mô tả là "người tự do" bao gồm timawa và maharlika; và
  • Alipin (nô lệ), có thể được phân loại thêm thành aliping namamahay hoặc aliping sa gigilid.

Datu, lakan hay apo là tước hiệu thủ lĩnh thuộc tầng lớp quý tộc maginoo. Nam giới trong giai cấp này đều có thể trở thành datu nhờ năng lực và thành tích cá nhân.

Thuật ngữ timawa (chỉ người tự do) xuất hiện trong xã hội Tagalog trong vòng 20 năm sau khi người Tây Ban Nha đến. Tuy nhiên, thuật ngữ này bị dùng sai cho các cựu alipin, những người đã chuộc thân, được ưu ái hoặc bỏ trốn. Khác với ở Visayas, tầng lớp timawa Tagalog chủ yếu là dân tự do và ít mang tính quân sự, thể hiện sự khác biệt trong cấu trúc xã hội giữa các vùng. Ở Laguna, tầng lớp chiến binh Tagalog tương đương được gọi là maharlika.

Tầng lớp alipin nằm ở đáy xã hội và bao gồm hai nhóm chính. Aliping namamahay có nhà riêng, phục vụ chủ bằng cách nộp cống hoặc làm ruộng như nông nô, còn aliping sa gigilid sống trong nhà chủ như người hầu và nô lệ.

Cấu trúc xã hội phức tạp của người Tagalog thiếu ổn định khi người Tây Ban Nha đến do đang phân hóa.[mơ hồ]

Cấu trúc lãnh đạo

Tondo từng là một khu định cư ven biển lớn do các thủ lĩnh (datu) cai quản, với những nhóm người theo phụng sự gọi là dulohan hoặc barangay. Các datu cùng barangay của họ đều thừa nhận quyền lãnh đạo của một datu tối cao, gọi là "lakan". San Buenaventura gọi khu định cư ven biển lớn có cấu trúc lãnh đạo này là “bayan”.

Các datu tối cao cai trị phía nam Maynila mang danh hiệu "rajah", còn tại các chính thể Hồi giáo Mindanao tương ứng là "sultan".

Thuật ngữ "barangay" bắt nguồn từ tên loại thuyền lớn "balangay" vùng ven biển, được các học giả ngày nay dùng để mô tả cấu trúc lãnh đạo của các khu định cư Philippines thời kỳ đầu. Độc giả ngày nay dễ nhầm lẫn vì thuật ngữ "barangay" về sau được dùng thay thế từ "barrio" (theo Bộ luật Chính quyền địa phương 1991) để chỉ đơn vị hành chính nhỏ nhất của Philippines, một cấu trúc khác hẳn so với ý nghĩa ban đầu.

Bên cạnh đó, Jocano lưu ý sự khác biệt lớn giữa các barangay nhỏ (30–100 hộ) và những barangay lớn hơn hẳn, vốn được Buenaventura gọi là "bayan". Jocano khẳng định nên lấy các barangay lớn, với kinh tế chuyên môn hóa và phân tầng xã hội rõ ràng, làm mô hình chính để phân tích cấu trúc xã hội Philippines thời kỳ đầu, thay vì các barangay nhỏ.

Văn học đại chúng gọi đây là các lãnh địa hoặc vương quốc. ​Dù vậy, các học giả hiện đại như Renfrew lưu ý đây chưa phải mô tả kỹ thuật chuẩn xác.

Giới sử học hiện đại về Philippines sơ kỳ ưu tiên dùng thuật ngữ "chính thể" trên các tạp chí quốc tế, tránh dùng "tù trưởng" hay "vương quốc".

Các học giả như William Henry Scott và F. Landa Jocano vẫn dùng thuật ngữ "barangay" trong các công trình dài như sách hay tuyển tập, do có đủ không gian làm rõ sự khác biệt giữa cách dùng xưa và nay.

Ảnh hưởng văn hóa

Bản đồ thể hiện phạm vi văn hóa Đại Ấn Độ, trong đó Philippines (màu vàng) nằm ngoài vùng văn hóa Ấn Độ nhưng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quá khứ đến nay.

Nghiên cứu Bản khắc đồng Laguna, văn bản đầu tiên ghi nhận Tondo, chứng minh nơi đây đã chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ giáo và Phật giáo tại Đông Nam Á từ thế kỷ IX. Tấm đồng sử dụng chữ Kawi cổ để ghi lại biến thể tiếng Mã Lai cổ, kết hợp nhiều từ mượn tiếng Phạn và một số yếu tố từ vựng có thể thuộc tiếng Java cổ. Có ý kiến coi nó là dạng trung gian giữa tiếng Tagalog cổ và Java cổ.[cần dẫn nguồn] Văn bản LCI được khắc vào ngày 4 trăng khuyết, tháng Waisaka, năm 822 kỷ nguyên Saka, tương ứng Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 900 theo lịch Gregorius đón trước.

Dù ảnh hưởng Hindu-Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, giới nghiên cứu cho rằng điều này không chứng minh sự tiếp xúc trực tiếp giữa Philippines và Ấn Độ. Quy mô, tiến trình và phương thức ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với các thể chế chính trị Philippines sơ kỳ hiện vẫn là chủ đề được giới học giả lịch sử Philippines và Đông Nam Á tích cực nghiên cứu, tranh luận.

Dưới thời Sultan Bolkiah (1485–1521), Brunei tấn công Tondo nhằm chấm dứt thế độc quyền giao thương với Trung Quốc, đồng thời thành lập chư hầu Maynila.[không khớp với nguồn]

Tôn giáo

Tư liệu lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ và nhân chủng học xác nhận người Tagalog (ở Tondo và Maynila) duy trì tín ngưỡng, phong tục Austronesian truyền thống, đồng thời tiếp nhận thêm các yếu tố từ Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa và Hồi giáo.

Chiếc kiệu ngọc bích xanh đen phát hiện tại Luzon (gần khu vực Tondo, Philippines ngày nay) được cho là chế tác tại chỗ. Trong văn hóa Đông Á và các vùng lân cận, kiệu tượng trưng cho vương quyền và sự tinh xảo, với kiểu dáng kim tự tháp ngược thuôn dài đòi hỏi sự cân bằng tuyệt đối để duy trì tính ổn định.

Người Tagalog không có tên riêng cho hệ thống tín ngưỡng này, dù sau này giới học giả thường gọi đó là Anitism hoặc dùng thuật ngữ chung là "animism".

Vũ trụ học tôn giáo Tagalog

Tín ngưỡng Tagalog tin rằng thế giới đầy linh hồn và thực thể siêu nhiên, điều này thể hiện rõ qua các nghi thức tôn giáo của họ.

Theo các nhà truyền giáo Tây Ban Nha thời kỳ đầu, người Tagalog tin vào thần sáng tạo Bathala, còn được gọi là maylicha (đấng sáng tạo) và maycapal (đấng toàn năng). Loarca và Chirino ghi nhận họ còn được gọi là "Molayri" hoặc "Diwata". Dù vậy, các giáo sĩ dân tộc học đầu tiên ghi nhận người Tagalog không thờ Bathala trong các nghi thức hằng ngày (pag-a-anito). Buenaventura được biết người Tagalog cho rằng Bathala quá uy quyền và xa cách với phàm nhân. Vì vậy, họ tập trung cúng tế các vị thần cùng linh hồn cấp thấp hơn, những thế lực trực tiếp chi phối đời sống hàng ngày của họ.

Do người Tagalog không có từ chung chỉ các linh hồn, các nhà truyền giáo Tây Ban Nha đã gọi chúng là "anito", dựa theo hành động thờ cúng (pag-aanito) của họ. Theo Scott, các tài liệu sớm mô tả họ là trung gian ("đại diện của Bathala"), và từ điển đã dùng từ abogado (người biện hộ) để xác định vai trò của họ. Thực tế, các nguồn tài liệu cho thấy những linh hồn này được cầu nguyện trực tiếp chứ không phải thông qua vai trò trung gian. Hiện nay, các nhà nghiên cứu thường phân họ thành linh hồn tổ tiên, linh hồn tự nhiên và linh hồn bảo hộ, dù ranh giới phân loại giữa các nhóm này khá mờ nhạt.

Demetrio, Cordero-Fernando và Nakpil Zialcita chỉ ra rằng việc người Tagalog và Kapampangan ở Luzon dùng từ "Anito" thay vì "Diwata" như vùng Visayas cho thấy nhóm dân cư này ít chịu ảnh hưởng từ Ấn - Phật giáo Majapahit hơn. Việc các từ này được sử dụng xen kẽ giữa các dân tộc vùng cực nam Luzon (Bicol, Marinduque, Mindoro...) cho thấy đây là vùng chuyển tiếp, tiền tuyến của đà lan rộng ảnh hưởng "Ấn Độ hóa" từ Majapahit lên phía bắc, tương tự sự mở rộng của Hồi giáo từ Mindanao.

Sự bản địa hóa các niềm tin khác

Dù khẳng định tín ngưỡng bản địa chiếm ưu thế, giới sử học hiện đại vẫn ghi nhận sự hiện diện đáng kể của các hệ thống niềm tin khác trong lịch sử Tagalog thời kỳ đầu. Khác với quan điểm coi đây là "ảnh hưởng" của giới sử học giữa thế kỷ 20, các học giả Đông Nam Á đương đại cho rằng những biểu hiện tín ngưỡng này phản ánh sự thích nghi, "địa phương hóa" hơn là tiếp nhận hoàn toàn tôn giáo mới.

Theo Osborne (2004), sự lan tỏa của Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Đông Nam Á hải đảo bản chất là quá trình "thích nghi", trong đó sự "Ấn Độ hóa" không thay thế hay xóa bỏ nền tảng văn hóa và tín ngưỡng bản địa sẵn có:

Bởi vì văn hóa Ấn Độ "đến" Đông Nam Á, người ta không nên nghĩ rằng người Đông Nam Á thiếu văn hóa riêng của họ. Thật vậy, quan điểm được chấp nhận rộng rãi là văn hóa Ấn Độ đã tạo ra tác động lớn đến Đông Nam Á vì nó dễ dàng phù hợp với các mô hình văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo hiện có của các cộng đồng dân cư đã tiến một quãng đường đáng kể trên con đường văn minh.[…] Tóm lại, người Đông Nam Á đã vay mượn nhưng họ cũng thích nghi. Trong một số trường hợp rất quan trọng, họ hoàn toàn không cần phải vay mượn.

Theo Milner (2011), mô hình thích ứng này thể hiện khái niệm "bản địa hóa" của Wolters (1999): quá trình các ý tưởng ngoại nhập (đặc biệt từ Ấn Độ) bị xé lẻ, diễn giải lại và biến đổi nghĩa gốc khi tích hợp vào từng bối cảnh địa phương.

Ảnh hưởng tôn giáo của Ấn Độ giáo và Phật giáo

Từ thế kỷ I, Ấn Độ giáo lan rộng từ tiểu lục địa Ấn Độ ra khắp châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, gắn liền với sự hình thành các khu định cư và thể chế Hindu sơ khai.

Mức độ ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo tại Philippines vẫn gây tranh cãi, dù có bằng chứng giao lưu thương mại và văn hóa qua các đế chế Srivijaya và Majapahit. Giới học giả nhận định Philippines không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn Độ, mà tiếp nhận văn hóa, Ấn Độ giáo và Phật giáo qua giao thương, quy mô nhỏ thời Srivijaya và sâu rộng hơn thời Majapahit.

Bản khắc đồng Laguna phản ánh ảnh hưởng ngôn ngữ và văn hóa Ấn Độ tại Tondo, nhưng không ghi nhận cụ thể các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, một số Phật tử ngày nay cho rằng việc đề cập tháng Vaisakha theo lịch Hindu (tháng 4–5 Dương lịch) thể hiện sự am hiểu về các lễ hội linh thiêng của Ấn Độ giáo.

Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo tại Philippines được thể hiện rõ qua các hiện vật tôn giáo tìm thấy ở Calatagan, Batangas gần Tondo.

Giới nghiên cứu hiện đại nhận định văn hóa Philippines từng tiếp xúc với Phật giáo Kim Cương thừa và Theravada qua giao thương với Srivijaya cùng Majapahit, đồng thời các phát hiện khảo cổ tại Luzon đã ghi nhận sự hiện diện của Phật giáo Đại thừa.

Hồi giáo hóa

Ngoại lệ rõ nét đối với sự thống trị của tín ngưỡng Anit ở Tondo và Maynila sơ kỳ là giới lãnh đạo tự nhận theo Hồi giáo, tương tự các thủy thủ Luzones di cư được biên niên sử ghi nhận tại Malacca thuộc Bồ Đào Nha đầu thế kỷ 16. Dù vậy, các ghi chép dân tộc học đương thời cho thấy đây chỉ là "Hồi giáo trên danh nghĩa", do người dân chỉ tuân thủ hời hợt vài quy chuẩn cơ bản (như kiêng thịt lợn, máu) mà thiếu hiểu biết về giáo lý. Giới học giả cho rằng việc thực hành Hồi giáo mang tính hình thức này là bước đầu của quá trình Hồi giáo hóa, vốn đã lan rộng hơn nếu người Tây Ban Nha không đến truyền bá Công giáo Iberia.

Quá trình Hồi giáo hóa diễn ra chậm do cư dân Tondo và Manila cải đạo từng bước, hình thành các lãnh địa Hồi giáo. Việc Hồi giáo hóa Luzon bắt đầu từ thế kỷ 16 khi thương nhân Brunei định cư tại Manila, kết hôn với người bản địa và duy trì quan hệ thân tộc, thương mại với Brunei cùng các trung tâm Hồi giáo Đông Nam Á. Người Tây Ban Nha gọi những người Hồi giáo này là Moros vì cho rằng họ chiếm toàn bộ bờ biển. Chưa có bằng chứng cho thấy Hồi giáo là thế lực lớn trong khu vực, khi Linh mục Diego de Herrera ghi nhận người Moro chỉ tập trung ở vài làng và theo đạo trên danh nghĩa.

Hoạt động kinh tế

Giới sử học thống nhất rằng trước thời Tây Ban Nha xâm chiếm, các chính thể ven biển lớn ở Philippines (như Tondo và Maynila) đều sở hữu tổ chức xã hội phức tạp, thể hiện qua sự chuyên môn hóa kinh tế, phân tầng xã hội và nhu cầu nội địa về "hàng hóa uy tín".

Các ngành nghề truyền thống tại khu vực Tagalog và Kapampangan (gồm Tondo và Maynila) tập trung vào nông nghiệp, dệt may, đan lát, luyện kim, săn bắn cùng nhiều sinh kế khác. Phân tầng xã hội tạo nên tầng lớp Maginoo, thúc đẩy nhu cầu về các vật phẩm danh giá như đồ gốm, dệt may và đá quý. Nhu cầu này, đến lượt nó, đã trở thành động lực thúc đẩy cả thương mại nội địa và quốc tế.

Junker nhấn mạnh cần nghiên cứu sâu hơn về động lực cung - cầu nội địa ở các thể chế thời tiền Tây Ban Nha, bởi các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào ngoại thương. Scott lưu ý rằng các từ điển tiếng Tây Ban Nha thời kỳ đầu rất hữu ích cho phân tích này nhờ ghi lại nhiều từ ngữ phản ánh sắc thái kinh tế địa phương.

Buôn bán

Junker xem các chính thể ven biển như Tondo và Maynila là trung tâm hành chính - thương mại đóng vai trò đầu mối then chốt trong mạng lưới giao thương nội địa và quốc tế. Theo mô hình thương mại Philippines thời kỳ đầu, các khu định cư vùng đồng bằng sông Pasig kiểm soát hàng hóa giao thương với thượng nguồn hồ Laguna; tuy nhiên, Tondo và Maynila nhờ các thỏa thuận thương mại đã chi phối dòng chảy hàng hóa trên toàn quần đảo. Scott ghi nhận cảng Tondo độc quyền tiếp nhận tàu buôn Trung Quốc, trong khi thuyền buôn Manila đảm nhiệm phân phối hàng hóa khắp quần đảo, khiến tàu Maynila thậm chí được gọi là "tàu Trung Quốc" (sinina).

Phân phối lại hàng hóa Trung Quốc

Thương mại giữa Tondo, Manila với Trung Quốc đã đưa vịnh Manila thành một trong những điểm cực bắc trên Con đường Tơ lụa.

Nguồn thu lớn nhất của Tondo đến từ việc trung chuyển hàng hóa Trung Quốc: nhận hàng qua cảng Tondo ở vịnh Manila, rồi phân phối khắp quần đảo nhờ mạng lưới vận tải của Maynila.

Người Trung Quốc bắt đầu di cư đến Malaya và ven biển Philippines từ thế kỷ VII, rồi bùng nổ sau năm 1644 do cuộc chinh phục của người Mãn Châu. Người Hoa định cư tại Manila, Pasig và các cảng lân cận. Hằng năm, thuyền buồm thương mại của họ cập bến mang theo tơ lụa, trà, gốm sứ và đá quý.

Theo William Henry Scott (1982), khi tàu buôn Trung Quốc cập vịnh Manila, Lakandula sẽ tạm giữ buồm cùng bánh lái cho đến khi họ nộp đủ thuế và phí neo đậu. Sau đó, ông bao tiêu toàn bộ hàng hóa, trả trước một nửa giá trị và thanh toán nốt phần còn lại vào chuyến quay lại năm sau. Khi đó, các mặt hàng này sẽ được buôn bán khắp các đảo còn lại. Do đó, dân địa phương khác phải mua hàng Trung Quốc qua trung gian Tondo và Maynila, giúp hai vùng này thu lợi lớn.

Tu sĩ Martin de Rada nhận định người Tagalog thiên về thương mại hơn chinh chiến, trong khi Scott (1994) chỉ ra rằng thuyền buôn Maynila từng lấy hàng từ Tondo và chi phối hoạt động thương mại trên toàn quần đảo. Cư dân các đảo khác gọi tàu Maynila là "Sina" (hoặc "Sinina") vì chúng chuyên chở hàng hóa Trung Hoa.

Vàng như một loại tiền tệ

Piloncitos (vàng cốm khắc ký tự Baybayin "Ma") cùng nhẫn vàng từng là những hình thức tiền tệ thời kỳ đầu.

Người Philippines thời kỳ đầu giao thương với các đảo lân cận qua hình thức trao đổi hàng hóa. Sự bất tiện trong trao đổi hàng hóa đã dẫn đến việc dùng các vật thể làm phương tiện trung gian. Nguồn vàng dồi dào trên các đảo được dùng chế tạo các vật phẩm này, bao gồm Piloncitos, những hạt vàng nhỏ được coi là đồng tiền cổ nhất của người Philippines, và nhẫn vàng dùng trong giao thương.

Piloncitos là những thỏi vàng nhỏ bằng hạt ngô, nặng từ 0,09 đến 2,65 gam, trong đó loại lớn nhất xấp xỉ trọng lượng một khối. Các hiện vật Piloncitos tìm thấy tại Mandaluyong, Bataan, ven sông Pasig và Batangas, cùng ghi chép của Tây Ban Nha năm 1586, đã chứng minh hoạt động khai thác và chế tác vàng tại đây:

Người dân trên hòn đảo này (Luzon) rất khéo léo trong việc xử lý vàng. Họ cân vàng với kỹ năng và sự tinh tế chưa từng thấy. Điều đầu tiên họ dạy con cái là kiến ​​thức về vàng và các loại cân mà họ dùng để cân vàng, vì họ không có loại tiền nào khác.

Bên cạnh piloncitos, người Tondo từng sử dụng nhẫn Barter, những thỏi vàng gần như nguyên chất dạng vòng, kích thước lớn hơn bánh rán. Loại tiền này lưu hành tại Philippines cho đến thế kỷ 16.

Nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp

Tondo từng chủ yếu được biết đến là cộng đồng thủy sản, tương tự các vùng lân cận như Palanyag hay Tambobong. Vùng nước Tondo xưa trong sạch, dồi dào hải sản, thúc đẩy các phương pháp chế biến cá như phơi khô (tuyo) và hun khói (tinapa). Ngư dân dùng thuyền nhẹ khai thác hải sản, còn người Tondo thu hoạch thêm tre.

Quan hệ đối ngoại

Nằm trong quần đảo Philippines

Maynila

Do nằm liền kề, Tondo có mối quan hệ mật thiết và phức tạp với Maynila. Tondo và Maynila đóng vai trò trung tâm thương mại then chốt đối với hàng hóa Trung Quốc: cảng Tondo kiểm soát việc nhập khẩu, còn Maynila chịu trách nhiệm bán lẻ đến các khu định cư trên khắp quần đảo. Dù sử liệu ghi nhận Maynila là "Vương quốc Luzon", các học giả như Potet và Alfonso cho rằng danh xưng ngoại lai này chỉ toàn bộ khu vực Vịnh Manila, từ Bataan, Pampanga đến Cavite và Tondo. Nhờ liên minh chung, Rajah của Maynila và Lakan của Tondo đều gây ảnh hưởng chính trị (dù không kiểm soát lãnh thổ) lên nhiều khu định cư thuộc Bulacan và Pampanga ngày nay.

Năm 1521, tài liệu của Hoàng tử Ache (sau là Rajah Matanda) ghi nhận cuộc tranh chấp lãnh thổ gay gắt giữa Maynila, do mẹ ông cai trị, và Tondo, do anh họ ông nắm quyền. Xung đột buộc Ache trốn sang Brunei nhờ người chú là Sultan viện trợ quân sự chống Tondo.

Butas, Tambobong và Macabebe

Dù quan hệ giữa Tondo và các vùng lân cận phía bắc chưa rõ ràng, tài liệu ẩn danh năm 1571 (do Blair và Robertson dịch) cho thấy Butas (nay là Navotas) đã hoạt động độc lập với Tondo và liên minh với thủ lĩnh Macabebe trong Trận Bangkusay. Nhiều nguồn xác định Tambobong, nằm ở phía bắc Navotas, chính là tiền thân của thành phố Malabon ngày nay.

Bên ngoài quần đảo Philippines

Java

Bản khắc đồng Laguna (k. 900 SCN), viết bằng chữ Kawi gốc Java, là nguồn tư liệu chính về lịch sử Tondo. Văn khắc sử dụng tiếng Mã Lai cổ, kết hợp yếu tố Phạn, Java cổ và có nhiều từ tương đồng với tiếng Tagalog. Dấu vết hiếm hoi này cho thấy ảnh hưởng của người Java đã lan tới tận Luzon, phản ánh sự giao lưu liên đảo thời bấy giờ.

Nhà nhân chủng học Hà Lan Antoon Postma xác định Bản khắc đồng Laguna chứa các địa danh tương ứng với một số nơi ở Philippines ngày nay, bao gồm Tundun (Tondo), Pailah (Paila), Binwangan (Binuangan) và Puliran (Pulilan). Địa danh Mdaŋ có thể tương ứng với Vương quốc Mataram ở Java (thuộc Indonesia ngày nay) vào k. thế kỷ 9–10, song mối quan hệ giữa Tondo và Java hiện vẫn chưa rõ.

Dòng thời gian các sự kiện lịch sử

Xung đột với Maynila (trước năm 1521)

Theo ghi chép của đoàn thám hiểm Magellan từ lời kể của Rajah Matanda, Maynila và Tondo từng tranh chấp lãnh thổ trước năm 1521.

Lúc đó, mẹ của Rajah Matanda trở thành người cai trị tối cao Maynila, kế vị cha ông (được cho là Salalila) qua đời khi ông còn nhỏ. Tên của cả hai đều không được sử sách ghi lại. Rajah Matanda (khi đó là "Hoàng tử trẻ" Ache) lớn lên cùng người anh họ cai trị Tondo. Dù từng được cho là Bunao Lakandula, nhà sử học Ian Christopher Alfonso (nghiên cứu năm 2016) xác định người này là Malanci (hoặc Malangsi), con của chú dì Ache (Hoàng tử Balagtas và Panginoan) theo "Di chúc của Fernando Malang Balagtas", qua đó củng cố giả thuyết này. Tài liệu tiếng Tây Ban Nha không ghi rõ danh tính người anh họ lớn tuổi.

Lúc này, Ache nhận ra người anh họ, lãnh chúa Tondo, đã ngầm lợi dụng mẹ ông để chiếm đoạt đất đai Maynila. Khi Ache xin xử lý vấn đề, mẫu hậu từ chối và khuyên hoàng tử im lặng. Không chấp nhận điều này, Hoàng tử Ache cùng các thân tín của cha rời Maynila sang Brunei cầu viện Quốc vương, người ông nội của mình. Quốc vương đáp lại bằng việc phong Ache làm chỉ huy hải quân.

Năm 1521, trên đường về Maynila sau chiến thắng cùng hải quân Brunei, Hoàng tử Ache đã đụng độ và tấn công tàn dư đoàn thám hiểm Magellan do Sebastián Elcano chỉ huy. Theo nhiều nhà sử học, Ache quyết định tấn công nhằm mở rộng hạm đội, dùng làm đòn bẩy đối đầu người anh em họ cai trị Tondo khi ông trở về Lusong và Maynila.

Bị loại khỏi trận chiến Manila (tháng 5 năm 1570)

Khi đánh chiếm vịnh Manila, Tây Ban Nha ban đầu bỏ qua Tondo để tập trung vào Manila, nơi sở hữu các công sự mà Tondo không có.

Dù có mặt tại Philippines từ năm 1521, người Tây Ban Nha chỉ đến vùng Vịnh Manila vào năm 1570, khi Miguel López de Legazpi cử Martín de Goiti đi xác minh báo cáo về một khu định cư Moro trù phú trên đảo Luzon.

Giữa năm 1570, De Goiti được Rajah Matanda, người cai trị Maynila, nồng nhiệt đón tiếp. Là cựu chỉ huy thủy quân Brunei, ông từng giao thiệp với đoàn Magellan cuối năm 1521. Tuy nhiên, đàm phán tan vỡ khi thủ lĩnh Rajah Sulayman đến và tỏ thái độ đối đầu gay gắt với người Tây Ban Nha, khẳng định người Tagalog quyết không dễ dàng từ bỏ tự do như người Visayan xăm mình. Theo ghi chép của phái đoàn De Goiti, dù thủ lĩnh Lakandula của Tondo chủ động tìm cách thương lượng ngay từ đầu, De Goiti vẫn phớt lờ để tập trung vào Maynila. Nơi đây được Legaspi chọn làm trụ sở nhờ có hệ thống phòng thủ kiên cố, trái ngược với Tondo.

Ngày 24 tháng 5 năm 1570, đàm phán đổ vỡ. Theo ghi chép phía Tây Ban Nha, tàu của họ đã bắn đại bác ra hiệu cho các thuyền thám hiểm quay về. Dù tuyên bố có đúng hay không, giới cai trị Maynila vẫn xem đây là sự gây hấn, khiến Sulayman ra lệnh tấn công quân Tây Ban Nha trong thành phố. Trận chiến nhanh chóng khép lại khi khu định cư Maynila bị thiêu tàn.

Theo sử liệu Tây Ban Nha, De Goiti đã ra lệnh phóng hỏa, song các nhà sử học ngày nay vẫn còn tranh cãi về tính xác thực của điều này. Một số nhà sử học cho rằng quân Maynila có thể đã tự đốt khu định cư, do tiêu thổ là chiến thuật quân sự phổ biến tại Philippines thời bấy giờ.

Thay mặt Tây Ban Nha, De Goiti tuyên bố chiến thắng và chủ quyền tượng trưng tại Maynila, rồi nhanh chóng rút về với Legaspi do bị áp đảo lực lượng. Tác giả đương thời cho rằng tàn quân Maynila sẽ vượt sông tháo chạy sang Tondo và các vùng lân cận.

Thành lập Maynila (tháng 5 năm 1571)

Năm 1571, López de Legazpi đích thân trở lại khẳng định yêu sách của Tây Ban Nha đối với Maynila. Lần này, Lakandula tiếp cận quân Tây Ban Nha trước, rồi đến Rajah Matanda. Sử liệu cho thấy Rajah Sulayman ban đầu tránh đàm phán với Tây Ban Nha vì e ngại xung đột.

Ngày 19 tháng 5 năm 1571, López de Legazpi đạt thỏa thuận với Rajah Matanda và Lakandula để dùng Maynila làm căn cứ hoạt động. Tài liệu Tây Ban Nha ghi nhận Sulayman nối lại đàm phán bằng lời xin lỗi về những hành động hung hăng năm trước, viện lý do "bốc đồng tuổi trẻ". Sau đàm phán, Lakandula đồng ý cùng De Goiti thám hiểm Bulacan và Pampanga nhằm đề nghị giao hảo với các chính thể vốn là đồng minh thân thiết của Tondo và Maynila. Những phản ứng trái chiều này leo thang thành Trận chiến Kênh Bangkusay.

Trận chiến kênh Bangkusay (tháng 6 năm 1571)

Trận chiến Kênh Bangkusay ngày 3 tháng 6 năm 1571 là đợt kháng chiến cuối cùng của dân địa phương chống Đế quốc Tây Ban Nha đô hộ Manila. Thủ lĩnh Macabebe Tarik Sulayman từ khước liên minh và chủ động tiến công quân Tây Ban Nha của Miguel López de Legazpi tại kênh Bangkusay, song bị đánh bại và tử trận. Thắng lợi tại Bangkusay cùng liên minh Legaspi - Lakandula giúp Tây Ban Nha làm chủ toàn bộ thành phố và các vùng phụ cận.

Thất bại tại Bangkusay làm suy yếu sức kháng cự ven sông Pasig, giúp Tây Ban Nha nhanh chóng xác lập quyền cai trị.

Âm mưu Tondo (1587–1588)

Âm mưu Tondo (1587–1588), còn gọi là "Cuộc nổi dậy Lakans" hay "Âm mưu Maharlikas", là cuộc chống ách cai trị Tây Ban Nha do giới quý tộc Tagalog và Kapampangan tại Manila, Bulacan và Pampanga thực hiện. Sau khi quy phục Tây Ban Nha, các thủ lĩnh bản địa bị hạ cấp thành người thu cống nạp hoặc Encomendero thuộc quyền Thống đốc. Cuộc khởi nghĩa do Agustín de Legazpi lãnh đạo. Ông là con của một Maginoo (thủ lĩnh) Tondo và người mẹ Tây Ban Nha, được đặt tên theo tiếng Tây Ban Nha nhằm xoa dịu thực dân. Agustín là cháu của nhà chinh phục Miguel López de Legazpi cùng thủ lĩnh Lakandula, đồng thời là anh họ của Martin Pangan. Các datu thề vũ trang nổi dậy, nhưng thất bại do bị Antonio Surabao ở Calamianes phản bội, tố giác với chính quyền Tây Ban Nha. Người đứng đầu cuộc mưu phản là Don Agustín de Legazpi, cháu lai của nhà chinh phục Legazpi, cháu Lakandula và họ hàng Rajah Matanda. Là người Moro, ông là con rể Quốc vương Bolkiah xứ Brunei và là anh họ của Martín Panga, gobernadorcillo xứ Tondo.

Ngoài hai người, các thủ lĩnh khác là Magat Salamat, con trai của Lakandula và là người cai trị Tondo; Juan Banal, một người cai trị khác của Tondo và là anh rể của Salamat; Geronimo Basi và Gabriel Tuambacar, anh em của Agustín de Legazpi; Pedro Balingit, Chúa tể của Pandakan; Felipe Salonga, Lãnh chúa Polo; Dionisio Capolo (Kapolong), Lãnh chúa Kandaba và anh trai của Felipe Salonga; Juan Basi, Chúa tể của Tagig; Esteban Taes (cũng là Tasi), Chúa tể của Bulakan; Felipe Salalila, Chúa tể của Misil (Maysilo); Agustín Manuguit, con trai của Felipe Salalila; Luis Amanicaloa, một người cai trị khác của Tondo; Felipe Amarlangagui, chỉ huy trưởng Katanghalan; Omaghicon, Bộ trưởng Nabotas, và Pitongatan (Pitong Gatang), một người cai trị khác của Tondo và hai thống đốc từ Malolos và Guiguinto.

Nguồn đáng chú ý

Nguồn chính

Bản khắc trên tấm đồng Laguna (k. 900 CN)

Bản khắc trên tấm đồng Laguna (k. 900). Đây là tài liệu lịch sử đầu tiên đề cập đến Tondo.

Tondo xuất hiện lần đầu trong Bản khắc trên tấm đồng Laguna (LCI) vào năm Saka 822 (khoảng năm 900), văn bản pháp lý bằng tiếng Kawi cổ nhất Philippines.

Phần đầu của tài liệu nêu rằng:

Nhân dịp này, Phu nhân Angkatan và em trai bà, tên là Bukah, con của Ngài Namwaran đáng kính, đã được Senepati của Tundun, với tước hiệu là Ngài Chúa tể Pailah, Jayadewa, trao tặng một văn bản ân xá hoàn toàn.

Đây là văn bản xác nhận Namwaran được Thủ lĩnh và Chỉ huy Tundun xóa khoản nợ tương đương khoảng 926,4 gam vàng theo quy đổi hiện này.

Văn bản nêu thêm các địa danh Philippines cùng người cai trị: Pailah (Lãnh chúa Jayadewa), Puliran Kasumuran (Tướng quân) và Binwangan (khuyết danh). Pailah, Puliran Kasumuran và Binwangan được cho là các thị trấn Paila, Pulilan và Binwangan ở Bulacan, song Pailah cũng có thể đề cập đến Pila, Laguna. Nghiên cứu ngôn ngữ gần đây cho thấy thuật ngữ tiếng Mã Lai cổ Puliran Kasumuran dùng để chỉ hồ Laguna de Ba'i ngày nay.[cần dẫn nguồn] Trong đó, Kasumuran xuất phát từ gốc sumur, nghĩa là giếng, suối hoặc nguồn nước ngọt. Vì vậy, ka-sumur-an chỉ nguồn nước, cụ thể là hồ nước ngọt Puliran.[cần dẫn nguồn] Tuy không nêu rõ mối quan hệ với các nhà cai trị khác, tài liệu cho thấy Thủ lĩnh Tundun giữ vị thế cao hơn.[cần nguồn tốt hơn]

Các ghi chép trực tiếp từ Tây Ban Nha (1521 – cuối những năm 1500)

Các sự kiện tại đồng bằng sông Pasig vào những năm 1500 được người Tây Ban Nha ghi chép qua các thư từ ("relaciones").

Hầu hết các sự kiện này diễn ra sau năm 1571–1572, khi lực lượng do Martín de Goiti và Miguel de Legazpi chỉ huy đến Vịnh Manila. Nhiều tài liệu về cuộc thám hiểm Legazpi ghi nhận điều này, gồm ghi chép của công chứng viên Hernando de Riquel, người kế nhiệm Guido de Lavezares và chính Legazpi.

Ghi chép về cuộc thám hiểm Magellan năm 1521 do Sebastián Elcano chỉ huy cũng nhắc đến Maynila, Luzon và Tondo qua việc bắt giữ một chỉ huy hải quân Brunei, người được các nhà nghiên cứu William H. Scott và Luis Dery xác định là Hoàng tử Ache (tức Rajah Matanda sau này). Các sự kiện này cùng chi tiết cuộc thẩm vấn Ache đã được Magellan và nhóm của Elcano ghi lại, gồm các thành viên Rodrigo de Aganduru Moriz, Gines de Mafra và chép thư Antonio Pigafetta.

Nhiều bản tường thuật này sau đó được xuất bản tại Tây Ban Nha, một số được dịch và biên soạn thành bộ "Quần đảo Philippines, 1493–1898" của Emma Helen Blair và James Alexander Robertson.

Từ điển Tagalog thời kỳ đầu (cuối những năm 1500 – đầu những năm 1600)

Bên cạnh ghi chép từ các cuộc thám hiểm của Tây Ban Nha, hiểu biết về văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ Tagalog thời tiền thuộc địa phần lớn đến từ các từ điển và sách ngữ pháp đầu tiên, như cuốn Arte de la lengua tagala (1610) của San José hay Vocabulario de la lengua tagala (1613) của San Buenaventura. Scott lưu ý: trong khi các relaciones tập trung vào tôn giáo, chính trị và quân sự theo mối quan tâm của giới truyền giáo và quan chức Tây Ban Nha, thì các từ điển và sách ngữ pháp lại cung cấp nguồn thông tin phong phú về văn hóa vật chất lẫn phi vật chất của người Tagalog.

Nguồn tư liệu phả hệ đáng chú ý

Tư liệu phả hệ về các nhà cai trị Tondo và Maynila (như Bunao Lakandula, Rajah Matanda, Rajah Sulayman) thời kỳ hạm đội Tây Ban Nha đến vào đầu thập niên 1570 chủ yếu là văn bản công chứng tiếng Tây Ban Nha do chính hậu duệ trực tiếp của họ lập. Ngoài tư liệu trực tiếp từ hậu duệ, một số phả hệ còn ghi nhận truyền miệng gia đình, gắn kết nhân vật với các huyền thoại địa phương. Một số tài liệu công chứng tiếng Tây Ban Nha này được lưu tại Cục Lưu trữ Quốc gia dưới nhãn "tài liệu Lakandula".

Trong công trình năm 1984 về nguồn tài liệu tiền Tây Ban Nha cho lịch sử Philippines, Scott xác định các nguồn phả hệ "bán lịch sử" ghi nhận từ thời sơ khai, bao gồm Tarsila của Sulu, Maguindanao và Tarsila Batu của Brunei.

Các lý thuyết liên quan đến Tondo cổ đại

Lakandula là một danh xưng

Thay vì là tên riêng của một cá nhân như quan niệm trước đây, các nghiên cứu mới cho thấy Lakandula là tước hiệu cha truyền con nối của các nhà cai trị Tondo.

Những người thừa kế của Bunao Lakandula

Năm 1587, Magat Salamat và Augustin de Legazpi (con và cháu của Lakandula) cùng các lãnh chúa vùng Tondo và lân cận bị xử tử vì âm mưu lật đổ thực dân Tây Ban Nha. Tương truyền, con cháu Magat Salamat định cư tại Hagonoy, Bulacan rồi lan rộng ra từ đây.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Tài liệu tham khảo lịch sử sớm nhất.
  2. ^ Được thực hành bởi một số thành viên của đẳng cấp "Maginoo", tầng lớp xã hội cao nhất (Scott, 1994)
  3. ^ Việc tham gia với tư cách "Tondo" không được đề cập rõ ràng trong những câu chuyện truyền miệng này
  4. ^ Tài liệu tham khảo lịch sử sớm nhất.
  5. ^ Cụ thể hơn, điều này có nghĩa là "những người theo dõi" của họ, hay một nhóm những người ủng hộ trung thành

Tham khảo

Đọc thêm

Thời đại Bolkiah

Thời kỳ Tây Ban Nha

Bản mẫu:Các quốc gia cũ và hiện tại ở Philippines Bản mẫu:Các vị vua chúa lịch sử của Philippines Bản mẫu:Các chủ đề liên quan đến Ấn Độ tại Philippines Bản mẫu:Châu Á trong chủ đề Bản mẫu:Châu Á trong chủ đề Bản mẫu:Châu Á trong chủ đề Lỗi Lua: bad argument #1 to 'uc' (string expected, got number).


Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Tondo” ghi đè từ khóa trước, “Tondo, Vương quốc của”.

Thống kê chỉ số

Số trận 0 (0)
Bàn thắng 0
Kiến tạo 0
Cú sút 0
Thẻ vàng 0
Thẻ đỏ 0
NL
✦ Đối Tác Công Nghệ Số
Ngọc Lợi Digital
Kỹ Sư Giải Pháp Số & Marketing Toàn Diện
🏆
500+
Dự án
⚡
<1.5s
Tốc độ web
🏛
100%
BCT duyệt
🔧
24/7
Hỗ trợ KT
🎁 Tư vấn miễn phí còn
05 GIỜ : 49 PHÚT : 56 GIÂY
Tư Vấn Ngay → 0388 810 316
QUẢNG CÁO

0388 810 316 Tư vấn miễn phí
NL