Andrian Kraev
Số áo #6Midfielder
Bulgaria
Câu lạc bộ hiện tại
Hapoel Tel Aviv
Clubhouse
Thông tin chi tiết (Wikipedia)
| Tập tin:Hapoel Tel Aviv F.C.png | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Hapoel Tel Aviv | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | Hapoel The Reds Workers | |||
| Tên ngắn gọn | HTA | |||
| Thành lập | 1923 | |||
| Sân | Sân vận động Bloomfield, Tel Aviv, Israel | |||
| Sức chứa | 29.400 | |||
| Chủ sở hữu | Edmond M. Safra | |||
| Người quản lý | Elyaniv Barda | |||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Israel | |||
| 2024–25 | Liga Leumit, hạng 1 trên 16 (thăng hạng) | |||
| Website | www | |||
|
| ||||
Câu lạc bộ bóng đá Hapoel Tel Aviv (tiếng Hebrew: מועדון כדורגל הפועל תל אביב) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Israel có trụ sở tại Tel Aviv, thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Israel. Sân nhà truyền thống của câu lạc bộ là Sân vận động Bloomfield. Tính đến nay, câu lạc bộ đã giành 13 chức vô địch quốc gia và 16 Cúp Quốc gia. Năm 1967, Hapoel Tel Aviv trở thành câu lạc bộ đầu tiên vô địch Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á.
Kể từ năm 1995, câu lạc bộ đã thi đấu tại các giải đấu cấp câu lạc bộ châu Âu và có thứ hạng cao nhất trong số các câu lạc bộ Israel, với một số thành tích nổi bật như các chiến thắng trước Chelsea, Milan, Hamburg, Paris Saint-Germain, Benfica, Rangers và Celtic. Đây cũng là một trong ba đội bóng Israel từng giành quyền tham dự vòng bảng UEFA Champions League, và là một trong hai đội là thành viên thường của Hiệp hội Câu lạc bộ châu Âu.
Tên câu lạc bộ, "Hapoel", có nghĩa là "Người lao động", và cùng với huy hiệu búa liềm màu đỏ, thể hiện mối liên hệ của câu lạc bộ với chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phục quốc Do Thái lao động và giai cấp công nhân. Trong bảy thập niên, câu lạc bộ thuộc sở hữu của Histadrut, trung tâm công đoàn quốc gia của Israel.
Lịch sử
Thời kỳ Ủy trị Anh
Hapoel Tel Aviv F.C. ban đầu được thành lập vào năm 1923, nhưng giải thể không lâu sau đó. Câu lạc bộ được tái lập vào năm 1925, rồi lần thứ ba vào tháng 5 năm 1926. Năm 1927, câu lạc bộ sáp nhập với Allenby F.C., tạo nên hình thức hiện đại của câu lạc bộ. Đây là một phần của hiệp hội thể thao Hapoel, vốn liên kết với Histadrut, và các cổ động viên của câu lạc bộ thường được gọi là những người cộng sản.
Năm 1928, câu lạc bộ vào đến chung kết Cúp Palestine (giải đầu tiên được Hiệp hội bóng đá Israel công nhận). Dù họ đánh bại Maccabi Hasmonean Jerusalem 2–0, Hapoel đã sử dụng một cầu thủ không đủ tư cách, dẫn đến việc chiếc cúp được chia sẻ.
Mùa 1933–34 chứng kiến câu lạc bộ giành cú đúp, kết thúc với tư cách vô địch Palestine League, toàn thắng mọi trận đấu, là câu lạc bộ Palestine duy nhất đạt được thành tích như vậy, đồng thời vô địch cúp sau khi đánh bại đối thủ địa phương Maccabi Tel Aviv 3–2 trong trận chung kết. Mùa 1934–35 chứng kiến Hapoel dẫn đầu bảng xếp hạng, nhưng giải vô địch bị hủy bỏ và họ không được tuyên bố là nhà vô địch. Mùa 1937–38 cũng kết thúc theo cách tương tự, khi Hapoel đứng đầu giải nhưng mùa giải bị hủy bỏ. Trong thời gian đó, câu lạc bộ lại vô địch cúp vào các năm 1937, 1938 và 1939, và vẫn là câu lạc bộ duy nhất giành danh hiệu này trong ba mùa liên tiếp (dù Không quân Hoàng gia Anh từng vô địch bốn mùa liên tiếp từ năm 1924 đến 1927, các chức vô địch trước năm 1928 không được IFA công nhận).
Năm 1939–40, họ giành chức vô địch thứ hai. Mùa giải tiếp theo, không có giải vô địch quốc gia nào được tổ chức, nhưng câu lạc bộ vô địch giải đấu dành cho các câu lạc bộ liên kết với Hapoel. Họ giành chức vô địch thứ ba trong mùa 1943–44, và năm sau đó vô địch giải khu vực phía bắc, cũng như giải sau này được gọi là "War Cup", vốn bị các câu lạc bộ liên kết với Beitar tẩy chay. Trong trận chung kết cúp, Hapoel đang dẫn Hapoel Petah Tikva 1–0, nhưng trận đấu bị hủy ở phút 89 khi một cầu thủ Petah Tikva từ chối rời sân sau khi bị truất quyền thi đấu vì xúc phạm trọng tài.
Nhà nước Israel
Sau khi Israel độc lập, Hapoel gia nhập Giải bóng đá Israel mới. Họ vô địch mùa 1956–57 và giành Cúp Quốc gia năm 1961, đánh bại Hapoel Petah Tikva 2–1.
Trong mùa giải 1965–66, Hapoel giành chức vô địch và đủ điều kiện tham dự Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á đầu tiên. Tại giải đấu này, Hapoel được miễn đấu cho đến trận chung kết, nơi họ đánh bại Selangor 2–1 để trở thành nhà vô địch câu lạc bộ đầu tiên của châu Á. Câu lạc bộ cũng vào chung kết Cúp Quốc gia năm đó, nhưng thua Maccabi Tel Aviv 2–1.
Hapoel lại vô địch vào mùa 1968–69, và một lần nữa đủ điều kiện tham dự Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á. Dù vào đến chung kết, họ thua 2–1 trước đội bóng Iran Taj Tehran (trong thời kỳ Iran và Israel có quan hệ ngoại giao). Họ lại giành Cúp Quốc gia năm 1972, đánh bại Hapoel Jerusalem 1–0 trong trận chung kết, nhưng không giành thêm chức vô địch quốc gia cho đến mùa 1980–81, khi họ bỏ lỡ cú đúp sau khi thua chung kết cúp 4–3 trên chấm luân lưu (sau trận hòa 2–2) trước Bnei Yehuda. Mùa giải tiếp theo, họ lại vào chung kết cúp, nhưng thua Hapoel Yehud 1–0. Chuỗi ba trận thua chung kết cúp được tránh khỏi khi họ đánh bại Maccabi Tel Aviv 3–2 trong trận chung kết năm 1982.
Một chức vô địch khác đến vào mùa 1985–86, và thêm một lần nữa vào mùa 1987–88. Tuy nhiên, mùa giải tiếp theo Hapoel kết thúc cuối bảng (bị trừ bốn điểm vì vi phạm quy định ngân sách) và phải xuống hạng nhì lần đầu tiên trong lịch sử.
Câu lạc bộ lập tức trở lại hạng đấu cao nhất với tư cách á quân Liga Artzit, dù họ chỉ vượt qua Maccabi Yavne để giành suất thăng hạng thứ hai nhờ hiệu số bàn thắng bại. Mùa 1997–98, Hapoel xếp thứ hai và giành quyền tham dự châu Âu lần thứ hai. Tại Cúp UEFA 1998–99, Hapoel loại FinnPa, trước khi thua Strømsgodset trên chấm luân lưu. Cùng mùa giải, họ giành Cúp Quốc gia, đánh bại Beitar Jerusalem 3–1 trên chấm luân lưu sau trận hòa 1–1.
Thế kỷ 21

Mùa giải 1999–2000 chứng kiến Hapoel giành cú đúp, với chức vô địch đầu tiên sau hơn một thập niên và Cúp Quốc gia (lại đánh bại Beitar Jerusalem trên chấm luân lưu). Tuy nhiên, họ không thể vào vòng bảng Champions League sau khi thua Sturm Graz với tổng tỉ số 5–1. Họ xếp thứ hai tại giải vô địch vào các mùa 2000–01 và 2001–02, rồi xếp thứ ba mùa 2002–03, qua đó đều giành quyền dự Cúp UEFA. Tại Cúp UEFA 2001–02, Hapoel vào đến tứ kết sau khi loại Chelsea, Lokomotiv Moscow và Parma. Dù đánh bại A.C. Milan 1–0 ở lượt sân nhà (trận đấu phải diễn ra tại Sân vận động GSP ở Síp vì UEFA không cho phép tổ chức các trận đấu tại Israel do lý do an ninh), Hapoel thua lượt sân khách 2–0.
Năm 2002, câu lạc bộ giành Toto Cup đầu tiên. Họ vô địch Cúp Quốc gia năm 2006, đánh bại Bnei Yehuda 1–0 trong trận chung kết, và cũng vô địch mùa giải tiếp theo, khi đánh bại đội hạng nhì Hapoel Ashkelon trên chấm luân lưu. Họ lại vào chung kết mùa 2007–08, nhưng thua Beitar Jerusalem 5–4 trên chấm luân lưu sau trận hòa 0–0.
Mùa 2009–10, câu lạc bộ giành cú đúp, đoạt Cúp Quốc gia sau chiến thắng 3–1 trước Bnei Yehuda. Chức vô địch được giành sau một trận đấu kịch tính với Beitar Jerusalem ở ngày cuối mùa, khi Eran Zahavi ghi bàn quyết định danh hiệu ở phút bù giờ thứ hai. Câu lạc bộ cũng có một mùa giải thành công tại Europa League, đứng đầu bảng trước khi thua Rubin Kazan ở vòng hai. Mùa giải tiếp theo, họ lần đầu tiên vào vòng bảng Champions League, nhưng không thể đi tiếp vào vòng sau. Cùng mùa giải đó, đội xếp thứ hai và giành Cúp Quốc gia Israel lần thứ hai liên tiếp.

Đầu mùa 2011–12, phần lớn các cầu thủ thành công của đội rời đi và chuyển sang châu Âu, đồng thời huấn luyện viên Eli Guttman cũng ra đi. Huấn luyện viên huyền thoại của câu lạc bộ, Dror Kashtan, trở lại và các cầu thủ mới gia nhập như một phần của việc chuyển giao quyền sở hữu câu lạc bộ cho Eli Tabib. Trong mùa giải, có căng thẳng giữa huấn luyện viên Dror Kashtan và Eli Tabib, dẫn đến việc huấn luyện viên rời đi; huấn luyện viên hiện tại được bổ nhiệm thay thế là Nitzan Shirazi, người dẫn dắt đội giành Cúp Quốc gia Israel lần thứ ba liên tiếp. Sau các cuộc biểu tình quy mô lớn của cổ động viên phản đối chủ sở hữu câu lạc bộ Tabib và cách điều hành thiếu chuyên nghiệp của ông, ông quyết định rời câu lạc bộ sau một năm và bán đội cho Haim Ramon cùng quỹ tín thác cổ động viên có tên "Haadumim", nghĩa là "The Reds" trong tiếng Hebrew, được thành lập vào mùa hè năm 2012 và huy động 2 triệu shekel để nắm 20% quyền sở hữu. Phần còn lại của câu lạc bộ được bán cho một số doanh nhân khác. Tổng cộng câu lạc bộ được bán vào mùa hè năm 2012 với giá 12 triệu NIS (khoảng 3 triệu USD). Đầu mùa 2012–13, Yossi Abuksis được bổ nhiệm làm huấn luyện viên thay cho Nitzan Shirazi, người được bổ nhiệm làm giám đốc chuyên môn vì lý do sức khỏe. Ngày 1 tháng 7 năm 2015, câu lạc bộ được Amir Gross Kabiri mua lại. Do các vấn đề tài chính, Kabiri và câu lạc bộ chia tay. Năm 2023, nhóm Mintzberg được công bố là chủ sở hữu mới.
Sân vận động
Sân vận động Bloomfield

Sau khi thi đấu tại ba sân vận động khác nhau, câu lạc bộ chuyển đến Sân vận động Basa vào năm 1950, sau Chiến tranh Ả Rập–Israel 1948. Năm 1962, sân được cải tạo nhờ khoản quyên góp từ gia đình Bloomfield, từ đó nhận tên chính thức. Sân thuộc sở hữu của chi nhánh Histadrut tại Tel Aviv, cũng là chủ sở hữu của Hapoel, dù ngày nay đây là sân vận động đô thị.
Sân vận động nằm tại Jaffa, là phiên bản nâng cấp của sân vận động cũ có tên "Basa". Trận đấu đầu tiên tại Bloomfield diễn ra vào ngày 12 tháng 12 năm 1962 gặp FC Twente, kết thúc với tỉ số hòa 1–1. Sân vận động hiện được dùng chung với các đối thủ cùng thành phố là Maccabi (chuyển đến sân này năm 1963) và Bnei Yehuda (từ năm 2004).
Khán đài chính của cổ động viên Hapoel là cổng 5, nơi Ultras Hapoel dẫn dắt cổ vũ, trong khi cổ động viên đội khách ngồi đối diện, tại cổng 11. Một cổng truyền thống khác của cổ động viên Hapoel là cổng 7.
Cổ động viên và chính trị

Câu lạc bộ là biểu tượng của cánh tả Israel. Đây là câu lạc bộ cuối cùng cắt đứt các liên hệ chính thức với chính trị, trong trường hợp này là phong trào công đoàn và Đảng Lao động Mapai có khuynh hướng Dân chủ xã hội ôn hòa, cũng như các đảng cấp tiến hơn như Đảng Marxist Mapam, tiền thân của nó là Đảng Công nhân Hashomer Hatzair, và Đảng Cộng sản Israel Marxist-Leninist (Maki).
Ultras Hapoel thường phất những lá cờ in gương mặt Che Guevara và Karl Marx, cũng như các biểu ngữ với khẩu hiệu "Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!" Nhóm ultras của câu lạc bộ có quan hệ hữu nghị với nhiều nhóm cổ động viên antifa khác, bao gồm các mối liên hệ bền chặt với cổ động viên FC St. Pauli, Standard Liège và Omonia Nicosia. Tháng 5 năm 2013, các thành viên Ultras thành lập ban nhạc "Lea Katmin", chuyên hát các bài hát từ khán đài cổ động viên.
Một cuộc khảo sát của Haaretz công bố vào tháng 6 năm 2011 xác định Hapoel Tel Aviv là đội bóng phổ biến thứ hai trong số người Ả Rập Israel, sau Maccabi Haifa.
Một cuộc khảo sát khác được Yedioth thực hiện vào tháng 3 năm 2012 cho thấy Hapoel là đội bóng phổ biến thứ tư trong số cổ động viên bóng đá Israel (19%). Cùng khảo sát cho thấy 32% cư dân Tel Aviv ủng hộ đội bóng.
Cổ động viên nổi tiếng nhất của Hapoel là Arik Einstein, người đã nhắc đến câu lạc bộ trong một số bài hát của mình, và sau cú đúp của câu lạc bộ vào năm 2000, ông hát bài ca vô địch "My Red Team" của họ.
Kình địch
Kình địch với Maccabi Tel Aviv
Đối thủ chính của Hapoel là Maccabi Tel Aviv, sự kình địch giữa hai đội được gọi là derby Tel Aviv.
Kình địch với Beitar Jerusalem
Một sự kình địch khác là với Beitar Jerusalem, vốn là một sự kình địch chính trị, vì đội này được xem (và tự xem mình) là đội bóng của cánh hữu cực đoan Israel.
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2026
|
|
Cầu thủ được cho mượn
|
|
Tuyến trẻ
|
|
Ngoại binh 2025–26
Trong mùa giải 2025–26 của Giải bóng đá Ngoại hạng Israel, mỗi câu lạc bộ được phép đăng ký tối đa tám cầu thủ nước ngoài trong đội hình cấp cao. Cả tám cầu thủ nước ngoài đã đăng ký đều đủ điều kiện thi đấu đồng thời trong một trận đấu. Quy định này đánh dấu sự tăng lên so với các mùa giải trước, khi các câu lạc bộ bị giới hạn ở sáu cầu thủ nước ngoài. Những cầu thủ có quốc tịch Israel hoặc quyền cư trú thường trú, bao gồm những người đủ điều kiện thông qua nguồn gốc Do Thái, kết hôn với công dân Israel, hoặc cư trú lâu dài và tham gia bóng đá Israel, được phân loại là cầu thủ Israel và không được tính vào hạn ngạch cầu thủ nước ngoài.
Đội trưởng câu lạc bộ
| Năm | Tên |
|---|---|
| 1951 | |
| 1967 | |
| 1971 | |
| 1972–1979 | |
| 1983–1987 | |
| 1990 | |
| 1993–1994 | |
| 1994–1995 | |
| 1995–1997 | |
| 1997–1999 | |
| 1999–2006 | |
| 2006–2007 | |
| 2007–2013 | |
| 2013–2015 | |
| 2015–2016 | |
| 2016 | |
| 2016–2018 | |
| 2018–2020 | |
| 2020–2021 | |
| 2021–2024 | |
| 2024–2025 | |
| 2025– |
Cựu cầu thủ đáng chú ý
Ra sân nhiều nhất
| Vị trí | Tên | Giai đoạn | Trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 1974–92 | 454 | 12 | |
| 2 | 1968–85 | 430 | 0 | |
| 3 | 1964–79 | 368 | 142 | |
| 4 | 1999–09
2012-14 |
351 | 9 | |
| 5 | 1996–07 | 344 | 0 | |
| 6 | 1966–80 | 332 | 30 | |
| 7 | 1964–77 | 324 | 97 |
Ghi bàn nhiều nhất tại giải vô địch
| Vị trí | Tên | Giai đoạn | Trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 1964–79 | 368 | 142 | |
| 2 | 1964–77 | 324 | 97 | |
| 3 | 1980–89
1990-93 |
290 | 87 | |
| 4 | 1951–65 | 78 | ||
| 5 | 2011–14
2018-2020 |
115 | 59 | |
| 6 | 1977–88 | 247 | 58 | |
| 7 | 1955-66
1968-69 |
55 |
Huấn luyện viên và ban quản lý
| Ban huấn luyện | |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Trưởng bộ phận dữ liệu và phân tích | |
| Chuyên viên phân tích trưởng | |
| Chuyên viên phân tích | |
| Huấn luyện viên thể lực | |
| Huấn luyện viên thể lực | |
| Bộ phận y tế | |
| Bác sĩ đội bóng | |
| Nhà vật lý trị liệu | |
| Chuyên viên trị liệu thể thao | |
| Chuyên viên xoa bóp | |
| Quản lý thể thao và tổ chức | |
| Giám đốc điều hành | |
| Giám đốc kỹ thuật | |
| Trưởng bộ phận tuyển trạch | |
| Hậu cần | |
| Chuyên gia dinh dưỡng | |
| Đầu bếp đội bóng | |
Lịch sử huấn luyện viên
Monia Goldstein (1947–??)
Musta Poliakov (1949–??)
Zvi Erlich (1950–??)
Ivan Jazbinšek (1956–57)
Edmond Schmilovich (1958–60)
Jenő Kalmár (1960–62)
Harry Game (1963–64)
David Schweitzer (1965–66)
Yosef Merimovich (1966–68)
Rehavia Rosenbaum (1968–70)
Harry Game (1971–74)
Shimon Ben Yehonathan (1974–75)
Rehavia Rosenbaum (1975–76)
Yosef Merimovich (1977–79)
David Schweitzer (1980–82)
Zvi Rosen (1982–83)
Mordechai Spiegler (1984)
David Schweitzer (1986–87)
David Schweitzer (1989–90)
Shimon Shenhar (1990)
Moshe Sinai (1991–96)
Ya'akov Grundman (1992)
Yehoshua Feigenbaum (1993–94)
Dror Kashtan (ngày 1 tháng 7 năm 1996 – ngày 30 tháng 6 năm 1997)
Eli Cohen (ngày 1 tháng 7 năm 1997 – ngày 30 tháng 6 năm 1999)
Dror Kashtan (ngày 1 tháng 7 năm 1999 – ngày 30 tháng 6 năm 2004)
Gili Landau (tháng 6 năm 2004 – ngày 4 tháng 12)
Shmuel Hanin (ngày 15 tháng 11 năm 2004 – ngày 31 tháng 12 năm 2004)
Yehoshua Feigenbaum (tháng 12 năm 2004 – ngày 5 tháng 6 năm 2005)
Dror Kashtan (ngày 1 tháng 7 năm 2005 – ngày 31 tháng 12 năm 2005)
Itzhak Shum (ngày 1 tháng 7 năm 2006 – ngày 31 tháng 12 năm 2006)
Nir Levine (tháng 12 năm 2006 – ngày 7 tháng 6 năm 2007)
Guy Luzon (ngày 1 tháng 7 năm 2007 – ngày 15 tháng 1 năm 2008)
Eli Guttman (tháng 12 năm 2007 – ngày 25 tháng 5 năm 2011)
Dror Kashtan (ngày 4 tháng 6 năm 2011 – ngày 9 tháng 1 năm 2012)
Nitzan Shirazi (ngày 11 tháng 1 năm 2012 – ngày 27 tháng 9 năm 2012)
Yossi Abukasis (ngày 27 tháng 9 năm 2012 – ngày 17 tháng 2 năm 2013)
Freddy David (ngày 18 tháng 2 năm 2013 – ngày 18 tháng 5 năm 2013)
Ran Ben Shimon (ngày 20 tháng 5 năm 2013 – ngày 26 tháng 5 năm 2014)
Asi Domb (ngày 26 tháng 5 năm 2014 – ngày 24 tháng 1 năm 2015)
Eli Cohen (ngày 24 tháng 1 năm 2015 – ngày 5 tháng 11 năm 2015)
Guy Levy (ngày 5 tháng 11 năm 2015 – tháng 1 năm 2016)
Eli Guttman (tháng 1 năm 2016 – tháng 9 năm 2016)
Guy Luzon (tháng 9 năm 2016 – ngày 11 tháng 1 năm 2017)
Meni Koretski (ngày 11 tháng 1 năm 2017 – ngày 16 tháng 5 năm 2017)
Moti Ivanir (ngày 26 tháng 5 năm 2017 – ngày 26 tháng 10 năm 2017)
Kobi Refua (ngày 30 tháng 10 năm 2017 - ngày 26 tháng 11 năm 2018)
Ofir Haim (ngày 27 tháng 11 năm 2018 - ngày 6 tháng 1 năm 2019)
Kobi Refua (ngày 7 tháng 1 năm 2019 - ngày 16 tháng 5 năm 2019)
Nisso Avitan (ngày 16 tháng 5 năm 2019 - ngày 5 tháng 11 năm 2019)
Nir Klinger (ngày 5 tháng 11 năm 2019 - ngày 19 tháng 12 năm 2021)
Kobi Refua (ngày 19 tháng 12 năm 2021 - ngày 18 tháng 9 năm 2022)
Slobodan Drapić (ngày 19 tháng 9 năm 2022 - ngày 10 tháng 1 năm 2023)
Haim Silvas (ngày 11 tháng 1 năm 2023 - ngày 16 tháng 5 năm 2023)
Michael Valkanis (ngày 4 tháng 6 năm 2023 - ngày 30 tháng 10 năm 2023)
Borja Lema (ngày 30 tháng 10 năm 2023 - ngày 27 tháng 1 năm 2024)
Salim Tuama (tạm quyền) (ngày 27 tháng 1 năm 2024 - ngày 6 tháng 2 năm 2024)
Yossi Abukasis (ngày 6 tháng 2 năm 2024 - ngày 28 tháng 4 năm 2024)
Salim Tuama (tạm quyền) (ngày 28 tháng 4 năm 2024 - ngày 2 tháng 6 năm 2024)
Messay Dego (ngày 2 tháng 6 năm 2024 - ngày 9 tháng 12 năm 2024)
Elyaniv Barda (ngày 9 tháng 12 năm 2024 -
Danh hiệu
Quốc nội
Giải vô địch
| Danh hiệu | Số lần | Năm |
|---|---|---|
| Vô địch quốc gia | 13 | 1933–34, 1934–35, 1938–39, 1940, 1943–44, 1956–57, 1965–66, 1968–69, 1980–81, 1985–86, 1987–88, 1999–2000, 2009–10 |
Cúp
| Danh hiệu | Số lần | Năm |
|---|---|---|
| Cúp Quốc gia Israel | 16 | 1928, 1934, 1937, 1938, 1939, 1944, 1960–61, 1971–72, 1982–83, 1998–99, 1999–2000, 2005–06, 2006–07, 2009–10, 2010–11, 2011–12 |
| Toto Cup (hạng đấu cao nhất) | 1 | 2001–02 |
| Siêu cúp Israel | 5 | 1957, 1966, 1969, 1970, 1981 |
Quốc tế
| Danh hiệu | Số lần | Năm |
|---|---|---|
| AFC Champions League | 1/1 | Vô địch:1967
Á quân:1970 |
Khác
| Danh hiệu | Số lần | Năm |
|---|---|---|
| Shapira Cup | 1 | 1954–55 |
Đội trẻ
| Danh hiệu | Số lần | Năm |
|---|---|---|
| Israeli Noar Premier League | 5 | 1944–45, 1965–66, 1977–78, 1980–81, 1989–90 |
| Cúp Quốc gia trẻ Israel | 8 | 1959–60, 1967–68, 1985–86, 1989–90, 1991–92, 2008–09, 2014–15, 2018–19 |
Thành tích quốc tế
Các giải đấu châu Âu
- UEFA Champions League
- Vòng bảng: 2010–11
- UEFA Europa League
Các giải đấu châu Á
- Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á
- Vô địch (1): 1967
Tham khảo
Liên kết ngoài
- Website chính thức (bằng tiếng Hebrew)
- "Ultras Hapoel" – trang web chính thức
- Shedim – diễn đàn Hapoel Tel Aviv (bằng tiếng Hebrew)
- Wikipedia cổ động viên Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Wayback Machine (bằng tiếng Hebrew)